curley_sw_03.gif (1967 bytes)   Nghiên Cứu và Đối Thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw_03.gif (1967 bytes)

.......... .


     Yếu tố tôn giáo trong cuộc đụng độ giữa Mĩ và Iraq

nv-jebush.jpg (34335 bytes) Tổng thống Cờ Hoa GWB: “Quí vị biết không, đôi khi tôi tự cảm thấy như tôi là Chúa cứu thế vậy đó. Tiêu diệt ‘ma quỉ’ để mang lại dân chủ và nhân quyền cho nhân loại!” Photo copyrighted by Bushspeaks.com. Caption by Giaodiem

  • Nguyễn Văn

            Cách đây trên dưới 7 năm, Samuel P. Huntington, một giáo sư chính trị học thuộc Trường Đại học Harvard, công bố một cuốn sách có tựa đề là “The Clash of Civilizations and the Remaking of World Order” ( “Xung đột giữa các nền văn minh và tái thiết lập trật tự thế giới mới”) gây chấn động dư luận bang giao và chính trị quốc tế.  Theo luận án của Huntington, trong thế kỉ 21, các quốc gia trên thế giới sẽ tập trung thành 8 khối dựa theo những di sản tôn giáo và văn hóa: Tây phương (chủ yếu là các nước theo đạo Ki-tô giáo); Châu Mĩ Latin; Phi châu; Chính thống (Orthodox, tức các nước Đông Âu như Nga, Ukraine ...); Ấn Độ giáo; Hồi giáo; Khổng giáo (gồm Trung Quốc, Việt Nam, Hàn Quốc); và một khối gồm các quốc gia khác như Nhật Bản.   Huntington tiên đoán rằng những xung đột trong tương lai sẽ xảy ra giữa các nền văn minh này, nhất là giữa sự kiêu ngạo của Ki-tô giáo (mà Mĩ đại diện), sự bất khoan dung của Hồi giáo (phần lớn là khối Ả Rập), và sự tự tin của Khổng giáo.  

            Theo dõi những xung đột trong thời gian gần đây cho thấy luận án trên của Hungtinton không phải là thiếu cơ sở.  Trong cuộc chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất, giới chính trị Tây phương cho rằng họ là những hiệp sĩ đi bảo vệ quyền lợi của các nước Ả Rập; nhưng giới học giả Hồi giáo lại xem đó là một cuộc chiến tranh đầu tiên giữa hai nền văn minh: Ki-tô giáo chống Hồi giáo.  Cuộc chiến tranh vùng Vịnh, theo họ, là một cuộc đụng độ giữa hai nền văn minh vì Mĩ dùng quân sự can thiệp vào sự xung đột giữa hai nước Hồi giáo.

           Nhưng đó không phải là lần đầu tiên có sự chạm trán giữa hai thế giới.  Chiến tranh A Phú Hãn – Liên Xô trong thời 1979-1989 mới thực sự là một cuộc chạm trán đầu tiên giữa hai khối này.  Chiến tranh A Phú Hãn – Liên Xô khởi đầu là do Liên Xô muốn thiết lập một nhà nước vệ tinh, nhưng nó được biến thành một cuộc chiến tranh lạnh khi người Mĩ (dưới thời Tổng thống Reagan) tổ chức và yểm trợ kháng chiến, trong đó có Osama bin Laden, chống lại Liên Xô.  Cuối cùng, Liên Xô thất bại.  Đối với các nước Tây phương và Mĩ, sự thất bại của Liên Xô ở A Phú Hãn là một chiến thắng, một Waterloo của chiến tranh lạnh.   Nhưng đối với những người kháng chiến chống lại Liên Xô, đó là một chiến thắng cho Hồi giáo.  Lần đầu tiên, một cuộc kháng chiến dựa trên nguyên lí Hồi giáo đã đánh bại một đế quốc (Liên Xô).  Cố nhiên, bom đạn, tên lửa của Mĩ là một yếu tố quyết định trong cuộc chiến chống Liên Xô.  Nhưng một điều cũng không thể chối cãi được là cuộc chiến còn là một nỗ lực tập thể của các tín đồ Hồi giáo. 

          Biến cố 9/11 càng thể hiện sự khác biệt sâu sắc giữa hai thế giới Hồi giáo và Ki-tô giáo.  Quan điểm của giới trí thức trong khối Ả Rập cho thấy họ nhìn sự kiện 9/11 khác với giới chính trị Tây phương, và nhất là Mĩ.  Hành động khủng bố và cuồng tín của những người theo bin Laden, dù bị phần đông thế giới, kể cả các nước Ả Rập, lên án, nhưng lại được nhiều người Hồi giáo hoặc ngấm ngầm, hoặc công khai ủng hộ.   Trong khi các nước thuộc khối Tây phương tỏ ra đoàn kết và cảm thông với Mĩ, ở Châu Mĩ Latin người ta bày tỏ một sự thương tiếc một cách lịch sự, Châu Á bày tỏ mối thương cảm một cách lễ độ, nhưng các nước trong khối Hồi giáo thì có thái độ dửng dưng, thậm chí tán thành khủng bố!  Trong một cuộc thăm dò ý kiến trong giới sinh viên thuộc Trường Đại học Bir Zeit (vùng West Bank thuộc đặc khu của người Palestine) sau ngày Mĩ tấn công A Phú Hãn cho thấy 89% tin rằng Mĩ đã sai khi tấn công Afghanistan, 64% cho rằng việc tấn công vào Trung tâm Thương mại Thế giới là vi phạm luật Hồi giáo, nhưng điều làm cho người ta cảm thấy quan tâm là 26% trong số sinh viên này tin rằng tự sát bằng cách cướp máy bay là nhất quán với giáo huấn của Hồi giáo!  Thái độ và suy nghĩ của những người có học trong thế giới Ả rập như thế làm cho người ta phải suy nghĩ về ý nghĩa sâu xa của cuộc xung đột văn minh và Huntington đã tiên đoán.

          Hiện nay, trong cuộc xâm lăng Iraq, Mĩ có hai đồng minh trung thành và hung hãn nhất: đó là Anh và Úc.  Hai nước này có cùng một văn hóa, đó là di sản văn hóa Anh giáo.  Cùng với Mĩ, một nước mà những người theo đạo Phản thệ giáo (Protestantism) đang cầm quyền, hai nước Anh và Mĩ có cùng di sản tôn giáo: Ki-tô giáo.  Thực ra, phần lớn các nước “đồng minh” trong cuộc xâm lăng hiện nay của Mĩ như Ý, Tây Ban Nha, Ba Lan, Tiệp, Lỗ Ma Ni (Romania), Bão Gia Lợi (Bulgaria), Ukraine, v.v… đều chia sẻ với ba nước nói tiếng Anh kia một di sản văn hóa Ki-tô giáo.

            Ở Úc, cuộc tấn công của Mĩ vào Iraq đã làm cho cộng đồng người Iraq lưu vong ở đây chia rẽ trầm trọng.  Những người Iraq theo đạo Ki-tô ủng hộ cuộc tấn công của Mĩ, nhưng những người theo đạo Hồi phản đối cuộc xâm lăng này, dù cả hai phía đều chống Saddam Hussein.  Tuần qua, một linh mục người Iraq tuyên bố trên đài truyền hình Sydney rằng ông và giáo dân của ông ở Sydney nhận thấy hành động xâm lấn của Mĩ là hợp pháp, là có đạo đức, và ông còn mỉa mai những người phản chiến là những người làm lợi cho Saddam Hussein.  Trong khi đó, một giáo sĩ Hồi giáo người Iraq cũng ở tại Sydney cho rằng hành động của Mĩ chỉ đem lại thêm đau khổ cho người dân Iraq.

            Ngay sau khi quả bom đầu tiên rơi xuống Baghdad theo tuyên bố chiến tranh của Tổng thống Bush, Hội đồng Hồi giáo Úc (Australian Federation of Islamic Councils) ra tuyên bố, trong đó có đoạn viết: "Tín đồ Hồi giáo ở Úc và trên thế giới tin rằng đây là một cuộc chiến chống lại người theo đạo Hồi và Hồi giáo"  ("Muslims in Australia and around the world believe that this is a war against Muslims and Islam.")  Đây không phải là một quan điểm của một nhóm nhỏ hay một thiểu số, mà nó còn thể hiện suy nghĩ (có thể là thầm kín) của rất nhiều người theo đạo Hồi trên thế giới, kể cả Nam Dương, Ấn Độ, và Trung Đông.

            Ở Mĩ, ông Bush (một tín đồ tận tụy của Ki-tô giáo) và đồng nghiệp của ông trong Tòa bạch ốc và Ngũ giác đài phát biểu như là những nhà truyền giáo.  Tất nhiên, câu nói truyền thống “Thượng đế ban phước lành cho Mĩ” không thể thiếu trong bất cứ bài diễn văn nào của ông.  Ngoài ra, ông Bush còn có thói quen dùng những câu chữ trong kinh thánh để nói về chiến tranh.  Tháng 10, năm 2001, trong khi Mĩ dội bom xuống A Phú Hãn, Chính phủ ông Bush sáng tác ra một tên gọi mới, “Operation Infinite Justice” (Chiến dịch công lí vô hạn).  Mới đây, khi đề đến thời điểm tuyên bố cuộc chiến ở Iraq, ông Bush lại dựa vào Kinh Thánh với câu “The moment of truth” (Thời điểm của sự thật).  

            Ngày 16 tháng 9 năm 2001, chỉ năm ngày sau khi bọn khủng bố lái máy bay đâm vào hai tòa nhà ở New York, Tổng thống George W. Bush giận dữ tuyên bố rằng ông sẽ mở một cuộc “Crusade” (Thập tự chinh) chống bọn khủng bố.  Có người cho rằng ông Bush và chính khách Mĩ trước đây (như Dwight D. Eisenhower, John McCain …) dùng từ ngữ tương đối thiếu cẩn thận, chứ không có ý gì sâu xa về tôn giáo.  Nhưng ông Bush (cũng như ông Rumsfeld) nổi tiếng là người nói từ trái tim, và dựa vào những gì ông thường nói, rất khó mà cho rằng câu tuyên bố của ông Bush là một “slip of the tongue” (lỡ lời) được.  Về khía cạnh này, tờ Ashahi (Nhật) tóm lược khá đầy đủ: "Ý niệm Thiện Ác của George Bush nói lên căn bản Ki-tô giáo mà Thánh Kinh nhắc đi nhắc lại.  Ông ta [Bush] so sánh chiến tranh A Phú Hãn với Thập tự chinh và, ngày nay, ông ta nói dân chủ hoá cho các nước Trung Đông mà phớt lờ văn hoá, truyền thống của thế giới Ả Rập (...) Thế kỷ 21 không nên bắt đầu bằng một chiến tranh tôn giáo."

          Tuy nhiên, trong cách nói chính trị ở Mĩ, chữ “crusade” thường được hiểu ngầm như là một cuộc vận động nhằm chỉnh lí đạo đức xã hội.  Nhưng trong thế giới Ả Rập, chữ “crusade” có một nghĩa hoàn toàn khác.  Đối với họ, chữ crusade của ông Bush mở miệng một vết thương lịch sử về mối xung đột giữa Ki-tô giáo và Hồi giáo xảy ra khoảng một ngàn năm trước đây.  Thực vậy, người Ả Rập có thể dùng chữ “crusade” của chính ông Bush để khơi dậy một phong trào đấu tranh chống lại một cuộc Thập tự chinh mới của Ki-tô giáo Tây phương. 

            Cách dùng chữ của ông Bush, dù vô tình hay cố ý, ngay từ đầu của cuộc xung đột đã gieo vào tâm trí của người Ả Rập và Hồi giáo một cuộc chiến mới đã được định nghĩa: Ki-tô giáo chống Hồi giáo; chủ nghĩa vật chất Tây phương chống chủ nghĩa tinh thần Đông phương.   Cộng vào đó là những tuyên bố về chủ nghĩa “ra tay trước” (pre-emptive strike), và tiến chiếm Iraq của ông Bush đã và đang không những khơi dậy, mà còn nuôi dưỡng, một tị hiềm lịch sử, và biến ông Bush thành một người lính Thập tự chinh dưới mắt người Ả Rập.

            Ở Tây phương, người dân khó mà quán triệt được tại sao những sự kiện đã xảy ra cả ngàn năm về trước mà vẫn còn ngự trị trong tâm trí và cảm nhận của người Ả Rập về người Tây phương, kể cả người Mĩ.  Vào thời Trung cổ, có đến 5 cuộc Thập tự chinh, kéo dài suốt 200 năm liền, và tất cả các cuộc Thập tự chinh này đều có một mục tiêu “giải phóng” những lãnh địa thiêng liêng của Ki-tô giáo từ sự kiểm soát của Hồi giáo.  Tất cả các cuộc Thập tự chinh này đều có một mẫu số chung: Tất cả đều thất bại.

            Đó là lời giải thích tại sao người Ả Rập tin vào những tri thức lịch sử cổ điển.  Họ có một trí nhớ dai và mang trong lòng một mối thù thâm căn cố đế.   Nhiều người Ả Rập tin vào một huyền bí mà họ gọi là “forces of history”, hay “lịch sử lực”.  Gót giầy của quân đội Tây phương có thể dẫm đạp trên cát các nước Ả Rập; họ có thể giết nhiều người Ả Rập; họ có thể chiếm đóng Trung Đông trong nhiều năm.  Nhưng cuối cùng, người Ả Rập tin vào lịch sử rằng, quân đội Tây phương sẽ phải cuốn cờ cút khỏi Trung Đông hay bị Trung Đông hấp thụ. 

            Sự xâm lăng và chiếm đóng của Tây phương, cùng với sự đe dọa của Hồi giáo, đang bật cái công-tắc điện cho quan niệm Jihad (hay có người còn dịch một cách không mấy chính xác là “thánh chiến”.)   Trong ý nghĩa đơn giản nhất, Jihad có nghĩa là tự vệ.  Kinh Koran viết. “Và chiến đấu vì Thượng đế chống lại những kẻ gây chiến chống lại con, nhưng đừng đi xâm lược người khác, bởi Thượng đế không thương kẻ xâm lược.  Trong tín lí Hồi giáo, xâm lược là một ý niệm khá phổ thông.  Tự vệ chống lại xâm lược là một nghĩa vụ thánh thiện của tín đồ Hồi giáo.

            Nhưng trong tâm trí người Mĩ, Jihad và Thập tự chinh là hai cái gì mơ hồ, nhập nhằng.  Osama bin Laden và đồng nghiệp của y không ngớt đề cập đến Jihad trong cuộc vận động cho những mục tiêu bệnh hoạn của y.  Trong phần lớn báo chí Mĩ, bất cứ người Ả Rập nào với một quả bom là đang có hành động Jihad, bất kể người đó có được quần chúng ủng hộ hay không.

            Nhưng còn đại đa số người theo đạo Hồi thì sao?  Hai tuần trước đây, trong lúc Mĩ tuyên bố tấn công Iraq, có một tiếng nói quyền lực nhất trong thế giới Hồi giáo Sunni (giáo phái này chiếm 80% tín đồ Hồi giáo trên thế giới) xuất phát từ Đại học al Azhar (Cairo, Ai Cập).  Các học giả Hồi giáo ở đây ra một tuyên ngôn, mà trong đó họ nói về một cuộc “Thập tự chinh mới” (New Crusade).  Bản tuyên ngôn của họ có đoạn viết: “Theo luật Hồi giáo, nếu kẻ thù bước vào lãnh thổ của người Hồi giáo, Jihad trở thành một bổn phận của tất cả các tín đồ Hồi giáo – nam hay nữ.”   Bản tuyên ngôn kêu gọi tín đồ Hồi giáo trên khắp thế giới đứng lên tự vệ trước mối đe dọa của Tây phương – Ki-tô giáo đến các quốc gia và giáo lí của Hồi giáo.  Do đó, cái luận điệu do một nhóm người Hồi giáo quá khích sử dụng đang trở thành một luận điểm cho một phong trào chống Ki-tô giáo của mọi người Hồi giáo.

            Trong các cuộc Thập tự chinh, chiến tranh không khi nào tách rời từ những hậu quả sau đó.  Trong quan điểm lịch sử, người Ả Rập biết rằng người Mĩ muốn hồi hương càng sớm càng tốt.  Chính phủ Mĩ không muốn ngân hàng quốc gia Mĩ phải phá sản, và cũng không muốn lưu lại Ả Rập quá lâu. 

            Người Ả Rập hiểu được người Mĩ, và muốn làm cho người Mĩ Thập tự chinh phải mệt mỏi, và sa lầy vào cái nơi mà họ muốn chinh phục.

            Trong tất cả các cuộc chiến Thánh giá, cuộc Thập tự chinh thứ ba do Richard the Lionheart (Richard tim sư tử), từ 1187 đến 1192, thu hút người Ả Rập một ấn tượng nồng nàn và sáng chói nhất.  Đó không phải là một câu chuyện về đàn áp dã man của kẻ xâm lăng, mà là niềm hân hoan chiến thắng do Saladin đem lại cho người Ả Rập.  Chính Saladin là người đã đánh bại và nghiền nát đội quân Thập tự chinh vào năm 1187 trong trận đánh Hattin.  Qua chiến thắng này, Saladin trở thành một anh hùng vĩ đại còn tồn tại mãi mãi trong lịch sử người Ả Rập, vì ông được xem là người bảo vệ tín ngưỡng Hồi giáo và giương cao ngọn cờ Jihad. 

            Vài năm trước đây, trước khi qua đời, Tổng thống Syria là Hafez Assad tự hào treo trong phòng làm việc của ông một bức tranh mô tả thiên anh hùng ca trong trận đánh Hattin của Saladin.  Assad còn thích chỉ vào bức tranh và nói với các quốc khách ngoại giao rằng một Saladin sẽ tái xuất hiện trong cộng đồng người Ả Rập vào một ngày nào đó.

            Bất cứ một sự xâm lăng hay chiếm đóng nào của người Mĩ, những hồi tưởng về người hùng Saladin vẫn không thể phai nhòa trong kí ức của người Ả Rập.  Đối với người Hồi giáo và Ả Rập, được giải tỏa với danh nghĩa gì, những thái độ và hành động xâm lấn, gây hấn mà Mĩ và thế giới Tây phương ngày nay đang theo đuổi đều được nhìn dưới lăng kính của một cuộc Thập tự chinh mới dưới sự điều khiển của một nhóm theo đạo Ki-tô giáo bảo thủ ở Tòa bạch ốc. 

            Đâu đó, có lẽ ở vùng Tây Bắc Pakistan, Osama bin Laden và đồng bọn của y đang vui cười.  Y đã thành công mĩ mãn trong việc châm ngòi cho một cuộc xung đột văn minh, mà Samuel Hungtington từng tiên đoán, ở một qui mô mà có lẽ chính y cũng chưa từng mơ tưởng đến.

 

arrow.gif (848 bytes)  Về trang Nghiên cứu & đối thoại tháng 4-2003

 

Home  |  Top Page | Về trang mục lục

© Thư từ và bài viết cho mục này, xin gởi attachment về email: giaodiem@giaodiem.net

. ..........