curley_sw_03.gif (1967 bytes)   Nghiên Cứu và Đối Thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw_03.gif (1967 bytes)

.......... .


Chế độ Saddam là một du nhập từ Tây phương (*)         

       Trong thế giới Tây phương, kiến thức lịch sử của người dân thường rất nghèo nàn, và ngay cả ý thức lịch sử cũng không khá gì.  Chẳng hạn như ngày nay người ta thường lí luận rằng cái chế độ chính trị hiện đang tồn tại ở Iraq là hiện thân của truyền thống Hồi giáo và Ả Rập.  Lí luận này hoàn toàn sai lầm.  Chế độ mà Saddam Hussein đang ngự trị không có một quá khứ lịch sử nào mang tính Hồi giáo hay Ả Rập, nhưng là một sự du nhập tư tưởng từ Âu châu.

            Năm 1940, Chính phủ Pháp chấp nhận thất bại và kí kết hiệp ước hòa bình với Đức quốc xã.  Nhưng các thuộc địa của Pháp như Syria và Lebanon vẫn chịu sự chi phối của chính phủ Vichy, và do đó, bọn Nazis muốn làm gì thì làm đối với các nước này.  Syria và Lebanon trở thành căn cứ quan trọng cho hoạt động tuyên truyền của Đức quốc xã ở Trung Đông.  Bọn Nazis mở rộng hoạt động của họ từ Syria và Lebanon sang Iraq và các nước chung quanh.  Đó là thời gian mà Đảng Baath Party được thành lập.  Và, như là một "clone", Đảng Baath có cùng phương pháp và cùng ý thức hệ với đảng phát-xít Nazis.  Đảng Baath thậm chí còn có cơ cấu tổ chức và hoạt động giống như Đảng Nazis, với đầy đủ các cơ quan theo dõi, bắt bớ và giam cầm như trong các thể chế độc tài ở Âu châu.  Đảng Baath không phải là một đảng phái theo chế độ dân chủ ngày nay ở phương Tây, nhưng là một công cụ của chính quyền.  Đó là bối cảnh ra đời và nguồn gốc của Đảng Baath.

            Khi chế độ Đức quốc xã sụp đổ, và một thời gian sau, nó được thay thế bằng chế độ Liên Xô như là một lực lượng chống lại Tây phương.  Sự điều chỉnh từ mô hình Nazi sang mô hình cộng sản là một quá trình khó khăn, và gặp nhiều vấn đề.  Đó là điểm xuất phát của chính phủ hiện nay ở Iraq.  Như tôi đã có lần phát biểu trước đây, Đảng Baath, tự bản chất, không mang một di sản Ả Rập hay Hồi giáo.  Chế độ ở Iraq là một sàn phẩm của sự thành công [nhưng tác hại] của Tây phương hóa xảy ra ở Trung Đông.

            Khi Tây phương hóa bị thất bại ở Trung Đông, người dân có khuynh hướng "về nguồn".  Họ tái định nghĩa "cái tôi", tìm về bản sắc văn hóa Ả Rập, xem xét những giá trị đạo đức cổ.  O83 đây, dĩ nhiên, tôi muốn nói đến tôn giáo.

            Tôn giáo có nhiều lợi thế.  Thông điệp của tôn giáo vừa gần gũi, vừa dễ hiểu đối với tín đồ Đạo Hồi.  Các khẩu hiệu quốc gia chủ nghĩa hay xã hội chủ nghĩa cần có giải thích người ta mới hiểu được, nhưng khẩu hiệu tôn giáo thì không cần một giải thích nào mà ai cũng có thể hiểu và cảm nhận được.  Điều tôi muốn nói là ngay cả đối với một nhà độc tài dã man cũng không thể nào trấn áp một sự đối kháng tôn giáo có định nghĩa.   Trong nhà thờ Hồi giáo, người ta gặp nhau và thảo luận.  Trong các nước phát-xít, họp hội, mít-tinh thường bị kiểm soát chặt chẽ, thậm chí cấm.  Sự cấm đoán này không có trong Hồi giáo.  Các phong trào Hồi giáo đối lập có thể dùng ngôn ngữ quen thuộc đối với tất cả mọi người, và qua nhà thờ Hồi giáo họ có thể bắt liên lạc với một mạng lưới tổ chức lớn hơn.

            Điều này cho thấy dùng tôn giáo làm cơ sở hoạt động chính trị có một ưu thế lớn.  Thực ra, chế độ độc tài, qua việc loại bỏ đối lập, vô tình nuôi dưỡng các phong trào chính trị Hồi giáo.  Ngoài ra, họ còn có vài lợi thế trong việc cạnh tranh với các phong trào dân chủ.  Những phong trào này phải cho phép tự do ngôn luận, ngay cả với những người chống lại họ.  Nhưng những người đối lập thì lại không chấp nhận luật chơi của người dân chủ.  Thực vậy, cái học thuyết của phong trào chính trị Hồi giáo là họ có quyền bóp nghẹt những ý tưởng mà họ thấy là không đúng hay vô đạo đức -- một sự thiếu công bằng trong một cuộc cạnh tranh chính trị.

            Các phong trào tôn giáo chính trị còn có một lợi thế khác, đó là họ có thể khơi dậy cái truyền thống "ta" và "kẻ thù" vốn đã tồn tại trong thế giới Hồi giáo rất lâu đời.  Chúng ta có thể thấy, chẳng hạn như, trong thuật chép sử của người Hồi giáo.  Ở Tây phương, chúng ta có thể nói về lịch sử Âu châu là một sự đấu tranh chống lại người Moors, hay Tartars.  Nhưng nếu chúng ta nhìn vào cách viết sử đương đại của người Hồi giáo ở Trung Đông, cuộc đấu tranh của họ luôn luôn được định nghĩa bằng một ngôn ngữ tôn giáo.  Đối với giới sử học, họ đứng về phía Hồi giáo, người cai trị họ là Thượng đế của Hồi giáo, và kẻ thù được định nghĩa là những kẻ ngoại đạo.  Sự phân định như thế đang có cơ may hồi sinh một lần nữa.  Chúng ta thấy cái thói quen của Osama bin Laden là y nói về "kẻ thù" như là những "crusaders" (Thập tự quân).  Với "crusaders," bin Laden không muốn chỉ đề cập đến người Mĩ, Do Thái, mà là những đạo quân Ki-tô giáo từng xâm lấn đất đai của các nước Hồi giáo (nhưng thất bại) vào thế kỉ thứ 7.  Bin Laden nhìn đó là một cuộc đấu tranh một mất một còn giữa hai tôn giáo.

            Tôi nói lại một lần nữa: Đổ thừa Hồi giáo và truyền thống Ả Rập cho sự hình thành của chế độ Saddam Hussein là hoàn toàn sai lầm.  Những truyền thống đó đã đưa đến sự phát triển các xã hội (dù thiếu dân chủ theo cảm nhận của Tây phương) và cho ra đời các chính phủ với hạn chế quyền lực.  Tức là, các chính phủ này thường bị giới hạn bằng thánh luật, giới hạn trong ý nghĩa thực tiển vì sự hiện diện của các nhóm quyền lực trong xã hội, giống như tầng lớp quí tộc trong thôn quê và các cơ chế quân sự cũng như tôn giáo.  Cái ý tưởng "toàn quyền" hoàn toàn xa lạ đối với Hồi giáo cho đến khi hiện đại hóa làm cho nó trở thành một ý tưởng thời thượng.

            Cái mà quá trình hiện đại hóa làm là đem lại ý niệm về củng cố chủ quyền quốc gia, và đặt cái quyền này vào một bộ máy có khả năng kiểm soát và khống chế.  Hiện đại hóa còn làm cho các thế lực trở nên yếu kém hơn, mà trước kia chỉ giới hạn trong các thế lực của nhà nước và đóng vai trò một lực lượng cân bằng.  Hiện đại hóa có nghĩa là làm thay đổi các thành phần thượng lưu sống trong các nông trại thành những thành phần thượng lưu xem nhà nước là cái nông trại của họ.

            Hiện đại hóa chưa xóa bỏ một thực tế là người Hồi giáo ở Trung Đông có một chính phủ có trách nhiệm hạn chế.  Dù không phải là dân chủ, cái truyền thống này chia xẻ nhiều đặc tính dân chủ với các chính phủ Tây phương.  Tôi tin rằng nó cung cấp một cơ bản tốt cho việc phát triển thành những cơ sở dân chủ -- như đã từng xảy ra ở các nơi khác trên thế giới.  Tôi vẫn lạc quan một cách thận trọng cho tương lai.

(*) Nguyễn Văn lược dịch từ bài viết "Saddam's regime is a European import", của Bernard Lewis, đăng trên National Post (số ra ngày 8 tháng 4 năm 2003).  Bài viết này là một luận văn trích từ bài nói chuyện tại trong Hội nghị thường niên Barbara Frum lần thứ 8 tổ chức tại Toronto, Canada.

Ghi thêm của người dịch:  Bernard Lewis là cựu Giáo sư Cận đông học (Cleveland E. Dodge Professor of Near Eastern Studies), tại Đại học Princeton.  Ông viết nhiều sách về Hồi giáo, kể cả cuốn mới nhất (tháng 3 năm 2003), The Crisis Of Islam: Holy War And Unholy Terror (Cuộc khủng hoảng trong Hồi giáo: thánh chiến và khủng bố tội lỗi).

 

arrow.gif (848 bytes)  Về trang Nghiên cứu & đối thoại tháng 2-2003

Home  |  Top Page | Về trang mục lục

© Thư từ và bài viết cho mục này, xin gởi attachment về email: giaodiem@giaodiem.net

. ..........