curley_sw_03.gif (1967 bytes)  Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw_03.gif (1967 bytes)

.......... .
 

Cuộc chiến không cần thiết (*)

ng-wasinton.jpg (31698 bytes) Biểu tình tại Washington -Ngày 20.3.2003, 37 quốc gia trên thế giới (Á, Âu, Mỹ châu) đã đồng loạt xuống đường chống lại tinh thần hiếu chiến của chính phủ Bush. Photos by The International Action Center

     Trong quá trình chuẩn bị chiến tranh, Chính phủ Bush đánh giá Saddam Hussein là một lãnh tụ liều lĩnh, tàn bạo, và phi lí trí. Một con người như thế, khi có vũ khí hạt nhân trong tay, sẽ trở nên không thể tiên đoán được, và có thể là một mối đe dọa cho nước Mĩ. Đó là những gì mà giới diều hâu Mĩ nói. Nhưng xem xét kĩ hành động của Hussein trong quá khứ cho thấy Hussein không phải là một con người như thế. Hussein có thể là một người hung ác và tính toán, nhưng cũng là một người có thể chế ngự được.

     Mĩ có nên tiến chiếm Iraq và lật đổ Saddam Hussein hay không? Nếu Mĩ tấn công Iraq khi bài này được đăng tải thì lí do đằng sau cuộc tấn công đó không dính dáng gì đến việc Saddam Hussein không tuân hành theo chế độ thanh tra vũ khí của Liên hiệp quốc theo yêu cầu và ý muốn của Mĩ. Nhưng đó không phải là lí do thực sự để Mĩ và Iraq lâm vào một cuộc chiến mới.

      Cội nguồn của sự xung đột hiện nay là lập trường của Mĩ cho rằng cần phải lật đổ Saddam Hussein, vì không ai có thể ngăn ngừa ông ta sử dụng vũ khí tàn sát hàng loạt. Những người chủ trương chiến tranh đem những hành động trong quá khứ của Hussein ra để mổ xẻ, để chứng minh rằng Hussein là một người quá liều lĩnh, tàn nhẫn, và hung hăng, và một người như thế mà có vũ khí tàn sát hàng loạt thì đó là một mối đe dọa cho hòa bình thế giới. Những người này cũng thú nhận rằng chiến tranh chống Iraq có thể rất tốn kém, có thể Mĩ sẽ phải chiếm đóng Iraq trong một thời gian dài, và có thể làm cho quan hệ ngoại giao giữa Mĩ và các nước khác trên thế giới phức tạp hơn. Nhưng những quan tâm này che khuất cái quan điểm nhập nhằng giữa Hussein và vũ khí tàn sát hàng loạt là một điều quá nguy hiểm, một điều không thể chấp nhận được. Chỉ vì lí do đó thôi cũng đủ để truất phế Hussein.

     Vấn đề của cách lí luận trên là cái cơ sở đằng sau của nó gần như sai hoàn toàn. Lấy hành động trong quá khứ của Hussein để chứng minh ông ta là một người khó kiềm chế là một sự bóp méo lịch sử và phi lô-gích. Trong thực tế, hồ sơ lịch sử cho thấy Mĩ có thể kiềm chế Iraq một cách hữu hiệu – ngay cả khi Saddam có vũ khí hạt nhân trong tay – cũng như Mĩ đã từng kiềm chế Liên Xô trong thời Chiến tranh lạnh. Bất kể Iraq có tuân thủ theo các điều kiện thanh tra vũ khí của Liên hiệp quốc hay không, bất kể các tranh tra sẽ tìm được gì trong cuộc khám xét Iraq, những vận động cho chiến tranh chống Iraq dựa trên một cơ sở luận rất mong manh.

Saddam Hussein là kẻ hiếu chiến?

     Những người không ngớt kêu gọi chiến tranh mô tả Saddam như là một kẻ hiếu chiến có ý đồ làm bá chủ vùng Vịnh. Họ cũng cho rằng Saddam là một người hoặc là không có lí trí, hoặc là một người hung hãn, không thể chế ngự bằng đe dọa, mà phải chế ngự bằng vũ lực thực sự. Cựu giám đốc các vấn đề vùng vịnh trong Hội đồng An ninh Quốc gia, Kenneth Pollack, một người đề nghị chiến tranh với Iraq, còn đi xa hơn và cho rằng Saddam Hussein là một kẻ tự sát vô ý thức.

     Sự thật trong quá khứ cho chúng ta một câu chuyện hoàn toàn khác với mô tả trên đây. Saddam từng thống trị chính trường Iraq hơn 30 năm. Trong thời gian này, Hussein chủ động hai cuộc chiến chống lại láng giềng: chiến tranh với Iran vào thập niên 1980, và chiến tranh với Kuwait vào thập niên 1990. Quá khứ gây chiến này của Hussein thực ra cũng chẳng khác gì quá khứ gây chiến của các nước láng giềng như Ai Cập và Do Thái, hai nước đã từng chủ động nhiều cuộc chiến kể từ năm 1948. Ngoài ra, xem xét kĩ hai cuộc chiến mà Hussein khởi động cho thấy thái độ của ông ta không phải hấp tấp, liều lĩnh như giới hiếu chiến giảng dạy chúng ta. Trong hai lần chinh chiến, Hussein tấn công các nước láng giềng vì Iraq bị đe dọa và vì ông ta nghĩ rằng đối tượng tấn công là yếu đuối và cô lập. Trong mỗi trường hợp, mục đích của Hussein là chỉnh đốn vai trò chiến lược của Iraq với những chiến thắng quân sự có hạn chế. Một lí giải như thế không phải biện hộ cho hành động hiếu chiến của Hussein, nhưng cho thấy ông ta không phải liều lĩnh trong việc dùng quân sự, và cho thấy rằng Hussein là người hoàn toàn có thể kiềm chế được.

Cuộc chiến Iran-Iraq 1980–88.

     Iran là một nước hùng mạnh trong vùng Vịnh trong thập niên 1970s. Sức mạnh của Iran chủ yếu là từ dân số đông đảo (dân số Iran cao gấp 3 lần dân số Iraq) và trữ lượng dầu hỏa. Trong thời gian đó Mĩ còn yểm trợ cho các vua của Iran. Quan hệ ngoại giao giữa Iraq và Iran rất căng thẳng, nếu không muốn nói là thù địch, trong thời gian này, nhưng Iraq không phải là nước có thế lực để thách thức Iran trong việc thống trị toàn vùng Vịnh. Vào đầu thập niên 1970s, Iran liên tục gây áp lực lên Saddam Hussein, phần lớn là qua việc yểm trợ người thiểu số Kurd [trong nước Iraq] nổi dậy chống Iraq. Đến năm 1975, Iran đồng ý ngưng can thiệp vào nội bộ Iraq, nhưng với điều kiện là Iraq phải nhượng phân nửa nguồn nước Shatt al-Arab cho Iran, một nhượng bộ đánh dấu sự yếu đuối của Iraq.

     Do đó, không ai ngạc nhiên khi thấy Hussein vui mừng chào đón sự kiện vua Iran bị lật đổ vào năm 1979. Iraq tiếp tục hàn gắn mối quan hệ ngoại giao giữa chính quyền cách mạng Iran và Iraq. Hussein không khai thác những bất ổn của Iran trong thời kì này để chiếm thế lợi chiến lược và cũng không đòi lại phân nửa nguồn nước mà Iraq đã nhượng bộ. Nhưng chính phủ cách mạng mới ở Iraq không thi hành hiệp định mà hai bên kí kết với nhau vào năm 1975. Ngược lại, Ruhollah Khomeini nhất định bành trướng chủ nghĩa cách mạng của Iran vào thế giới Hồi giáo ở Ả Rập, bắt đầu với Iraq. Vào cuối năm 1979, Iran yểm trợ người Kurd và người Shiite ở Iraq đứng lên lật đổ Saddam Hussein, và tình báo Iran tìm cách ám sát các viên chức cao cấp trong chính quyền của Iraq. Nhiều giao tranh xảy ra dọc theo biên giới Iran-Iraq, và phần lớn là do Iran chủ động.

     Đứng trước một mối đe dọa nguy hiểm như thế, Hussein không còn lựa chọn nào khác là phải hành động. Saddam ra tay trước. Ngày 22 tháng 9, năm 1980, Iraq tuyên chiến với Iran một cuộc chiến có giới hạn. Mục đích chính của Hussin lúc đó là tiến chiếm một số vùng biên giới Iraq-Iran, chứ không muốn chiếm đóng Iran hay lật đổ Khomeini. Như nhà sử học Efraim Karsh viết, "Cuộc chiến xảy ra, bởi vì một nhà nước yếu hơn, Iraq, cố gắng kháng cự một chế độ có nguyện vọng làm bá chủ trong vùng, Iran, để duy trì tình hình nguyên trạng như trước."

     Iran và Iraq đánh nhau trong 8 năm liền, và cuộc chiến làm cho hai dân chúng hai nước gánh chịu hơn 1 triệu thương vong, và chi phí lên đến 150 tỉ Mĩ kim. Trong cuộc chiến này, Iraq nhận được viện trợ từ nhiều nguồn nước ngoài. Những nước ủng hộ Hussein là Mĩ, Kuwait, Saudi Arabia, và Pháp. Các nước này ủng hộ Hussein vì họ không muốn loại cách mạng của Khomeini lan tràn sang các quốc gia trong vùng. Dù cuộc chiến làm hao tốn Iraq, nhưng nó thành công trong việc ngăn chận sự bành trướng của Khomeini và lật đổ ông này khỏi chính quyền. Cuộc chiến tranh với Iran, do đó, không phải là liều lĩnh hay một sự mạo hiểm; nó là một phản ứng trước một mối đe dọa nghiêm trọng.

Cuộc chiến vùng Vịnh 1990–91.

     Thế còn cuộc xâm lấn vào Kuwait vào tháng 8, 1990 thì sao? Có lẽ cuộc chiến với Iran là một cuộc tự vệ, nhưng trong trường hợp Kuwait thì không. Nhưng có phải quyết định xâm lấn Kuwait của Hussein chứng minh ông ta là một kẻ hiếu chiến, sẵn sàng dùng vũ khí tàn sát hàng loạt? Hay việc Hussein từ chối không chịu rút quân trước sự đe dọa của Mĩ là một hành động tự tử vô ý thức?

     Câu trả lời là "không". Một lần nữa, nếu chúng ta xem xét và cân nhắc kĩ những lí do đằng sau của cuộc chiến, chúng ta sẽ thấy Hussein không phải là một kẻ hiếu chiến một cách vô ý thức hay liều lĩnh. Thực vậy, bằng chứng lịch sử cho thấy ngược lại là đằng khác!

     Quyết định tiến chiếm Kuwait chủ yếu là một cố gắng đương đầu với tình trạng Iraq liên tiếp bị đe dọa. Sau cuộc chiến với Iran, nền kinh tế Iraq bị tổn hại nặng nề, và ở trong tình thế sắp suy sụp. Một nguyên nhân quan trọng cho tình trạng khó khăn này là Kuwait từ chối không chịu xóa nợ cho Iraq (trong thời chiến tranh với Iran, Kuwait cho Iraq vay 10 tỉ Mĩ kim). Saddam tin rằng Iraq xứng đáng được giúp đỡ bởi vì Iraq đã chiến đấu để bảo vệ Kuwait và các nước trong vùng Vịnh chống lại sự bành trướng của Iran. Tình hình càng tồi tệ hơn khi Kuwait quyết định gia tăng sản lượng dầu hỏa hơn mức mà tổ chức OPEC (Organization of Petroleum Exporting Countries) cho phép, làm cho giá dầu hỏa thế giới giảm, và làm cho Iraq mất lợi nhuận từ xuất cảng dầu hỏa. Hussein dùng ngoại giao để giải quyết vấn đề, nhưng Sngoại giaong ng Kuwait vẫn ngoan cố.

     Ngoại giao vô hiệu, Hussein quyết định chiến tranh. Nhưng trước khi gửi quân tiến chiếm Kuwait, Hussein hỏi ý Mĩ và thăm dò phản ứng của Mĩ sẽ hành động thế nào nếu Hussein tấn công Kuwait. Trong một cuộc phỏng vấn nổi tiếng với Hussein, Đại sứ Mĩ lúc đó là April Glaspie, nói cho Hussein rằng, "Chúng tôi không có ý kiến gì về các cuộc xung đột giữa các nước Ả Rập như những tranh chấp biên giới giữa các ông và Kuwait." Bộ Ngoại giao Mĩ trước đó cũng nói cho Hussein rằng Mĩ "không có một nhiệm vụ quốc phòng nào với Kuwait". Có thể Mĩ không có ý định bật đèn xanh cho Iraq, nhưng những tuyên bố như thế làm cho Hussein cảm thấy ông được bật đèn xanh.

     Tháng 8 năm 1990, quân đội Iraq tiến chiếm Kuwait. Đây là một hành động vi phạm luật pháp quốc tế, và Mĩ có lí do để phản đối cuộc xâm lấn. Nhưng quyết định xâm lấn Kuwait không thể xem là phi lí trí hay liều lĩnh.

     Thế còn sự việc Saddam không chịu rút quân khỏi Kuwait theo yêu cầu của Mĩ thì sao? Bây giờ nhìn lại vấn đề chúng ta thấy câu trả lời quá hiển nhiên, nhưng vào lúc đó Saddam có lí do để bám chặt vào Kuwait. Khởi đầu, Hussein không thấy được dấu hiệu Mĩ sẽ can thiệp vào Kuwait, và phần lớn giới quan sát Tây phương cho rằng quân đội Iraq có khả năng đề kháng một can thiệp từ nước ngoài. Ngày nay, những tiên đoán và suy nghĩ này có vẻ ngu muội, nhưng nhiều người tin vào chúng trước khi chiến tranh bắt đầu.

     Khi cuộc oanh tạc bằng không quân của Mĩ làm thương tổn nặng nề quân đội Iraq, Hussein bắt đầu tìm một giải pháp ngoại giao để Iraq có thể rời Kuwait trước khi lục chiến bắt đầu. Thực vậy, Saddam Hussein tuyên bố rằng ông ta sẵn sàng rút quân khỏi Kuwait. Thay vì cho phép Iraq rút quân, Tổng thống Mĩ lúc đó, George H.W. Bush, và chính phủ ông nhất định đòi Iraq phải bỏ lại tất cả những quân cụ và thiết bị trước khi rút lui. Saddam Hussein không chấp nhận yêu sách này của Mĩ.

     Hussein rõ ràng là tính sai nước cờ khi ông ta tấn công Kuwait, nhưng lịch sử chiến tranh có hàng khối trường hợp sai lầm. Không có bằng chứng nào cho thấy Hussein không cân nhắc các lựa chọn trước khi tấn công. Hussein chọn giải pháp quân sự bởi vì ông ta đang gặp phải một thách thức nghiêm trọng và bởi vì ông ta có lí do để nghĩ rằng cuộc xâm lấn của Iraq sẽ không có một đối kháng đáng kể.

     Chúng ta cũng không nên quên rằng Hussein vẫn tồn tại sau thất bại ở Kuwait, cũng như ông đã sống sót sau những đe dọa chế độ của ông. Tính đến nay, Hussein đã nắm quyền được gần 40 năm. Một kẻ "tự tử vô ý thức" mà tồn tại lâu như thế ắt phải là một điều phi lí.

     Lịch sử cung cấp cho chúng ta ít nhất là hai bằng chứng để chứng minh rằng Saddam Hussein là người có thể kiềm chế được. Thứ nhất, mặc dù Hussein chủ động bắn tên lửa tầm xa loại Scud vào Saudi Arabia và Do Thái trong cuộc chiến vùng Vịnh, ông ta không dùng các vũ khí hóa học hay vi trùng trong các tên lửa này, trong khi lực lượng đồng minh đang sát hại quân lực Iraq. Hơn thế nữa, các viên chức quân sự cao cấp của Iraq, kể cả phó thủ tướng Tariq Aziz và cựu giám đốc tình báo quân sự (tướng Wafiq al-Samarrai), từng nói rằng Iraq tự kiềm chế không dùng vũ khí hóa học bởi vì Chính phủ Bush đe dọa dùng vũ khí tàn sát hàng loạt chống Iraq. Thứ hai, năm 1994, Iraq huy động tàn quân dọc theo biên giới Kuwait – Iraq trong nỗ lực làm thay đổi các điều kiện mà phái đoàn thanh tra vũ khí của Liên hiệp quốc đặt ra. Nhưng khi Liên hiệp quốc cảnh cáo Iraq và Mĩ đem quân sang Kuwait, Iraq thoái lui một cách nhanh chóng. Trong cả hai trường hợp, Saddam Hussein đều bị kiềm chế.

Hussein dùng vũ khí hóa học

     Một lí luận thứ hai mà giới diều hâu Mĩ thường đưa ra là Hussein đã từng dùng vũ khí tàn sát hàng loạt chống lại người Kurd và chống lại Mĩ. Do đó, Tổng thống George W. Bush cảnh cáo rằng mối đe dọa của vũ khí tàn sát hàng loạt mà ông tin rằng Iraq có trong tay chống lại Mĩ là "một vấn nạn đáng quan tâm, và vấn nạn nguy hiểm này chỉ tăng theo thời gian." Nói một cách khác, nước Mĩ đang ở trong một tình trạng nguy hiểm.

     Quá khứ dùng vũ khí hóa học của Hussein chống lại người Kurd là một điều không may mắn và đáng lên án. Hussein chỉ dùng trong một đối tượng không có vũ khí chống lại ông ta. Nếu đối tượng đó là Mĩ thì câu chuyện hoàn toàn khác, bởi vì Washington có thể phản pháo với vũ khí tàn sát hàng loạt nếu Iraq quyết định ra tay trước. Thành ra, Hussein không có động cơ dùng vũ khí hóa học hay vũ khí hạt nhân, nếu có, để tấn công Mĩ hay đồng minh, ngoại trừ sự tồn tại của chế độ Hussein bị đe dọa. Cái lô-gich đơn giản này giải thích tại sao Hussein không dùng vũ khí tàn sát hàng loạt trong bất cứ một tranh chấp quân sự nào với Mĩ và đồng minh trong cuộc chiến vùng Vịnh.

     Tuyên bố của Tổng thống Bush [rằng Iraq là mối đe dọa cho nền an ninh của Mĩ] rất vô duyên và phi lí, vì Iraq không có khả năng quân sự tấn công vào nước Mĩ. Ngay cả cựu tổng giám đốc CIA, George Tenet, cũng nhận định rằng Iraq không có thể có khả năng đe dọa nước Mĩ. Những tuyên bố của Tổng thống Bush thực sự chỉ là những nỗ lực nhằm hù dọa người dân Mĩ để họ yểm trợ cho cuộc chiến sắp tới chống Iraq.

     Mĩ ủng hộ tinh thần và yểm trợ quân sự cho Iraq trong thập niên 1980s – khi mà Hussein dùng vũ khí hóa học trên người Kurd và Iran – và giúp Iraq dùng các vũ khí này hữu hiện hơn bằng cách cung cấp cho Iraq những bản đồ chụp từ vệ tinh nhân tạo. Chính phủ Reagan còn giúp Iraq thiết lập các cơ sở sản xuất vũ khí hóa học và vi trùng bằng cách cho phép Baghdad nhập cảng những nguyên liệu có thể gây bệnh như anthrax, vi khuẩn West Nile, và thậm chí độc chất botulinal. Một trong những nhân vật then chốt trong nỗ lực giúp Iraq thời đó không ai khác hơn là Donald Rumsfeld, đương kim Bộ trưởng quốc phòng, (lúc đó Rumsfeld là đặc phái viên của Tổng thống Reagan ở Trung Đông). Ông Rumsfeld viếng thăm Baghdad và gặp Saddam vào năm 1983, với mục đích cụ thể là nâng cao hơn nữa cho mối quan hệ giữa Mĩ và Iraq. Tháng 10 năm 1989, một năm sau khi Hussein dùng vũ khí hóa học trên người Kurd, Tổng thống George H.W. Bush kí một chỉ thị, trong đó viết, "Mối quan hệ bình thường giữa Mĩ và Iraq sẽ phục vụ cho lợi ích lâu dài của Mĩ ở vùng Vịnh và Trung Đông."

     Nếu việc sử dụng vũ khí hóa học của Saddam Hussein là một bằng chứng cho rằng Hussein là một kẻ điên, thì tại sao Mĩ không thấy điều đó trong thập niên 1980s? Tại sao Rumsfeld và cựu Tổng thống Bush lúc đó không quan tâm đến vấn đề này? Câu trả lời khả dĩ nhất là những người vạch định chính sách ngoại giao Mĩ hiểu rõ rằng Saddam không thể và không dám dùng những vũ khí tàn sát hàng loạt đó chống Mĩ và đồng minh, ngoại trừ Washington trực tiếp đe dọa Hussein. Điều khó hiểu là tại sao họ lại nghĩ rằng ngày nay Mĩ không kiềm chế được Hussein.

Hussein và vũ khí hạt nhân

     Luận điệu thứ ba mà giới diều hâu đòi gây chiến cho rằng không có gì ngăn cản Hussein phát triển vũ khí hạt nhân. Họ tiên đoán rằng một khi Hussein có vũ khí này hàng loạt nguy hiểm khác sẽ xảy ra, như tống tiền, hăm dọa thế giới, xâm lăng láng giềng, hay thậm chí cung cấp vũ khí này cho bọn al Qaeda hay những nhóm khủng bố tương tự để tấn công Mĩ.

     Trên một khía cạnh nào đó, chính phủ Bush hiện nay và những người ủng hộ có thể đúng: Chính sách ngăn chận có thể không ngăn cản được Iraq phát triển vũ khí hạt nhân vào một ngày nào đó. Chỉ có việc chiếm đóng Iraq một cách vĩnh viễn mới có thể ngăn chận được tham vọng hạt nhân của Iraq. Song, Mĩ có thể kiềm chế một Iraq với vũ khí hạt nhân, cũng như Mĩ đã từng kiềm chế Liên Xô cũ.

     Hãy xem xét lời tuyên bố cho rằng Hussein sẽ dùng vũ khí hạt nhân để bắt thế giới làm con tin hay hăm dọa thế giới. Để bắt buộc một nhà nước nhượng bộ, nhà nước hăm dọa phải biểu hiện một ý đồ rõ ràng là sẽ dùng vũ khí hạt nhân chống lại đối tượng nếu đối tượng đó không làm theo yêu cầu của nhà nước hăm dọa. Nhưng chiến lược này chỉ khả thi nếu và chỉ nếu nhà nước hăm dọa có vũ khí hạt nhân, và cả hai nhà nước đối tượng cũng như đồng minh không có vũ khí hạt nhân.

     Nếu cả hai nhà nước hăm dọa và đối tượng đều có vũ khí hạt nhân, thì sự đe dọa của nhà nước hăm dọa chỉ là một hành động vô nghĩa, bởi vì nhà nước hăm dọa không thể thực thi sự đe dọa mà họ vẫn còn sống sót. Cái lô-gích này giải thích tại sao Liên Xô, một nhà nước có một lượng vũ khí hạt nhân khổng lồ trong thời Chiến tranh lạnh, chưa bao hăm dọa Mĩ hay đồng minh của Mĩ.

     Nhưng nếu Hussein xâm chiếm Kuwait một lần nữa và tuyên bố rằng ông ta sẽ dùng vũ khí hạt nhân nếu Mĩ tấn công Iraq thì sao? Một lần nữa, mối đe dọa này không thể tin được. Nếu Hussein chủ động dùng vũ khí hạt nhân chống lại Mĩ vì tranh chấp ở Kuwait, thì điều đó chẳng khác gì ông ta mời Mĩ bỏ đầu đạn hạt nhân trên đầu mình. Nếu cho hai lựa chọn rút quân hay chết, chắc chắn Hussein sẽ chọn rút quân. Do đó, Mĩ có thể tiến hành một Chiến dịch Bão táp Sa mạc lần thứ II chống lại Iraq mà không cần phải dùng đến vũ khí hạt nhân.

     Trớ trêu thay, một số viên chức trong chính phủ Bush chủ trương chiến tranh từng công nhận rằng Hussein không thể dùng vũ khí hạt nhân cho mục tiêu tấn công quân sự. Trong Tập san Foreign Affairs (số ra tháng 1 và 2), Cố vấn an ninh quốc gia, Condoleazza Rice, mô tả cách thức mà Mĩ sẽ phản ứng nếu Iraq có trong tay vũ khí tàn sát hàng loạt. Bà Rice cho rằng trước hết Mĩ sẽ cảnh cáo Iraq rằng vũ khí của họ sẽ không có hiệu lực, và nếu họ dùng vũ khí hạt nhân, đất nước của họ sẽ trở thành bình địa. Nếu bà Rice tin rằng vũ khí của Iraq sẽ không dùng được vào năm 2000, thì tại sao bà lại nghĩ rằng cần phải lật đổ Hussein trước khi Hussein có vũ khí? Và về vấn đề này, tại sao bà Rice lại nghĩ rằng vũ khí hạt nhân mà bà cho rằng Iraq đang có có thể hăm dọa thế giới? Thật là một mâu thuẫn hết sức sơ đẳng.

     Dĩ nhiên, cái viễn ảnh đáng sợ là Hussein sẽ cung cấp vũ khí hạt nhân, nếu Iraq đang có, cho bọn khủng bố chống lại Mĩ. Những nhóm khủng bố như al Qaeda chắc chắn sẽ tìm cách dùng những vũ khí tàn sát hàng loạt này nếu chúng có trong tay. Tuy nhiên, cái khả năng mà Iraq cung cấp vũ khí cho các nhóm như thế hầu như là không có thật. Trước hết, không có bằng chứng nào cho thấy Iraq có dính dáng đến các vụ khủng bố ở Mĩ, hay đang cộng tác với nhóm al Qaeda để chống Mĩ. Cánh diều hâu trong và ngoài chính phủ Bush tiêu ra không biết bao nhiêu công sức để tìm một mối liên hệ giữa Iraq và al Qaeda nhưng họ chẳng tìm được gì.

     Những ai thông thạo tình hình Trung Đông đều không ngạc nhiên về thất bại trong việc tìm cách chứng minh mối liên hệ giữa Hussein và al Qaeda, bởi vì trong thực tế, Hussein và Osama bin Laden là hai người không đội trời chung với nhau. Osama bin Laden là một người Hồi giáo quá khích (cũng giống như Khomeini của Iran), và ông ta ghét cay ghét đắng những lãnh tụ thế tục như Saddam Hussein. Tương tự, Hussein từng thẳng tay đàn áp các nhóm Hồi giáo quá khích ở Iraq. Với một lịch sử như thế nhà độc tài Hussein chắc chắn là không dại gì cung cấp vũ khí hạt nhân cho al Qaeda.

     Tuy nhiên, dưới sức ép dồn dập của Mĩ, có thể hai thế lực này (Iraq và al Qaeda) hợp tác với nhau, cũng như Mĩ và cộng sản Nga hợp tác trong thời kì Thế chiến thứ II. Nhưng chắc chắn nếu Iraq quả có vũ khí hạt nhân thì Hussein cũng chẳng chia sẻ vũ khí đó với nhóm của bin Laden vì làm như thế chỉ đem lại nguy hại cho chính Hussein về sau. Trong thời kì Chiến tranh lạnh, Mĩ không chia sẻ vũ khí tàn sát hàng loạt với Nga và ngay cả với đồng minh mình. Nga cũng chưa từng chia sẻ vũ khí hạt nhân với Trung Quốc dù họ là hai đồng chí trong thời Chiến tranh lạnh.

     Thứ hai, những chuyển giao vũ khí như thế chắc chắn sẽ chẳng qua khỏi tai mắt của Mĩ. Kể từ sự kiện 9/11, tình báo Mĩ và đồng minh đã và đang theo dõi từng bước đi của al Qaeda và Iraq, đặc biệt là tìm mối quan hệ giữa hai nhóm này. Nếu Iraq có vũ khí hạt nhân, Mĩ chắc chắn biết. Nhưng cho đến nay, Mĩ vẫn chưa dám khẳng định Iraq có vũ khí hạt nhân!

     Nói tóm lại, dù cho Iraq có trong tay vũ khí hạt nhân, Saddam Hussein không thể và không dám cung cấp vũ khí đó cho bọn al Qaeda. Và sự đe dọa phản công của Mĩ không phải cường điệu như chúng ta tưởng. Mĩ đã hoàn thiện kĩ thuật sản xuất vũ khí hạt nhân trong thời gian gần đây, và không ai có thể biết Mĩ sẽ trả thù như thế nào nếu một nước nào đó dám dùng vũ khí hạt nhân tấn công nội địa Mĩ. Thật vậy, khủng bố bằng vũ khí hạt nhân là một việc nguy hiểm đối với Saddam cũng như đối với Mĩ, và Hussein không có động cơ nào để cho al Qaeda có vũ khí này. Thay vì tấn công Iraq và dồn Saddam Hussein vào một vị trí mà ông ta không còn gì để mất, chính phủ Bush nên ra dấu hiệu cho Hussein biết ông ấy sẽ chịu trách nhiệm cho những khủng bố bằng vũ khí hạt nhân, ngay cả trong lúc chúng ta chưa có bằng chứng để tố cáo Hussein.

Cảnh giác

     Người ta không ngạc nhiên khi thấy những người kêu gọi chiến tranh chống Iraq miêu tả Saddam Hussein như là một động vật không có xương sống, một ác quỉ hiếu chiến, bởi vì những người này đang hành nghề buôn bán chiến tranh. Họ phải tìm mọi cách để làm cho quần chúng thấy nền hòa bình hiện nay là không chấp nhận được, là nguy hiểm. Và, cách thức tốt nhất là cường điệu hóa mối đe dọa, hoặc thổi phồng tiềm lực của Iraq, hoặc vẽ ra những viễn ảnh hải hùng sẽ xảy đến trên nước Mĩ nếu Mĩ không hành động sớm.

     Người ta cũng không ngạc nhiên khi những cánh diều hâu trong và ngoài chính phủ Bush sẵn sàng bóp mép lịch sử, vặn vẹo dữ kiện theo chiều hướng mà họ muốn. Cựu Bộ trưởng ngoại giao Mĩ, Dean Acheson, từng nhận xét rằng trong chính trị tranh thủ sự ủng hộ của quần chúng quan trọng hơn là sự thật.

     Tuy nhiên, sự thật – bằng chứng lịch sử – và lô-gích cho thấy một chính sách kiềm chế có hiệu quả, trong quá khứ, hiện tại, và tương lai, ngay cả trong trường hợp Iraq có vũ khí hạt nhân trong tay. Tại sao? Tại vì Mĩ và đồng minh hùng mạnh hơn Iraq rất nhiều. Và chúng ta không cần đến một thiên tài để biết chuyện gì sẽ xảy ra nếu Iraq (hay bất cứ nước nào) dùng vũ khí tàn sát hàng loạt để hăm dọa các nước láng giềng, hay bành trướng lãnh thổ, hay trực tiếp tấn công một nước khác. Lãnh tụ nào cũng muốn tại chức, muốn cầm quyền. Trong sự nghiệp dài và tàn bạo của mình, Saddam Hussein đã nhiều lần cho thấy hai mục tiêu này là cực kì quan trọng. Điều đó giải thích tại sao một chính sách kiềm chế và ngăn chận sẽ có hiệu quả chận đứng tham vọng của Hussein.

     Nếu Mĩ đang, hay sẽ, gây chiến với Iraq, người Mĩ nên hiểu rằng đó là vì chính phủ Bush không có một chiến lược thuyết phục và lô-gích. Cuộc chiến này là cuộc chiến mà ông Bush lựa chọn. Cuộc chiến này là một cuộc chiến không cần thiết phải có. Ngay cả nếu cuộc chiến đem lại chiến thắng và tác dụng tích cực về lâu về dài, nó vẫn là một cuộc chiến không cần thiết. Và, nếu cuộc chiến trở nên tồi tệ – dưới hình thức con số thương vong cho cả hai bên Iraq và Mĩ, hay gây mầm móng chống Mĩ trong thế giới Hồi giáo và Ả Rập, hay khủng bố – thì những kiến trúc sư của nó có nhiều câu hỏi cần phải trả lời.

(*) Nguyễn văn lược dịch từ bài viết "An Unnecessary War" của John J. Mearsheimer và Stephen M. Walt, đăng trên Tập san Foreign Policy, số tháng 1 năm 2003. John J. Mearsheimer là Giáo sư ưu tú, thuộc Phân khoa Chính trị học tại Đại học Chicago, và cũng là đồng giám đốc Chương trình Nghiên cứu Chính sách An ninh Thế giới. Stephen M. Walt là khoa trưởng và giáo sư về quan hệ quốc tế tại Phân khoa Chính phủ học John F. Kennedy (John F. Kennedy School of Government) thuộc Đại học Harvard.

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........