curley_sw_03.gif (1967 bytes)  Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw_03.gif (1967 bytes)

.......... .
 

1. Kế hoạch thống trị toàn cầu của Mỹ (*)

ng-justice.jpg (39027 bytes) Phóng viên báo chí hỏi: ‘Thưa Ngài Bộ trưởng Tư pháp, định nghĩa thế nào là chủ nghĩa bành trướng?’
Bộ trưởng Ashcroft: ‘Dễ ợt, chủ nghĩa bành trướng cũng giống như bộ ngực phụ nữ sau cuộc giải phẩu thẩm mỹ vậy nè!’  Caption by Giaođiểm

     Một kế hoạch nhằm đưa Mỹ lên địa vị thống trị toàn cầu đã được soạn thảo một cách rất chi tiết hơn hai năm trước (trước khi cả ông George W. Bush đắc cử tổng thống), nhưng mới bị tiết lộ ra ngoài báo chí gần đây.  Theo kế hoạch này, yếu tố cần thiết để Mỹ có thể thống trị nguồn tài nguyên thế giới là vài biến cố lớn như trận tấn công vào Trân châu cảng hơn 50 năm về trước (nguyên văn: “some catastrophic and catalysing event - like a new Pearl Harbor”). 

     Biến cố xảy ra hôm 11 tháng 9 năm 2001 được giới chiến lược Mỹ xem là một “Tân Trân châu cảng”, là một cơ hội ngàn vàng ngàn năm có một.   Những người dầy công nghiên cứu và tìm cách khai thác biến cố 11/9 là những cựu quan chức trong Chính phủ của Tổng thống Ronald Reagan, thời gian mà các nhóm quá khích hữu khuynh và những cơ quan nghiên cứu chiến lược (“think-tanks”) được thành lập để trả thù cho sự thất bại của Mỹ ở Việt Nam.  Trong thập niên 1990s, họ có thêm một mục mới trong chương trình nghị sự: tìm cách hợp thức hóa một cuộc chiến mới sau thời kỳ Chiến tranh lạnh.  Để nghiên cứu sâu về chủ đề này, một dự án có tên là “Project for the New American Century” được thành lập, cùng với các tổ chức nghiên cứu như American Enterprise Institute, Hudson Institute, và vài nhóm nhỏ khác, hiện đang tìm cách thực hiện những tham vọng còn tồn đọng [dưới thời Tổng thống Reagan] trong thời Tổng thống George W. Bush hiện nay.

     Một trong những “nhà tư tưởng” cho George W. Bush's là Richard Perle.  Tôi (John Pilger) từng phỏng vấn Perle khi ông ta còn làm cố vấn cho Tổng thống Reagan; và lúc đó ông ta nói về một cuộc chiến tranh toàn diện  (“total war”), nhưng tôi lầm tưởng phớt lờ qua vì tôi nghĩ ông ta điên.  Nhưng mới đây, Perle lại dùng chữ đó một lần nữa để mô tả cuộc chiến chống khủng bố hiện nay.  Perle khẳng định rằng không có chiến tranh từng giai đoạn (stages war), mà là chiến tranh toàn diện.  Ông nói thêm: chúng ta đang chiến đấu với nhiều kẻ thù, kẻ thù ở khắp nơi ngoài Mỹ.  Theo Perle, việc đánh A Phú Hãn rồi mới đến Iraq là một chiến lược sai lầm; Perle muốn Mỹ ôm gọn cả thế giới không phải bằng các phương tiện ngoại giao, mà bằng chiến tranh toàn diện.  Ông mơ tưởng về tương lai, khi mà vài mươi năm sau, thế hệ con cháu ông sẽ ca ngợi sự sáng suốt của tiền nhân như ông.

     Perle là một trong những sáng lập viên của “Project for the New American Century” hay còn gọi là PNAC.   Các sáng lập viên khác gồm những người như Dick Cheney, nay là Phó tổng thống; Donald Rumsfeld, Bộ trưởng quốc phòng; Paul Wolfowitz, Thứ trưởng quốc phòng; I. Lewis Libby, Chánh văn phòng của Cheney; William J. Bennett, Bộ trưởng giáo dục thời Reagan; và Zalmay Khalilzad, Đại sứ Mỹ ở A Phú Hãn.  Đây là những tên tuổi mới của chủ nghĩa tân đế quốc.  Trong một báo cáo tựa đề “Rebuilding America's Defences: strategy, forces and resources for a new century”, nhóm PNAC soạn thảo ra một kế hoạch cho Mỹ trong tương lai.  Hai năm trước đây, PNAC đề nghị tăng thêm 48 tỉ đô-la cho ngân sách vũ khí để Hoa Thịnh Đốn có thể đánh và thắng nhiều cuộc chiến cùng một lúc.  Điều này thực ra đã xảy ra.  Trong báo cáo, PNAC còn đề nghị Mỹ nên phát triển các vũ khí hạt nhân có khả năng truy tầm và xâm nhập vào các hầm trú ẩn (gọi là “bunker-buster nuclear weapons”) và đưa chương trình “Star wars” lên một trong những ưu tiên hàng đầu cho quốc gia.  Chương trình này đang được thực hiện.  Báo cáo còn đặt ra một kế hoạch rằng nếu George W. Bush đắc cử, Iraq phải là mục tiêu quân sự.  Và Iraq đang là một đối tượng cho Mỹ gây chiến tranh.

     Về tố cáo rằng Iraq đang sản xuất các vũ khí tàn sát hàng loạt (weapons of mass destruction), báo cáo của PNAC bác bỏ đó chỉ là những cái cớ.  Bản báo cáo nhận định rằng trong khi chuyện xung đột với Iraq tự nó là một lý do cho một cuộc chiến mới, việc duy trì một lực lượng quân sự Mỹ ở vùng Vịnh sẽ làm cho vấn đề chế độ Saddam Hussein dễ giải quyết hơn.  Chiến lược vĩ mô này được thực thi như thế nào?  Một loạt bài báo trên tờ Washington Post do Bob Woodward (người từng phanh phui vụ Watergate thời Nixon) viết cho thấy biến cố 11/9 đã được khai thác ra sao.

     Sáng ngày 12 tháng 9, năm 2001, dù chưa có bằng chứng nào về gốc gác của nhóm cướp máy bay đâm vào hai tòa nhà ở New York, Donald Rumsfeld yêu cầu Mỹ tấn công Iraq.  Theo Woodward, Bộ trưởng quốc phòng Rumsfeld tuyên bố trước Nội các rằng Iraq nên là một mục tiêu đầu tiên và chủ yếu trong vòng đầu của cuộc chiến chống khủng bố.  Nhưng mục tiêu Iraq tạm thời được bỏ qua bên, vì Bộ trưởng ngoại giao Colin Powell, thuyết phục Tổng thống Bush rằng dư luận công chúng cần phải được uốn nắn trước khí tấn công Iraq (nguyên văn: “public opinion has to be prepared before a move against Iraq is possible”).  A Phú Hãn được chọn làm mục tiêu tấn công.  Nếu ước tính của Jonathan Steele (ký giả của tờ Guardian) đúng thì khoảng 20,000 (20 ngàn) người A Phú Hãn đã bỏ mạng cho những tranh luận và lựa chọn mục tiêu của Tòa Bạch Ốc.

     Hết ngày này sang tháng nọ, biến cố 11/9 được mô tả như là một cơ hội – một “opportunity”.  Theo Nicholas Lemmann viết trên tờ New Yorker (số tháng Tư, 2002), Cố vấn an ninh quốc gia, Condoleezza Rice, báo cáo với ông Bush rằng bà ta đã triệu tập một cuộc mít-tinh gồm các thành viên cao cấp của Hội đồng An ninh Quốc gia (National Security Council) và đặt vấn đề nên tận dụng biến cố 9/11 như thế nào (“to think about 'how do you capitalise on these opportunities'”), mà bà ta so sánh với những biến cố trong những năm 1945 – 1947: thời điểm khởi đầu của cuộc Chiến tranh lạnh.  Kể từ ngày 11 tháng 9, năm 2001, Mỹ đã thiết lập nhiều căn cứ quân sự tại các nước có dầu hỏa, nhất là ở vùng Trung Á.  Công ty dầu hỏa Unocal xây dựng đường ống dẫn dầu ngang qua A Phú Hãn.  Tổng thống Bush không ký vào Tuyên bố Kyoto về môi trường; quay lưng với Tòa án Quốc tế về tội phạm chiến tranh; và không ký hiệp định về hạn chế tên lửa.  Bush còn tuyên bố, nếu cần, ông sẽ dùng vũ khí hạt nhân chống những nước không có vũ khí hạt nhân.  Dưới chiêu bài tuyên truyền về Iraq có vũ khí tàn sát hàng loạt, Chính phủ Bush đang phát triển các vũ khí tàn sát hàng loạt, xem thường các quy ước quốc tế về vũ khí sinh học và vũ khí hóa học.

     Trên tờ Los Angeles Times, Nhà phân tích quân sự William Arkin mô tả một đội quân bí mật do Donald Rumsfeld thành lập, giống như đội quân do Richard Nixon và Henry Kissinger lập trước đây (nhưng bị Quốc hội cấm hoạt động).  Theo một tài liệu mật được đề trình lên Donald Rumsfeld, một nhóm mới có tên là “Proactive Pre-emptive Operations Group”, hay P2OG, sẽ khiêu khích bọn khủng bố để chúng tấn công, và sau đó Mỹ sẽ phản công lại bất cứ quốc gia nào chứa chấp bọn khủng bố.

     Nói một cách khác, nhiều người vô tội sẽ bị giết vì cái kế hoạch này.  Kế hoạch này giông giống như Chiến dịch Northwoods (Operation Northwoods) từng được đệ trình lên Tổng thống Kennedy trước đây.  Trong Kế hoạch Northwoods, giới quân sự Mỹ đề nghị tạo ra những cuộc khủng bố giả, với đánh bom, cướp phi cơ, rớt phi cơ, thậm chí gây tử vong cho dân Mỹ, để hợp thức hóa cho một cuộc xâm lăng vào Cuba.  Tổng thống Kennedy từ chối kế hoạch này.  Vài tháng sau đó, ông bị ám sát chết.  Ngay nay, Donald Rumsfeld làm sống lại Kế hoạch Northwoods, nhưng với những phương tiện quân sự mà người ta chỉ mơ đến trong thời thập niên 60s.  Cần phải nhấn mạnh rằng bạn đọc không phải đang đọc một câu chuyện tưởng tượng: những nhân vật như Perle, Rumsfeld, và Cheney, đang nắm quyền lực ở Mỹ.  Những người này đang tìm cách gây cảm tình và lấy lòng giới truyền thông.   Một trong những ưu tư hàng đầu của họ là tìm những ký giả sẵn sàng chấp nhận ý tưởng của họ.

     “Ý tưởng” ở đây là một cách nói, một mật mã cho sự giả dối.  Thật vậy, trong đời làm ký giả, chưa bao giờ tôi chứng kiến những giả dối, nói láo lan rộng khắp nơi như hiện nay.  Chúng ta có thể cười ngất ngưỡng về cái gọi là “Iraq dossier” (Hồ sơ Iraq) của Tony Blair và những lời nói láo vụng về của Jack Straw (Bộ trưởng ngoại giao Anh) rằng Iraq đã từng sản xuất bom hạt nhân, nhưng những giả dối, nói láo này càng ngày càng âm ỉ thì Chính phủ chúng ta càng có lý do để tấn công Iraq, hay gán ghép Iraq với mọi tai nạn trong thành phố, và chúng trở thành tin tức hàng ngày.  Đó không phải là tin tức; đó là những tuyên truyền đen (black propaganda).

     Tuyên truyền đen là lũng đoạn thông tin, và mục đích của nó là làm cho giới ký giả trở thành những con vẹt biết nói, chỉ lặp lại những gì chính phủ tuyên bố.  Một cuộc tấn công vào một quốc gia với 22 triệu dân đã đau khổ vì chiến tranh được đem ra thảo luận giữa các “bình luận gia” như là đề tài của một cuộc bàn thảo khoa bảng trong đại học, mà trong đó từng mảnh được xô đẩy vòng quanh bản đồ, như giới đế quốc Anh, Pháp từng làm ngày xưa.

     Đối với những người quan tâm đến nhân đạo, vấn đề đặt ra không phải là sự tàn bạo của chủ nghĩa tân đế quốc đang thống trị thế giới, nhưng Saddam Hussein là một người xấu như thế nào.   Tuy nhiên, họ không chịu thú nhận rằng quyết định tham gia vào cuộc chiến ở Iraq sẽ một cách gián tiếp niêm phong số mạng của hàng ngàn người dân vô tội ở Iraq.   Không thể nào nhân danh nhân đạo để ủng hộ một hành động giết người được.  Đó là một lối suy nghĩ kiểu ba phải và sai lầm.   Ngoài ra, sự cực đoan của một số người Mỹ có quyền thế mà chúng ta gặp phải ngày nay đã và đang rọi chiếu xuống chúng ta quá lâu để những ai có trái tim không thể nào bỏ qua được.

(*) Phỏng dịch từ bài viết “America's Bid For Global Dominance” của John Pilger, trên tờ The New Statesman, số ra ngày 12 Tháng 12, 2002.  Tác giả cám ơn Norm Dixon and Chris Floyd.  Người dịch: Nguyễn Văn.

 2. Chiến tranh và buôn bán vũ khí (Nguyễn Văn dịch)

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........