Bộ máy truyền thông và bộ máy chiến tranh
Ở Liên Xô trước
đây, ai cũng biết hay nghe đến tờ nhật báo Pravda (Sự thật). Dưới sự chỉ đạo và điều khiển của
Nhà nước Xô-viết và Đảng Cộng sản Liên Xô, Pravda đã từng sản suất
ra biết bao câu chuyện không tưởng mà chúng ta có thể gọi là huyền thoại. Ở Mĩ, ông George W. Bush và Đảng Cộng hòa
không thể khoe rằng họ làm chủ một cơ quan truyền thông như Pravda,
và cũng không thể nói rằng họ làm chủ hệ thống báo chí, đài truyền
thanh, đài truyền hình ở Mĩ, nhưng họ vẫn có thể tin tưởng vào hệ thống
truyền thông Mĩ vì hệ thống này cũng vâng dạ như tờ Pravda của Liên
Xô cũ.
Bất kể bao
nhiêu lời nói dối mà ông Bush và đồng nghiệp của ông nói về mối đe
dọa của Iraq đến nền an ninh nước Mĩ, giới truyền thông Mĩ chẳng bao
giờ chất vấn, chẳng bao giờ đặt những câu hỏi khó cho giới cầm quyền
ở Washington. Bush và chính phủ của
ông biết rằng họ có thể dựa và tin tưởng vào lòng ái quốc của giới
truyền thông Mĩ, những người chỉ tường trình cuộc chiến ở Iraq như là
báo cáo trận đấu thể thao của đội nhà.
Và, ông Bush, không như các nhà lãnh đạo của Liên Xô, không cần
phải hạ lệnh, ra chỉ thị, hay bổ nhiệm một cơ quan kiểm duyệt nào cả,
bởi vì trong hệ thống truyền thông ở Mĩ đã có sẵn một cơ chế tự
kiểm duyệt.
Tháng 2 năm
2003 (tức tháng vừa qua) tờ Observer
ở London tiết lộ rằng chính phủ ông Bush đã và đang dọ thám các
thành viên của Liên hiệp quốc để theo dõi thái độ của họ trước ý
đồ xâm lược Iraq của
Mĩ. Đó là một hành động, lén đã
đành, nhưng còn mang tính bẩn thỉu, hèn mọn.
Nhưng ở Mĩ, không một tờ báo nào loan tin này.
Tờ Newsweek, một tờ tuần san lớn có
qui mô phát hành trên toàn thế giới, cho chúng ta biết cựu tướng lãnh
Iraq là Hussein Kamel, người ra đầu thú với Washington, vào năm 1995 cho biết
Iraq đã giải giới vũ khí rất nhiều. Rất
ít báo chí Mĩ đưa tin này. Nhưng
trong các tuyên bố trước công chúng Mĩ và thế giới, ông Bush lại trích
và sửa lời khai của Kamel để nói rằng Iraq vẫn còn duy trì vũ khí tàn
sát hàng loạt!
Thực tế hiện
nay cho thấy giới truyền thông Mĩ nói chung có khuynh hướng ủng hộ cuộc
xâm lăng Iraq, cho dù chính phủ Mĩ cố tình hạn chế sự tự do của họ
trong việc tường trình sự kiện, và bóp méo cũng như cung cấp thông tin
giả. Do đó, hiện nay tất cả các
hình ảnh về cuộc chiến ở Iraq đều hoàn toàn bị “vệ sinh hóa”. Giới truyền thông chỉ tường trình những
gì mà quân đội Mĩ và chính phủ Mĩ muốn nói.
Hiện tượng
này không phải mới. Trong cuộc chiến
ở A Phú Hãn, Walter Isaacson, tổng giám đốc hệ thống CNN, khuyên các
phóng viên không nên chú trọng vào những khía cạnh tiêu cực như tử
vong, thương vong, phá hủy môi trường … vì những hình ảnh này có thể
gây khó khăn cho cuộc chiến. Trong cuộc
chiến vùng Vịnh vào đầu thập niên 1990s cũng thế: giới truyền thông Mĩ
chôn vùi những hình ảnh hãi hùng, dã man của cuộc tàn sát trên xa lộ tử
thần (còn gọi là cuộc thảm sát trên “Highway of Death”) khi quân đội
Iraq rút khỏi Kuwait.
Giới truyền
thông còn đứng về phía chính phủ trong những vấn đề quan trọng khác,
không phải vì những âm mưu đen tối, hay những cuộc điều đình phía sau
hậu trường, nhưng bởi vì hệ thống truyền thông ở Mĩ tự nó là những
công ti thương mại khủng lồ, những công ti có cùng lợi ích kinh tế và
chính trị với giới điều hành quốc gia. Trong
nhiều trường hợp, họ tuy hai nhưng chỉ là một thực thể.
Ngày nay, việc
các công ti truyền thông sử dụng hay trưng dụng những cựu tướng lãnh,
quan chức cao cấp, chính trị gia … đã trở thành một truyền thống. Như Edward Said nhận xét, hệ thống truyền
thông của Mĩ đã trở thành một bộ phận trong guồng máy quân sự, guồng
máy chiến tranh của Mĩ. Thành ra,
không ai ngạc nhiên khi thấy những tiếng nói chủ chốt trong các cuộc gọi
là “debate” hay “tranh luận” về chiến tranh và chính sách ngoại giao
trên các hệ thống truyền hình và truyền thanh thường là những cựu quan
chức trong chính phủ Mĩ. Điều này cũng
giái thích tại sao những cái gọi là “nguồn tin đáng tin cậy”, nhân
viên báo chí, nhân viên Ngũ giác đài, phát ngôn viên Tòa bạch ốc, hay những
nhân vật thân cận với chính quyền Mĩ thường chiếm đại đa số trong
đội quân “chuyên gia” (experts) mà chúng ta nghe và thấy hàng ngày.
Những đại công
ti thống trị thế giới truyền thông càng ngày càng tập trung. Ben Bagdikian, tác giả cuốn sách nổi tiếng
Media Monopoly (Độc quyền
truyền thông), ước tính rằng chỉ có 6 đại công ti đang nắm hầu hết
hệ thống truyền thông tại Mĩ. Chủ
hãng NBC là General Electric, một công ti sản xuất vũ khí cho quân đội Mĩ. Ngay cả các công ti truyền thông nhỏ, tuy
không có liên hệ với quân đội, nhưng cũng chịu ảnh hưởng của chính
phủ Mĩ.
Giới truyền
thông Mĩ có mục tiêu chính là làm lợi qua việc buôn bán thông tin và quảng
cáo. Truyền thông, dù là báo chí,
radio, hay truyền hình, đều kiếm tiền bằng cách buôn bán khán giả đến
các công ti đặt quảng cáo và họ biết rằng cái business của họ sẽ lỗ
lã nếu họ chạy theo những loại thông tin có khả năng làm tổn hại đến
các nhà đặt quảng cáo.
Ảnh hưởng
kinh tế trong việc tường trình và cung cấp thông tin chi phối đến những
gì khán giả nhìn và thấy. Chẳng hạn
như thay vì chi ra một số tiền gửi kí giả đi thu thập thông tin về việc
vi phạm nhân quyền đối với các tù nhân đang bị giam giữ và hành hạ tại
căn cứ không quân Bagram (A Phú Hãn), các công ti truyền thông chỉ việc
gõ cửa Tòa bạch ốc và họ sẽ có ngay một “Thông cáo báo chí” phủ
nhận những vi phạm nhân quyền ở đó. Vừa
rẻ tiền, lại vừa làm hài lòng giới cầm quyền.
Điều này có
nghĩa là các cơ sở truyền thông độc lập đóng một vai trò quan trọng. Nhưng tiếc thay, các cơ sở này hiện còn
quá yếu kém về tài chính và cơ sở vật chất để có thể thách thức
các công ti truyền thông lớn, hay để làm áp lực họ phải đề cập đến
những vấn đề thiết thực mà đại đa số quần chúng quan tâm đến. Nhưng thỉnh thoảng một áp lực cũng có
hiệu quả khi qui mô của vấn đề trở nên nghiêm trọng. Chẳng hạn như sau nhiều tháng cố tình
xem thường những cuộc biểu tình chống chiến tranh Iraq, một số tờ báo
lớn như New York Times và Washington Post bắt buộc phải đưa lên
trang đầu những hình ảnh và câu chuyện về cuộc biểu tình vĩ đại chống
chiến tranh xảy ra trên toàn cầu vào hôm 15/2/2003.
Trong cuộc chiến
ở Việt, giới truyền thông cũng ủng hộ chính sách tàn bạo của Mĩ ở
Việt Nam, nhưng áp lực của phong trào chống chiến tranh đã buộc giới
truyền thông ghi nhận những thực tế bi thảm và mở màn cho một cuộc
tranh luận trong mọi thành phần trong xã hội.
Giới kí giả từ đó có khả năng và bản lĩnh phơi bày những
tội ác chiến tranh,, những hình ảnh dã man của cuộc chiến, và thách thức
những tuyên bố láo của chính phủ. Hậu
quả là nhiều cuộc biểu tình với hàng triệu người ở Mĩ và trên khắp
thế giới, dẫn đến chấm dứt cuộc chiến ở Việt Nam.
Không có gì
phơi bày sự bất lực của giới truyền thông ở Washington bằng thái độ
hèn hạ trước những tuyên bố sai lạc của ông Bush về mối quan hệ giữa
Iraq và al Qaeda, giữa Iraq và biến cố 9/11/2001.
Trong một lần họp báo ông Bush đề cập đến mối quan hệ này
8 lần, và ngay cả cho đến nay – khi cuộc chiến Iraq đang diễn ra – vẫn
chưa một ai chất vấn lời tuyên bố này của Bush. Không một ai trong giới “truyền thông
chính thống” đòi ông Bush trưng bày bằng chứng cho hai tuyên bố quan trọng
này của ông. Thay vào đó, giới truyền
thông đã cho ông Bush một cái vé miễn phí để ông dùng biến cố 9/11
làm cái cớ gây chiến và xâm lăng Iraq.
Theo một cuộc
thăm dò ý kiến do công ti New York Times / CBS News tổ chức,
có đến 42% người Mĩ tin rằng Saddam Hussein trực tiếp dính dáng và có
trách nhiệm trong cuộc tấn công vào tòa nhà thương mại quốc tế hôm
9/11/2001. Cũng theo một cuộc thăm dò
khác, 55% dân Mĩ tin rằng Saddam Hussein trực tiếp yểm trợ al Qaeda!
Cho đến nay,
không ai có bằng chứng về hai mối quan hệ đó. Thực ra, đại đa số các học giả Mĩ và
giới ngoại giao quốc tế đều cho rằng cả hai tuyên bố của ông Bush là
sai. Nhưng đây là một câu hỏi mà quần
chúng không bao giờ nghe giới kí giả chất vấn:
làm sao xã hội Mĩ có thể truyền bá những huyền thoại như
thế, và xem đó là những bằng chứng về sự ủng hộ của công chúng Mĩ
cho cuộc chiến?
Chính phủ
ông Bush, qua các phát ngôn viên của Tòa bạch ốc và Ngũ giác đài, đưa
ra nhiều lí do để gây chiến, và giới truyền thông ngoan ngoãn trình bày
những lí do đó cho quần chúng như là những tín lí của chính phủ. Thành ra, trong trường hợp này, giới truyền
thông đã tự họ biến thành những người trong guồng máy chính phủ, thay
vì theo đuổi truy tìm sự thật.
Trong những
huyền thoại về truyền thông ở Mĩ, có một huyền thoại rất phổ biến:
đó là tự do báo chí. Nhưng trong thực
tế, hệ thống truyền thông Mĩ không bao giờ tự do, hay chỉ tự do đối
với những người làm chủ các công ti sản xuất vũ khí, các công ti thương
mại khổng lồ, tức là những nhân vật và cơ quan nắm quyền điều hành
nước Mĩ. Giới truyền thông Mĩ có
những quan điểm hẹp về thế giới bên ngoài, những quan điểm mà trong
đó chấp nhận cái “quyền” của giới quân sự Mĩ và tự do thị trường
để chi phối đến cuộc sống của người dân trên thế giới. Do đò, những cái gọi là “tranh luận”
trên hệ thống truyền thông mà công chúng thấy là những người đồng ý với nhau về cơ bản, nhưng thỉnh
thoảng bất đồng ý kiến về cách thức buôn bán các hương trình nghị sự
của nhà nước.
Có hai khái niệm
trái ngược nhau về dân chủ: một khái niệm cho rằng xã hội dân chủ
là một xã hội mà trong đó công chúng có phương tiện để tham gia một cách
có ý nhĩa vào các công việc quản lí quốc gia, và các phương tiện thông
tin mở rộng và miễn phí. Đó là
khái niệm mà đa số công chúng hiểu. Một
khái niệm dân chủ khác cho rằng trong một xã hội dân chủ, công chúng phải
được ngăn chận, không cho tham gia vào các công cuộc quản lý quốc gia,
và phương tiện thông tin phải được kiểm soát gắt gao. Khái niệm thứ hai mới nghe qua thì có vẻ
vô lí và phản dân chủ, nhưng trong thực tế, như chúng ta thấy, nó là một
khái niệm mà giới thống trị lấy làm kim chỉ nam cho hành động.
Xem ti-vi, nghe
đài radio, hay đọc báo với một sự nhẹ dạ (hay cả tin) là tự mình qui
phục trước một quá trình tự sát tri thức.
Những gì mà giới truyền thông, nhất là ti-vi, cung cấp ngày
nay, có lẽ hơn bao giờ hết, là một sự gây mê trước một thực tế
phũ phàng. Giống như một tay mải võ
sơn đông lúc nào cũng múa may quay cuồng, giới truyền thông là một cơ thể
múa rối, được liên tục tập luyện và uốn nắn để nhắm đến một mục
tiêu hẹp là cung cấp cho chúng ta một khung trời bao la, nhưng là một khung
trời giả tưởng, được bao bọc bằng những màn quảng cáo, khôi hài,
và tuyên truyền. Nói một cách khác,
chúng ta đang bị giới truyền thông nhồi sọ.
Chúng ta đang bị đánh đòn hỏa mù, bị làm rối loạn để không
kịp suy nghĩ và chất vấn những sự thật đàng sau các thông tin mà họ
đưa ra. Người viết bài này muốn
đưa thêm một đề nghị khác [khó nghe hơn]: càng xem, đọc và nghe nhiều
về cuộc chiến hiện nay bao nhiêu, chúng ta càng cảm thấy bị lú lẫn bấy
nhiêu.
Về trang Nghiên cứu & đối thoại
tháng 4-2003
Home | Top Page | Về trang mục lục