curley_sw_03.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard   curley_sw_03.gif (1967 bytes) 

.......... .
 
  • Biện hộ cho một nhà bác học. 

Nguyễn Hùng Vũ.

Bài này tôi xin kính tặng bác học Albert Einstein, để biện hộ cho ông về những nhận định sai lầm của một trí thức Công Giáo.

     Cuốn Thế Kỷ của ông Nguyễn Văn Chức do báo Làng Văn in, dầy khoảng 240 trang, xuất bản năm 1999, đề giá 14 mỹ-kim. Gọi là sách nhưng đây chỉ là một tổng hợp những bài đã được ông Chức viết trong khoảng một thập niên, nay tổng kết lại và in thành sách.

     Sách được chia ra làm 3 phần. Phần 1 tựa đề Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng, trong đó tác giả suy nghĩ về con người, suy nghĩ về đạo Phật, phê bình cuốn Đối Thoại Với Đức Giáo Hoàng của nhóm Giao Điểm. Phần 2 với tựa đề Bước Qua Ngưỡng Cửa Tuyệt Vọng, tác giả phê bình Tiểu Thuyết Vô Đề của Dương Thu Hương, Mặt Thật của Bùi Tín, và Đêm Giữa Ban Ngày của Vũ Thư Hiên. Phần 3 là một phụ lục liên quan đến bài Tự Bạch của Dương Thu Hương và bài trả lời của bàThụy Khuê.

     Người viết bài này không quen biết ông Chức, chỉ được nghe tiếng ông là một cựu nghị sĩ và luật sư, và có biết đến ông qua lời người khác hay do sách người khác viết kể về ông. Tôi cũng không hề quen biết những người viết cho Giao Điểm, chỉ nghe tên vì tôi đã có đọc qua những bài viết của họ viết cho báo chí hải ngoại. Tôi cũng chưa hề đọc cuốn Đối Thoại Với Đức Giáo Hoàng. Vì thế, những gì tôi viết trong bài điểm sách này chỉ chú trọng vào một số điểm ông Chức viết.  Xin xem nó như một nhận định và trả lời ông Chức có tính cách cá nhân của một độc giả đứng ngoài cuộc. Ngoài ra, tôi cũng xin miễn bàn đến phần 2, là phần thiên về chính trị.  Những sự việc này xẩy ra đã lâu, mất đi nhiều thời gian tính. Vì thế, bài này không phải là một thẩm định đầy đủ, và như thế, chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Hy vọng trong tương lai sẽ có những bài phê bình đầy đủ hơn.

     Trước hết, lật qua những trang sách, tôi nhận thấy: bằng những lý luận khá sắc bén, ngôn ngữ sáng sủa, trình độ kiến thức khá cao của một trí thức Công Giáo, cộng thêm những khả năng nghề nghiệp sẵn có trong việc xử dụng ngôn ngữ đã trở thành thói quen, ông Chức đã thẳng thắn trả lời nhóm Giao Điểm đâu ra đó. Điều tôi thán phục là ngòi bút ông cho thấy ông là một người tương đối có bản lãnh, chứng tỏ một tư cách, một sự thẳng thắn, công tâm của một tín đồ Công giáo trung tín và giầu đạo đức. Ông có được một niềm tự hào lớn về tôn giáo và xác tín của ông. Ngần ấy những giá trị như thế, cộng thêm những ý kiến khá xác đáng về triết lý Phật Giáo, đáng được độc giả như tôi kính nể và cảm thấy những gì ông viết cần được lắng nghe. Nói chung, qua những gì ông viết, độc giả có thể cho ông là một “proud old man”, “một cụ già kiêu hãnh”, của thế hệ đàn anh, tuy rằng giới trẻ cấp tiến bây giờ có thể sẽ xếp ông vào lớp già nua và bảo thủ. Bảo thủ những gì ông tin tưởng.

Tuy nhiên, sau những nhận định lạc quan khá vội vã như thế về ông Chức, tôi khựng lại. Khựng lại vì một số chi tiết kỹ thuật cũng như quan niệm của ông mà tôi dần dà khám phá ra sau khi tôi đọc kỹ lại phần đầu cuốn sách. Quả thật, tôi thấy quyển Thế Kỷ có một số khuyết điểm, chẳng hạn như lối nói rhetoric (lối nói phô trương gây tác động tâm lý)

     Một trong những điều gây ấn tượng không tốt là ngôn từ ông Chức. Văn phong ông mang khá nhiều tính chất hung hãn. Lời văn lối viết nhiều lúc có vẻ sẵng, nóng nẩy đối với những gì ông bất đồng ý kiến. Khi phê bình ông Trần Chung Ngọc và so sánh bài ông Ngọc với bài viết của thánh Gandhi, ông Chức đã viết như sau “nó có giá trị hơn ngàn vạn lần bài viết...” Lẽ ra, ông Chức chỉ cần viết “có giá trị hơn nhiều” là đủ. Ông Chức còn chê ông Ngọc “sai một cách thô bạo” qua cách ông Ngọc dịch chữ “context” Điều này quá đáng. Chê “sai” là đủ, chê “sai một cách thô bạo” trong trường hợp này là lạm dụng và đi quá trớn của sự bắt bẻ và những trầm tĩnh cần thiết của ngòi bút. Chữ “thô bạo” thường không được dùng để chỉ sự sai lầm. Cách ăn uống, cử chỉ, thái độ có thể thô bạo, nhưng sai thì chỉ có thể sai “be bét” hay sai “hoàn toàn” hay sai “tệ hại”

     Tuy nhiên, chữ thô bạo lại được chính ông Chức vung vãi khá nhiều trong cuốn Thế Kỷ.

Theo tôi, ông Chức có quyền nóng, giận, kể cả khinh bỉ, nhưng biểu lộ trên ngòi bút một cách hung hăng như thế sẽ bất lợi và không hiệu quả, nhất là với những người đã lớn tuổi như chính ông. Sự nhã nhặn cần thiết của một cuộc đối thoại không hề có. Tại sao? Ngoài ra, ông Chức còn thích dùng câu nói sau đây “nếu kể ra cho hết, sẽ tốn quá nhiều giấy mực” Đây chỉ là lối nói quá khích thiếu tư cách ngòi bút, dễ làm mất thiện cảm của người đọc.

(Khá khôi hài! Ông Chức khen ông Đặng Nguyên Phả và Nguyễn Tử Đóa về cung cách khiêm cung của hai vị này nhưng tôi thấy ngòi bút của chính ông lại không được khiêm cung cho lắm.)

     Một vấn đề khác: có một số chữ của tác giả Giao Điểm bị ông Chức bắt bẻ là dịch sai nhưng thực ra không sai, điển hình như chữ creation (sự tạo dựng, sáng tạo, tạo vật), evil (sự ác, sự xấu, tội lỗi) cũng như chữ incertain được ông dịch là mập mờ, trong khi đó, đáng lẽ phải được dịch là không quả quyết. Mập mờ nhiều nghĩa (ambiguity, veiled, nebulous, evasive, shadowy) và uncertain (thiếu quả quyết) không hoàn toàn giống nhau. Ông Chức còn dịch chữ mindý thể. Theo tôi: không đúng và khó hiểu. Mind phải được dịch là trí tuệ hay tâm trí như tôi thường biết, vì trí tuệ bao gồm khả năng học hỏi cũng như nhận thức và suy luận một cách hợp lý. Ngoài ra, trí tuệ còn chỉ khả năng suy nghĩ trừu tượng, khả năng tưởng tượng và nhất là tài sáng tạo, như trong những lãnh vực nghệ thuật, âm nhạc, khoa học, toán học, luận lý, vượt ra ngoài biên giới của cụ thể và hữu hình.

     Còn khá nhiều điểm khác ông Chức chê bai bắt bẻ về về cách dịch thuật, cũng như hiểu sai câu nói của người đối thoại, tôi đọc không đồng ý nhưng tạm bỏ qua vì không phải vấn đề chính.  Đó chỉ là những điểm ngoài lề không đáng kể.

Một nhận xét nữa: Ông Chức viết sai khá nhiều tên của những vĩ nhân. Ví dụ, Immanuel Kant bị ông viết thành Emmanuel, Gandhi viết thành Ghandi (p31), Sakharov viết thành Sakkharov (p118), Van Gogh viết thành Vangoh (p116), Einstein viết thành Eisntein và Eistein (p29).  Planck viết thành Plank (p51). Những khuyết điểm chính tả này tuy không làm giảm giá trị nội dung bài viết, nhưng nó làm cho người đọc có cảm tưởng người viết viết vội, viết tháu, không cẩn thận nhờ người đọc bản thảo của mình trước khi đưa cho nhà in (một điều hết sức cần thiết trong việc in sách) Điểm này có thể bị những độc giả khó tính chê là thiếu kiến thức và cẩu thả. Đây là những sơ sót gây tai hại cho tác phong một cuốn sách. Tôi cũng không kể đến một số lỗi chính tả nhan nhản trong sách.

     Trở lại vấn đề chính. Đọc cuốn Thế Kỷ, tôi hoàn toàn bất đồng ý kiến với ông Chức về 2 điểm: quan niệm Thượng Đế của Einstein, cũng như triết lý tái sinh, luân hồi của đạo Phật. Bài viết này sẽ xoay quanh hai điểm ấy để tranh luận với ông Chức.

Khá ngẫu nhiên, Albert Einstein cách đây vài tháng được tuần báo Times tôn là đệ nhất vĩ nhân của thế kỷ 20, và được tôn là một trong 10 khoa học gia tên tuổi nhất. Những khám phá vật lý của Einstein tôi không cần phải nhắc lại. Vấn đề tôi muốn nêu ra để bàn cãi ở đây là: Ý niệm Thượng Đế hiểu theo quan niệm của Einstein có giống như của ông Chức đã viết hay không?

     Khi đọc Einstein về những quan niệm Thượng Đế của ông, người đọc phải tự đặt cho mình một câu hỏi, “Đối với một bậc trí tuệ như Einstein, thế nào là Thượng Đế?” Sự cẩn trọng như thế rất cần thiết vì danh từ “Thượng Đế” qua bao thời đại đã mang rất nhiều nghĩa đối với người xử dụng, từ niềm tin của một tín đồ tôn giáo, cho đến quan điểm một vật lý gia, hay một luận lý gia toán học, hay một triết gia, thần học gia. Sách viết về quan niệm này thì vô kể.

     Qua lập luận của ông Chức, tôi thấy ông đã vội vàng một cách thiếu thận trọng khi ông nghĩ rằng “Thượng Đế” của Einstein hay của Niels Bohr cũng là Thượng Đế của tôn giáo, chỉ vì 2 danh nhân này đã nhắc đến chữ “Thượng Đế”. Điều này là một ngộ nhận khá tai hại.

     Ông Chức viết về Einstein như sau, “Ông tin có Thượng Đế148; (p29) và ông Chức “chứng minh” bằng cách nhắc đến cuộc tranh cãi giữa Einstein và Bohr trong những thập niên đầu thế kỷ 20, trong đó, hai vĩ nhân này đã nhắc đến danh từ Thượng Đế. Theo ông Chức, nhắc đến Thượng Đế ắt hẳn Einstein và Bohr phải tin Thượng Đế hiện hữu.

     Điều này là một ngạc nhiên lớn cho tôi cũng những ai đã từng đọc về Einstein và Bohr.

Biết về một cuộc tranh cãi như thế là có kiến thức tổng quát đấy, nhưng cái kiến thức đó vô ích và còn tai hại nếu không biết rằng tại sao 2 vĩ nhân đó lại cãi nhau, cãi nhau trên phương diện gì, như thế nào, ngã ngũ ra sao, và vấn đề Thượng Đế dính dáng thế nào, ý nghĩa như thế nào trong cuộc tranh luận. Và quan trọng nhất, ý niệm Thượng Đế trong cuộc tranh luận đã đem lại được ý nghĩa gì mới cho tri thức khoa học trong việc xác định bản chất của vũ trụ dưới cặp mắt của Niels Bohr hay Einstein, là những tư duy lớn của thế kỷ 20.

     Tôi nghĩ phần lớn những ai đọc qua Einstein đều hiểu ý nghĩa danh từ Thượng Đế ông dùng, có lẽ ngoại trừ ông Chức. Tôi nghĩ Einstein và Bohr không hề quan niệm và tin vào một Thượng Đế của tôn giáo, một hình thức personal God (Thượng Đế của một niềm tin cá nhân dựa trên những quan niệm tín ngưỡng thông thường)

     Theo quan niệm của Einstein, danh từ Thượng Đế ở đây chỉ sự hài hòa và trật tự của thiên nhiên, thể hiện qua những định luật vật lý của vũ trụ, như triết gia Spinoza đã quan niệm. Spinoza là triết gia được Einstein tôn trọng nhất, nhưng chỉ vì những quan niệm cởi mở của Spinoza khi ông đồng hóa Thượng Đế với thiên nhiên vũ trụ, ông đã bị tòa thánh La Mã dứt phép thông công. Ông Chức có lẽ cũng đã rõ điều này.

     Về điểm này, ông Chức hiểu sai. Kiến thức chúng ta nói chung rất ít, nhưng những thiên kiến, ngộ nhận, cũng như tin tưởng thì rất nhiều. Nếu không rõ vấn đề, ta có thể đọc kỹ lại sách, hay nhờ một chuyên gia chỉ bảo, sẽ hiểu vấn đề, miễn là cá nhân mình thực tâm muốn tìm hiểu sự thật. Tôi thì tôi không nghĩ ông Chức cố tình đồng hóa “Thượng Đế của Einstein” với “Thượng Đế của tôn giáo” mà xem đây chỉ là một ngộ nhận không có gì đáng ngạc nhiên của một người không rõ vấn đề.

     Một điểm khác: ông Chức đã nhận định sai khi ông viết “...Isaac Newton, cha đẻ của vật lý học hiện đại  (p 49).

Newton được xem là ông tổ môn vật lý cơ học cổ điển (classical physics hay Newtonian physics) nhưng Einstein mới chính là vật lý gia điển hình cho nền vật lý hiện đại, còn được gọi là Einsteinian physics để tôn vinh ông, với những quan niệm mới về không-thời gian và vật chất cũng như sự tương quan mật thiết của những quan niệm này, cộng thêm những khám phá mới như vận tốc tuyệt đối của ánh sáng và sự loại bỏ môi trường ether. Newton phát minh ra differential vector calculus (cũng như Leibniz) còn Einstein khai triển ra tensor calculus để áp dụng cho suy tưởng vật lý của ông. Hai hệ thống toán học này hoàn toàn khác nhau, một bên thuộc về Euclidean-hình học phẳng, một bên thuộc về non-Euclidean hay còn gọi là hình học Riemannian.

Người ta thường nói “trước Einstein” hay “sau Einstein” cũng như “trước Darwin” hay “sau Darwinho thấy tầm vóc và địa vị của họ đối với khoa học quan trọng như thế nào.

     Tuy nhiên, tôi nghĩ điểm hiểu lầm trên của ông Chức không là một lỗi nặng cần phải chỉ trích.  Một điểm khác theo tôi đáng phàn nàn hơn. Đọc một câu ngắn, độc giả có thể nhận ra ông Chức đã tin và suy nghĩ về Thượng Đế như thế nào. Hãy xem ông viết như sau: trang 43, ông Chức cho rằng “một chiêm tinh gia có thể biết trước số mạng của chúng ta, huống chi Thiên Chúa” Tôi ngạc nhiên và tự hỏi: vì lý do gì ông Chức đã khẳng định là Thiên Chúa biết trước?  Thế nào là biết trước? Về điểm này, ông Chức chê Giao Điểm là “chỉ có khẳng định” nhưng theo tôi ông còn khẳng định gấp mười lần! và còn khẳng định một cách vô căn cứ. Hãy chỉ cho tôi một chiêm tinh gia nào làm thí dụ?

     Thượng Đế là danh từ về một quan niệm thần học siêu hình. Từ thượng cổ cho đến hiện đại, ý niệm Thượng Đế chỉ có thể được tư duy ve࠴rên mặt thần học và triết lý, không ai có thể quả quyết Thượng Đế là như thế nào. Việc gán ghép cho Thượng Đế những khả năng tiên tri là phản khoa học. Hơn nữa, tôi e rằng khi ông Chức so sánh khả năng đoán mò tương lai để kiếm miếng ăn của một ông chiêm tinh gia nào đó với ý niệm Thượng Đế thiêng liêng chính ông đang tôn thờ là một sự tự sỉ nhục chính lý trí và niềm tin của ông.

     Nếu tôi không lầm, thì trong kinh thánh có một lời răn đe là “Chớ kêu tên Đức Chúa Trời vô cơ; Nếu suy luận và hiểu theo nghĩa bóng, thì đây không phải là sự cấm gọi tên Thượng Đế qua cửa miệng, mà là sự cấm quy ghép bừa bãi giữa những gì xẩy ra chung quanh ta, những gì mà ta không hay chưa giải thích được, vào niềm tin là “Thượng Đế đã sai khiến ra như thế”. Sự thật là: Thượng Đế không “sai khiến” gì cả, Thượng Đế cũng không “biết” trước gì cả. Ta có thể bị tai nạn, ta cũng có thể trúng số, những sự kiện đó hoàn toàn có tính cách may mắn hay rủi ro. Gán ghép những sự việc như thế trực tiếp vào bàn tay Thượng Đế là một mê tín phản Thượng Đế và phản trí tuệ. Một con thuyền chở người tị nạn có thể đến bờ tự do bình yên, nhưng cũng có thể bị hải tặc cướp bóc hay bị sóng gió nhận chìm. Những điều này là hiểm tai của cuộc sống, những may rủi thường trực của kiếp người. Gán ghép và ủy thác số mệnh mình vào sự che chở của Thượng Đế là một hình thức tri ân thiêng liêng cần tôn trọng, nhưng tin tưởng chắc chắn và tuyệt đối rằng chính Thượng Đế đã “làm” ra thế để thưởng phạt chúng ta là làm nhục Thượng Đế. Những tín hữu công giáo thường cầu nguyện hay làm dấu trước bữa ăn, là một hình thức mang ý nghĩa tri ân có tính cách uống nước nhớ nguồn, nhưng không ai lại có thể suy nghĩ là chính Thượng Đế đã trực tiếp ban phát thực phẩm cho chúng ta. Hàng ngày, có hàng triệu trẻ thơ Châu phi hay Ấn độ đi ngủ bụng đói và hàng năm có hàng triệu trẻ em trên khắp thế giới chết một cách đáng thương vì thiếu dinh dưỡng. Tôi khó mà tưởng tượng nổi một đứa bé Châu phi gầy gò hốc hác bụng ỏng chắp tay cầu nguyện một đấng thiêng liêng toàn thiện nào đó đã cho nó phải nhịn đói trước một cái chén chỏng chơ không có một mẩu bánh mì trong khi đó những xã hội Âu Mỹ thức ăn thừa đổ đi không hết (Phê bình gia Martin Gardner xem sự cầu nguyện cám ơn trước bữa ăn là một thói quen giả hình.)

      Hãy bàn qua một ví dụ khác: ông Chức cho rằng một máy điện toán thế kỷ 20 có thể tính trước ngàn điều chúng ta không biết. Tôi xin mở ngoặc mạn phép tạm giải thích như sau về một ít đặc tính của máy tính điện tử.

Chắc ông Chức cũng nghe câu “garbage in, garbage out”? Máy điện tử chỉ là một thứ “bắp thịt” thuần túy, vì nó không có trí tuệ, mà chỉ có khả năng thi hành. Nó chỉ là một tên đầy tớ đắc lực, rất nhanh chóng, vậy thôi! Nó không thể nào làm những gì ông muốn nó làm, mà chỉ có thể làm những gì ông bảo nó làm.   Bảo nó làm nhưng nếu viết sai một dấu phẩy trong một program thì nó chỉ còn là một đống sắt vô hồn! Nhét vào một algorithm không hợp lý, kết quả sẽ hoàn toàn ngoài ý muốn. Không có bộ óc con người, máy điện tử chỉ là một thằng người nộm, một đống sắt vụn. Khi máy tính Deep Blue của IBM thắng vô địch kỳ vương Kasparov trong trận thư hùng cờ tướng, không ai vỗ tay khen máy điện tử giỏi hơn hay biết hơn con người, vì chính những bộ óc của thảo chương viên đã thắng Kasparov, chứ không phải máy điện tử thắng. Cho nên nghĩ rằng “nó có thể tính trước ngàn điều chúng ta không biết” là sai lầm.

     Kỹ thuật điện tử tối tân hiện đại cho phép con người thực hiện hai điều: một là mô hình (modeling), hai là thử nghiệm (simulation) dựa theo những inputs nạp vào máy. Ví dụ: weather modeling, nuclear blast simulation, etc...nhưng trên thực tế, máy điện tử sẽ không “biết” gì cả.

      Tóm lại, qua một vài ví dụ, tôi nhận thấy tín ngưỡng KiTô của ông Chức là một tín ngưỡng cổ điển của thế hệ cha anh, thiếu khả năng suy luận và phán đoán cần thiết đặt trên những kiến thức khoa học trong thế kỷ 20, sắp sang thế kỷ 21. Đó là một điều đáng tiếc cho cá nhân ông Chức.

     Nhưng để trở lại cái sai lầm mà tôi nghĩ là tai hại nhất của ông Chức, và chính cái sai lầm này đã đánh mất nhiều giá trị của phần 1 cuốn Thế Kỷ.

Tôi xin viết nguyên văn lời ông Chức trang 51, trong đoạn ông trả lời ông Nguyễn văn Thọ:

Thế nghĩa là gì? Thế nghĩa là: tất cả những bộ óc siêu việt trong lãnh vực khoa học, những Albert Einstein, những Max Plank, những Niels Bohr – và còn ai nữa? – tất cả đều nhìn nhận rằng có Thượng Đế, có Đấng Tạo Hóa. Họ đều nhìn nhận rằng: vũ trụ này không thể bởi không mà ra, phải có một đấng Tạo Hóa dựng nên. Cũng như chúng ta không thể bởi không mà ra, phải có cha mẹ sinh ra.”

     Tôi xin chữa hộ ông Chức: Max Planck, chứ không phải Max Plank. Và: ông Chức dường như không có những kiến thức về những khám phá vật lý hiện đại cũng như vũ trụ học. Chính vì sự thiếu kiến thức này cho nên ông Chức đã áp dụng sai lầm thứ lôgic cổ điển thông thường vào những vấn đề không thể dùng thứ lôgic thông thường để suy luận, như vấn đề khởi thủy của vũ trụ.

Nhưng trước hết, tôi xin hỏi người đọc cảm thấy thế nào qua đoạn văn này? Nhất là bốn chữ “và còn ai nữa?” Tôi thấy ông Chức quả là có tài hùng biện, kiêm thêm khả năng hiệu triệu, cổ võ, chủ đích là gây những tác dụng tâm lý cần thiết cho câu văn, thay vì lý luận một cách có giá trị đặt trên một cơ sở kiến thức vững chắc và một thái độ bình tĩnh khách quan của người tranh luận. Đây có lẽ là ngòi bút và miệng lưỡi đanh thép của một luật sư hay công tố viện trong một vụ án hình quan trọng chứ không phải của một người cầm bút trọng tuổi đang giải thích những tế nhị khúc mắc của vấn đề tôn giáo bằng một thái độ cởi mở và tích cực. Nhưng chưa hết! sau khi viết như trên, đoạn kế tiếp ông Chức viết như sau:

Nhưng, Đạo Phật thì lại không thừa nhận có Thượng Đế, không thừa nhận có đấng Tạo Hóa

     Viết như thế, tôi thấy khá mánh khoé. Chữ “Nhưng” ở đầu câu được bỏ nhỏ, buông thõng một cách tai hại. Chữ Nhưng ở đây cũng tương đương như viết “Than ôi! Đạo Phật thì lại không thừa nhận có Thượng Đế...”

     Tôi có cảm tưởng tôi đang nhìn ông Chức đang chỉ tay luận tội, và chính Phật Giáo là bị cáo đang run rẩy đứng trên vành móng ngựa để nghe hỏi cung và lên án. Và lời than của ông Chức như là một kỹ thuật dứt điểm của một trạng sư đã lành nghề trong những vụ kiện tụng. Như thể ông Chức đã thắng vụ kiện và ông đang suýt soa lấy làm tiếc hộ cho sự sai lầm của Phật Giáo!

     Theo tôi, đoạn văn này còn chuyên chở một hàm ý sâu xa hơn. Nó cũng như viết rằng,

Thượng Đế hiện hữu là chuyện chắc chắn rồi, ai cũng biết, nhất là khoa học gia, tại sao Phật Giáo các anh lại không thừa nhận một sự thật như thế?”

     Theo tôi, ông Chức đã vô lý ở hai điểm. Thứ nhất, ông Chức đã dùng thứ chiến thuật áp đảo của số đông, tức là dùng miệng lưỡi một số khoa học gia để viện lẽ rằng Thượng Đế hiện hữu, nhưng tiếc là ông đã chỉ trích và viện dẫn một cách sai lầm. Ông Chức đã quên đi những quy tắc căn bản của việc chứng minh một điều gì đó là sự thật. Một triệu khoa học gia, một tỉ tín đồ “tin” vào một điều cũng không làm điều đó trở thành sự thật. Vấn đề tin tưởng hoàn toàn không thể có tính cách về hùa. Ta tin chỉ vì mọi người cùng tin như thế là một hành động theo đuôi thiếu tự chủ và lý trí, vì chỉ cần một phản chứng là cả triệu niềm tin cũng trở thành sai lầm. Kế đến, ông Chức chưa hiểu những khoa học gia đó đã dùng danh từ Thượng Đế theo ý nghĩa nào mà đã vội vơ vào trong lý luận của ông như một thứ vũ khí để phàn nàn và chỉ trích triết lý Phật giáo. Đó là một hớ hênh khác. Là luật sư mà lý luận sơ hở như thế thì quả thật hết sức lạ lùng đối với tôi.

(Những triết gia lớn qua bao thời đại như  Spinoza, Plato, Nicolas of Cusa, St. Augustine, Tillich, etc, theo tôi biết, đã quan niệm rất rộng rãi về ý niệm Thượng Đế, khác với những tín lý thông thường. Đọc về họ, cái hiểu của ta về ý niệm Thượng Đế trở nên sâu sắc, dung hòa và rộng rãi, mang tính chất khoa học, khác hẳn với những tín lý thông thường của những hệ thống giáo điều.)

     Tôi xin giải thích với độc giả tại sao tôi nói là ông Chức đã chỉ trích sai lầm bằng một thí dụ : Những ai đã học về cơ học Newtonian, đều nhận thấy rằng hệ thống cơ học cổ điển ấy chỉ có giá trị hữu hạn, và Newton đã phải tạo ra một số assumptions-giả định, để cho hệ thống cơ học của ông được hợp lý. Môi trường ether, một môi trường dẫn lực điện từ, là một trong những giả định của thế kỷ 19. Thế nhưng với suy nghĩ cách mạng của thuyết tương đối, Einstein đã loại bỏ trên lý thuyết môi trường ether sau những suy tư vật lý đặt căn bản trên lý thuyết toán học. Khi giới thiệu thuyết tương đối, Einstein bị khoa học gia đương thời chê trách và dè bỉu: Một ông vua không ngai như Newton, trong khi đó Einstein chỉ là một tay sinh viên người Đức gốc Do Thái quèn, Einstein lấy tư cách gì mà dám đụng chạm tới cơ học Newton? Nhưng tinh thần khoa học của giới vật lý đương thời không cho phép họ diễu cợt Einstein quá lâu. Những thí nghiệm hết sức khó khăn của hai khoa học gia Michelson/Morley đã cho thấy môi trường ether chỉ là một giả định sai lầm cần loại bỏ, và hệ thống cơ học của một vũ trụ cố định Newtonian, sau bao thí nghiệm kiểm chứng đã được thay thế bằng hệ thống kỷ hà học phức tạp của một Einstein vô danh. Đây là một cái bạt tai tinh thần gây tổn thương không ít cho tầng lớp trí thức khoa học Âu Châu thời đó. (Ngày nay, khi chúng ta nói rằng quả đất quay chung quanh mặt trời theo đường vòng hình trái xoan, chúng ta đang vô tình nhai lại một nhận định dựa theo những trực giác cũ, có nghĩa là chúng ta đang còn bị đóng khung trong một ý thức hệ cổ điển dựa trên luật hấp lực của Newton. Vì thực ra trái đất đang di chuyển theo một “đường thẳng”, một đường thẳng nằm trong hệ thống kỷ hà được gọi là geodesic path thuộc không-thời gian 4 chiều Riemann, và đây là một trong những điểm căn bản của thuyết tương đối mà một học sinh trung học có thể cũng đã biết. Cũng cần nói thêm, cơ học Newtonian vẫn còn được áp dụng một cách rất chính xác trong tất cả những ứng dụng về không gian. Không thể hàm hồ nói “Newton đã sai” Newton không sai. Cơ học của ông chỉ thiếu chính xác khi vận tốc di chuyển nhanh gần bằng vận tốc ánh sáng. )

     Trở lại với lý luận của ông Chức. Ông Chức đã hiểu lầm danh từ Thượng Đế, và ông đã lẫn lộn giữa 2 sự việc: một đằng là suy tưởng khoa học về những gì được xem là nền tảng nội tại của thiên nhiên và một đằng là quan niệm thần linh của một hệ thống thần học, và ông Chức đã ngộ nhận một cách sai lầm khi ông cho rằng Phật Giáo không thừa nhận có một đấng tạo hóa. Ông Chức dùng lý luận “cha mẹ sinh ra ta” để đưa đến kết luận là vũ trụ này phải từ một đấng tạo hóa mà ra. Đây là một lý luận non nớt, thiếu hợp lý, phản tiến hóa và thiếu tính chất khoa học vì bất cứ một ai cũng có thể hỏi vặn là đấng tạo hóa ấy từ đâu mà ra? Vấn đề first cause-nguyên nhân đầu tiên- này đã được bàn cãi trong một số lớn sách khoa học cũng như triết học. Vũ trụ bắt đầu từ một vi điểm cực nóng chi phối bởi nguyên lý lượng tử, và khoa vật lý lượng tử cũng như thuyết tương đối ngày nay đã chứng minh những lý luận đặt trên thứ ngôn ngữ cổ điển như  đầu tiên, trước, sau, cái này tạo ra cái kia, dài, ngắn, lâu, mau” chỉ có giá trị hữu hạn và tương đối.

     Những tín ngưỡng hàng ngàn năm về trước đã dùng ý niệm Thượng Đế hay thần linh như một necessary assumption hay presuppositions-giả định cần thiết - để giải thích sự hiện hữu của con người và vũ trụ, và họ quan niệm Thượng Đế ấy phải hằng hữu và tự hữu (nếu không thì họ sẽ bị vướng vào một khó khăn được biết là infinite regression) Khoa học hiện đại đã đặt lại vấn đề khởi điểm ấy một cách rõ rệt. Chỉ trong vòng hơn 3 thế kỷ, bao nhiêu giả định sai lầm của quá khứ đã được khoa học soi sáng. Những bộ mặt như Galileo, Copernicus, Kepler, Brahe, Bruno, Hubble, etc...đã cho con người hiểu rõ hơn vị trí thực sự của quả đất và mặt trời trong vũ trụ, cũng sự vận hành của thiên nhiên, bác bỏ những giả định sai lầm và những mô hình thiếu chính xác của Ptolemy, Aristotle, etc..

     Tiếc thay, nếu ông Chức hiểu biết phần nào những tiến triển khoa học hiện đại, nhất là những hiểu biết về những bộ môn vật lý thuộc vũ trụ học (cosmogenesis) thì có lẽ ông đã thận trọng hơn trong việc chỉ trích Phật Giáo. Và có lẽ ông Chức cũng khám phá ra được sự tự hiện hữu của vũ trụ không cần đến bàn tay của một đấng thần linh nào tạo dựng.

Tôi cũng xin nhấn mạnh rằng khoa học không phản chứng và chối bỏ ý niệm Thượng Đế, mà khoa học giúp chúng ta phản chứng và bác bỏ những gì không đúng về những gì mà ta nghĩ Thượng Đế “đã làm” Hai vấn đề khác nhau xa một trời một vực!

Sau đây là một lý luận phản chứng của tôi. Nếu vũ trụ là “sản phẩm” của một đấng Thượng Đế toàn năng như tín lý Ki-Tô đã tin thì vũ trụ này phải có một đặc tính bắt buộc là: hoàn tấttoàn thiện (finished and perfect) Hoàn tất và toàn thiện ở đây có nghĩa là nó bất biến (unchanging), hữu hạn (limited), và không tiến hóa được nữa, vì trong kinh thánh đã có nói Thượng Đế nghỉ ngày “thứ bẩy” sau khi việc tạo dựng đã hoàn tất. Vì lẽ dễ hiểu, một sản phẩm chưa hoàn tất thì làm sao gọi là sản phẩm hay tạo vật được! Nếu con người là một sản phẩm trực tiếp của Thượng Đế thì chúng ta sẽ phải giải thích ra sao với những với hàng triệu trường hợp trẻ em sinh ra quái thai, những tật bệnh di truyền, và sự biến đổi không ngừng của muôn loài? Hơn nữa, vấn đề khó khăn của siêu hình học là giải thích vì lý do nào một Thượng Đế hằng cửu lại tạo ra vũ trụ với chiều kích thời gian? Và tạo ra để làm gì? Sự tạo dựng là một “cần thiết” hay là một chuyện “làm cho vui” đối với Thượng Đế? Triết gia qua bao thời đại đã nát óc về vấn đề này. Có nghĩa là chỉ khi nào một Thượng Đế cảm thấy có nhu cầu cần thiết Ngài mới tạo ra loài người có trí khôn, nhưng sự “cảm thấy cần thiết” lại là một sự bất toàn và nghịch lý của chính ý niệm Thượng Đế. Vợ chồng có thể cảm thấy buồn rầu thiếu thốn vì không có con nối dõi, nhưng không thể áp dụng suy nghĩ này cho ý niệm Thượng Đế để lý luận rằng Thượng Đế muốn “sáng tạo ra vũ trụ trong đó có con người để vinh danh Ngài”, vì suy nghĩ như thế là phản lại ý niệm “tự hữu và tự túc”–self sufficient-của Thượng Đế.

     Không có con người hay vũ trụ thì Thượng Đế vẫn là Thượng Đế với tất cả những trọn vẹn, hoàn toàn, bất biến, và vũ trụ cũng như chúng ta chỉ là một sự góp mặt thừa thãi.

Cho nên, trên cả mặt khoa học lẫn siêu hình luận lý học, ý niệm Thượng Đế là một đấng sáng tạo toàn năng toàn thiện không đứng vững. Chính vì thế mà qua bao thời đại mới nảy sinh nhiều thứ triết lý và định nghĩa về vấn đề “thế nào là Thượng Đế” như những quan niệm deism, pantheism, panentheism.

Độc giả cũng có thể tham khảo thêm về các sách nói về nguyên lý Anthropic để hiểu rõ hơn.

     Sự thật cho thấy là: thay vì vũ trụ hoàn tất hay hữu hạn hay là một sản phẩm của một đấng toàn năng, trái lại vũ trụ học hiện đại cho thấy vũ trụ còn đang  tự biến đổi và tự bành trướng, mà lại còn bành trướng một cách kinh hồn càng lúc càng nhanh, và sẽ bành trướng cho đến vô tận! Điều này cho phép trí tuệ chúng ta nhận định: vũ trụ không chỉ cố định như thế này mà thôi, mà nó còn khả năng tự sáng tạo, tự biến dịch một cách lạ lùng, vượt ra ngoài khả năng hiểu biết của trí tuệ con người. Việc “tạo dựng” nếu có, như thế phải nói là chưa xong, trái ngược với huyền thoại trong sách Sáng Thế Ký.

     Bản chất thực sự của vũ trụ cho đến giờ này chưa ai khám phá nổi, ngay cả Einstein với trí tuệ siêu đẳng của ông. Bằng chứng là cho đến bây giờ, những vấn đề như “ảo chất”-dark matter -vẫn là một sự nhức nhối nan giải trong vũ trụ học mà không có một thuyết vật lý nào có thể nắm bắt được nó trên lý thuyết. Khi Einstein hoàn tất phương trình biến thiên của vũ trụ, gọi là tensorial metric equation, Einstein đã nắm trong tay được một bí mật vĩ đại và sâu thẳm của thiên nhiên, nhưng cũng có thể ví ông như một người tìm ra được một kho tàng chân lý nhưng ông chưa hiểu nổi ý nghĩa thực sự của kho tàng ấy. Khi so sánh với cái tổng thể của vũ trụ, con người không thể và không nên tự hào mình biết gì. Sự thực là: chúng ta chưa biết và chưa hiểu rõ được 1 phần trăm những gì cần hiểu.

     Newton tin tưởng vào Thượng Đế và một vũ trụ với một quan niệm không thời gian bất biến, và tuy ông là một bác học thượng thặng, Newton đã phải sử dụng một số giả định để hợp lý cơ học của ông. Ông đã lâm vào thế kẹt khi ông không giải thích nổi hiện tượng cách không truyền lực-action at a distance- và ông đành thú nhận sự bất lực của mình qua câu “hypotheses non fingo” “Tôi không nói đến giả thuyết ấy”

Einstein, trái lại, đã cho ta thấy vũ trụ này không phải là một “sân khấu” bất biến như Newton lầm tưởng, mà chính không gian lẫn thời gian là những diễn viên vô hình, trong khi vật chất và con người là những diễn viên hữu hình. Cái vô hình của vũ trụ và cái hữu hình của vật chất tác động hổ tương đến nhau một cách mật thiết qua những trường tương tác (interacting fields) mà trong đó, chính sự co dãnméo mó của không gian đã tạo ra những thứ ta nghĩ là vật chất. Khoa học vật lý cao cấp cho thấy trên lý thuyết con người và sự vật chỉ là sự biến dạng của không gian trong một hệ thống kỷ hà phức tạp, trong đó Einstein cho thấy năng lượng lẫn vật chất chỉ là một. Một hòn đá trên tay ta là một hòn đá đối với chúng ta, nhưng nó chỉ là một biến thể của không gian sau khi không gian trải qua giai đoạn “phá đối xứng” (symmetry breaking) và “chuyển thái” (phase transition) hiểu theo cái nhìn của một vật lý gia. Hòn đá như thế, không là một “thực thể” hay một “tĩnh vật”, mà chỉ là một “khối năng lượng”, một trạng thái đang tiếp diễn và là một giai đoạn chuyển tiếp tạm thời của không gian. Tôi không thể đi sâu vào vấn đề này, vì nó đòi hỏi người đọc phải quen thuộc với những lý thuyết vật lý cao cấp cũng như bản chất của chân không (properties of the vacuum)

     Ngôn ngữ và cách dán nhãn hiệu bất chính xác cho sự việc đã gây nhức đầu cho bao triết gia qua bao thời đại khi truy tìm bản thể của sự vật. Triết gia đã hết sức mệt mỏi vì nó, vì họ không có những căn bản vật lý để có thể tư duy một cách có ý nghĩa về vũ trụ như khoa học gia.

Và như thế, tôi đã phản chứng và cho thấy quan niệm “sáng tạo” ngày nay không còn phù hợp với khoa học hiện đại nữa. Vũ trụ là một cái gì đó tự hằng hữu, tự biến hóa. Chữ “sáng tạo” có lẽ cần được cập nhật hóa hay thay đổi để phù hợp với ngôn ngữ khoa học hiện đại.

     Tôi xin nói thêm: Với những khám phá vật lý không gian, khoa học gia ước định rằng vũ trụ này của chúng ta có thể chỉ là một trong hằng hà sa số vũ trụ với những định luật vật lý và hệ thống kỷ hà khác nhau. “Trước” chúng ta, có thể là vô tận, “sau” chúng ta, cũng có thể là vô tận. Thái Dương Hệ của chúng ta chỉ như là một hạt bụi nằm trong một đám tinh vân thuộc nhánh Orion của một thiên hà bình thường ta quen gọi là giải Ngân hà, và ngân hà này lại nằm trong trong một nhóm thiên hà (local cluster) thuộc vào một vũ trụ nhỏ quan sát được-observable universe. Vũ trụ “nhỏ bé” này lại nằm trong một hệ thống “vũ trụ bộc phát” cực kỳ lớn hơn (inflationary universe) và vũ trụ lớn hơn này lại nằm trong một siêu tầng vũ trụ (multiverse) và trong cảnh giới của siêu tầng vũ trụ này, thời gian, không gian, vật chất, nếu có, cũng không còn những ý nghĩa như trong vũ trụ chúng ta nữa. Khả năng suy tư của con người đặt nền tảng trên luận lý toán học đã cho phép con người đi quá giới hạn của không-thời gian để mà đến những cảnh giới nằm ngoài khả năng nắm bắt của nền kỹ thuật hiện đại. Và thứ ngôn ngữ cổ điển “trước, sau, trong, ngoài, trên, dưới” ta xử dụng thường ngày sẽ trở nên vô hiệu và sai lầm khi diễn tả những trại thái bất không-thời gian như thế.

     Và như vậy, đã đến lúc vai trò sáng tạo ra vũ trụ vật chất này của một “Thượng Đế” cần phải được suy xét lại. Phải chăng Thượng Đế trong vai trò “Tạo hóa” cũng chỉ là một trong những giả định như môi trường ether của Newton, được cổ nhân suy đoán ra như là một lý do để tìm cách giải thích thắc mắc “vũ trụ này ở đâu” mà ra, một điều mà khoa vũ trụ học ngày nay đã cho thấy là không còn cần thiết nữa? Vì thế, “vũ trụ này ở đâu, do ai sinh ra?” là một câu hỏi phi lý, hoàn toàn đặt trên thứ ngôn ngữ vô nghĩa (semantically meaningless)   ít ra là đối với một lý thuyết gia vật lý. Câu hỏi cần được đặt ra là, “vũ trụ theo hiểu biết khoa học hiện đại đã biến thể từ một trạng thái như thế nào?

     Vậy thì quan niệm Thượng Đế hiểu theo tín ngưỡng tôn giáo còn lại được vai trò gì trong vũ trụ vật chất? Và như thế, xin hỏi ý niệm và danh từ Thượng Đế có còn thích hợp như một giải thích có bằng chứng cho những gì xẩy ra chung quanh ta hay không?

Và đó cũng là những điểm gây khó khăn cho những tôn giáo nào đã đặt quá nhiều giải thích vào bàn tay của một ông thần ta quen gọi là “Thượng Đế”. Đây là cái tôi muốn nêu ra để gợi ý cho những độc giả nào hay suy nghĩ về những điều mình vốn vẫn tin là sự thật (một điều rất khó làm)

     Tôi xin nhấn mạnh: câu hỏi này của tôi hoàn toàn không có ý nhằm bác b quan niệm Thượng Đế, mà để chúng ta bắt đầu cùng suy tư một cách ý nghĩa hơn, hợp lý hơn, khoa học và khách quan hơn, đó là: Thế nào là Thượng Đế?  Suy tư một cách hết sức độc lập mà không cần phải dùng đến những huyền thoại sáng tạo cổ điển cũng như “phép lạ” của tôn giáo như một thứ bằng chứng. Chúng ta có thể hiểu và “đến gần” Thượng Đế hơn bằng cách loại bỏ đi những quan niệm không chính xác, thiếu khoa học, và có tính cách dị đoan về ý niệmThượng Đế.

     Ngôn ngữ, theo tôi, không phải là dụng cụ chính xác để khám phá và giải thích sự thật, mà chỉ là một phương tiện truyền thông bất chính xác giữa loài người với nhau. Ngôn ngữ là một hệ thống dán nhãn hiệu không hơn không kém. Ví dụ: những chữ như “thẳng” và “cong”, tuy quá quen thuộc với chúng ta và rất đúng trong mô hình phẳng, đã trở thành sai lầm khi áp dụng vào mô hình cong, vậy thì làm sao mà ta có thể tránh khỏi sai lầm và ngộ nhận khi áp dụng ngôn ngữ vào những gì ngoài kinh nghiệm ngũ quan, vào những ý niệm siêu hình như Thượng Đế? Và như thế, trực giác bẩm sinh của con người, một thứ ta vốn tin tưởng là chính xác, chỉ có giá trị rất hữu hạn trong khung cảnh môi trường mà nó được nẩy sinh ra, đó là quả địa cầu và hệ môi sinh phức tạp của nó.

     Trở lại vấn đề, khi tôi đọc một cuốn sách tranh luận về những quan điểm tôn giáo trái ngược, tôi không chỉ đọc những gì tác giả viết, nhưng tôi có khuynh hướng tìm hiểu những gì người đọc muốn viết mà để bụng không viết. Bằng cách này, tôi có thể nhận dạng và đánh giá đúng thực tâm cũng như tư cách người cầm bút. Ông Chức có thể văn hoa về Phật giáo bằng hàng chương sách như ông đã làm, và tôi nghĩ rất có thể ông đã thực tâm nghĩ thế, nhưng cũng có thể ông Chức đã cố ý tự khoác cho ông một chiếc áo chính nghĩa để thuyết phục độc giả. Theo tôi, đó chỉ là những kỹ thuật sở trường của những kẻ sành tâm lý, mà dụng tâm là để phục vụ quan điểm của mình. Một vài điểm ông Chức viết cho thấy dường như ông đã thừa khôn nhưng thiếu ngoan. Sự nóng nẩy và thói quen nghề nghiệp của chính ông đã làm hỏng đi khá nhiều giá trị của cuộc tranh luận và làm cho cuốn “Thế Kỷ” mất hẳn đi khả năng thuyết phục của nó.

     Tuy nhiên, với những cẩn trọng cần thiết của một cuộc tranh luận, tôi nghĩ tôi cũng nên cho rằng ông Chức thực tâm hiểu lầm như thế về Phật giáo chứ không ông không có ác ý. Cũng không thể trách ông Chức là đã nghĩ xấu về Phật giáo. Ông Chức cũng thừa nhận những giá trị của Phật giáo là tốt. Điều duy nhất mà ông Chức không thể chịu nổi, đó là triết lý Phật giáo phi thần, triết lý này không nhìn nhận Thượng Đế như một thần sáng tạo của Ki-Tô giáo. Đây là một vấn đề triết học lớn đi hẳn ra ngoài phạm vi bài này, một vấn đề mà tôi có đề cập thoáng qua phần trên.

     Ông Chức, cũng như tôi hay tất cả mọi người, không hoàn toàn xấu hay tốt, hay lúc nào cũng đúng lý, nhưng điều quan trọng tôi thiết nghĩ là hãy tự hỏi mình sau một cuộc tranh luận, chúng ta có thể vỡ lẽ được vấn đề hay không và có thể bắt tay trở thành những người bạn hay không, mặc dầu có thể không cùng một tôn giáo và không cùng một quan niệm triết lý. Và nếu quả thật là ông Chức đã có một số ngộ nhận thì đó là một đáng tiếc của một cá nhân có những tín ngưỡng khác quan niệm của Phật giáo. Nhưng, ông Chức cũng nên nhìn nhận rằng những quan niệm siêu hình, những huyền thoại tôn giáo về sáng tạo, đều có tính cách triết lý đặt trên giả định và tín lý, và vì thế, nếu trách hay chê Phật giáo hay những tôn giáo khác đã không công nhận những tín lý riêng của tôn giáo ông là một điều khá nặng nề.

     Theo tôi biết, Do Thái giáo có những niềm tin hoàn toàn trái ngược và khác hẳn tín ngưỡng Ki-Tô giáo tuy họ thờ cùng một Thượng Đế, nhưng, cũng như Hồi giáo hay những tôn giáo khác, Do Thái giáo cũng chỉ là một trong bao nhiêu hệ thống tín ngưỡng trên thế giới, hoàn toàn không có vấn đề đúng sai giữa những tín ngưỡng khác biệt. Đó là ý nghĩa của chữ “tin” -Tôi tin vì tôi không biết. Một người theo Do Thái giáo sẽ nhún vai không để ý những tín lý Ki-Tô giáo và hoàn toàn phủ nhận ý nghĩa cứu chuộc cũng như sự hiện hữu của một người mang tên Jesus. Và điều này không làm cho anh ta sai lầm chút nào.

     Niềm tin không phản ảnh sự thật, nó chỉ phản ảnh những khát vọng, sự sợ hãi,sự vô minh của con người.

Sau đó, ông Chức viết tiếp, “Tôi vừa dùng những trí tuệ của nhân loại để nói lên rằng: Có Thượng Đế, có Thiên Chúa. Thựơng Đế ấy, Thiên Chúa ấy đã lập nên hội thánh Công Giáo, đã xây nên Giáo Hội Công Giáo. Lập và xây trên Tảng Đá. Tảng Đá mà vạn Satan ngàn hỏa ngục chỗi dậy cũng không phá được.”

     Độc giả như tôi đọc đến đây giống như đang nghe những lời gầm thét của một tín đồ sùng đạo thuộc loại religious fanatic chứ không phải của một học giả chân chính đang bàn cãi những vấn đề tế nhị tôn giáo một cách bình tĩnh vô tư. Đây không còn là một lý luận, mà thực ra là một khẳng định của một người đã nổi nóng. Người này nhân danh “những trí tuệ của nhân loại” để “chứng minh” và bênh vực tôn giáo mình trong một cuộc tranh luận. Nhưng tôi thú thật tôi không hiểu trí tuệ này gồm những ai?

Nếu ông Chức cho phép tôi nói thẳng ra những gì sử gia đã quan niệm thì tôi phải nói là ông Chức đã bị lừa. Vì cho thấy ông đã sử dụng lại một điều cũ mòn, một điều bịt mắt thế gian từ gần hai ngàn năm nay của những bộ mặt chính trị tâm linh sống trong thời điểm một vĩ nhân tên là Jesus! đó là: Thượng Đế, hay thần linh, của nhân loại khắp năm châu đã được giáo hội La Mã khởi thủy vay mượn miễn phí, nhân danh là Thượng Đế duy nhất, đóng vào đó một con triện chuẩn y, và sau đó, Thượng Đế này, Thượng Đế của Vatican, trở thành “THƯỢNG ĐẾ”, và, như thế Vatican đã tự cho mình thẩm quyền thay mặt và đại diện cho tất cả những “Thượng Đế” của những dân tộc khác, kể cả ông Trời quen thuộc của Việt Nam, là những điển hình tâm linh chung của nhân loại. Việc Martin Luther nổi khùng chống lại chính sách của Vatican là một bằng chứng cho những gì đã xẩy ra trong lịch sử. Làm sao có thể chắc chắn những gì xẩy ra từ 2000 năm trước là sự thật? Lịch sử có quá nhiều nghi vấn. Tin hay không tin đó là quyền của mỗi cá nhân, nhưng khi khẳng định trên sách vở một điều gì, người viết nên hết sức thận trọng, vì vấn đề có thể không như mình nghĩ. Ông Chức đã không nắm rõ được điều này.

     Theo tôi, ông Chức đã lầm, ông lại còn vơ đũa cả nắm khi ông viết rằng “tất cả những bộ óc siêu việt...tất cả đều nhìn nhận rằng có Thượng Đế...”

Tôi thắc mắc: những ai vào đây mà là tất cả?

Trở lại vấn đề, khi Einstein nói, “nhìn thiên nhiên, tôi có thể đọc được những suy nghĩ của Thượng Đế; phải hiểu ý nghĩa Thượng Đế được dùng ở đây theo một ý nghĩa rất khác với những quan niệm thông thường về hai chữ Thượng Đế. Thượng Đế ở đây chỉ là một lối dùng từ ngữ có tính cách nói bóng và cụ thể, một lối nhân cách hóa về một quan niệm siêu hình. (The anthropomorphization of a mythical concept)

Einstein hay dùng danh từ “the Old one” -“Ông già”- để chỉ quan niệm siêu hình đó.

     Để chứng minh cho lập luận của tôi, tôi xin viện dẫn 3 trường hợp, chứng minh Einstein đã tư tưởng như thế nào về ý niệm Thượng Đế.

Thứ nhất, khi Einstein được một thầy Rabbi tên Herbert Goldstein đánh điện tín hỏi rằng, “Ông có tin Thượng Đế không? Xin trả lời trong vòng 50 chữ

Einstein đã trả lời, “Tôi tin vào Thượng Đế của Spinoza, thể hiện ra trong sự trật tự và hài hòa của những gì hiện hữu, chứ tôi không tin vào một Thượng Đế lúc nào cũng quan tâm đến số mệnh và hành động của con người

Trả lời như thế, theo Einstein có nghĩa là: Thượng Đế là chính là thiên nhiên, là sự tương tác của những lực căn bản trong không-thời gian, như hấp lực và lực điện từ, ảnh hưởng vào khối vật chất, đưa đến sự tuần hoàn biến dịch gọi chung là vũ trụ, một vũ trụ sống, và trong đó tâm thức được thành tựu do tiến hóa, nằm trong quy luật duyên nghiệp, và: thiên nhiên không hề quan tâm đến hoạt động cũng như sự sống còn của con người.

     Cũng nên nhớ, trong lúc này, khoảng tháng 4 năm 1929, Einstein đang bị tổng giám mục O’Connell thành phố Boston lên án, kể cả việc ngăn cản tín đồ đọc về thuyết tương đối. Theo giám mục, thuyết tương đối chỉ là một sản phẩm gây hoang mang cho tín ngưỡng về Thượng Đế và sự sáng tạo của Ngài, và thuyết ấy được trá hình trong một chiếc áo vô thần gớm tởm!

     Một linh mục khác tại thành phố Hudson, NewYork cũng đã chửi Einstein như sau, “Không có một Thượng Đế nào khác nữa ngoài một Thượng Đế của tín đồ...lập luận của Einstein là lập luận của một đứa ăn nói bá láp bá xàm. Hắn sai lầm hoàn toàn. Có những hạng người tưởng rằng có chút học vấn và bằng cấp trong những lãnh vực của họ là sẽ có đủ thầm quyền để góp ý kiến trong những lãnh vực khác.”

     Một linh mục khác, Fulton John Sheen, cũng đã lên án Einstein về quan niệm của ông.

Ngoài những sự lên án này, chi hội Calvary Tabernacle tại Oklahoma cũng đã lên án Einstein bằng những lời lẽ gay gắt, kể cả việc bảo ông hãy thu xếp thuyết tương đối, cút xéo về Đức, nếu ông không chấp nhận Thượng Đế và đấng Christ của những giáo dân, những người đã đón rước ông trọng thể vào đất Hoa Kỳ!

Có thể nói, Einstein đã bị khổ sở và bị “hỏi thăm sức khỏe” không ít chính vì lối suy nghĩ của ông về những gì ông nghĩ là Thượng Đế!

     Thứ hai, hãy đọc những gì Einstein trả lời giáo sư William Hermanns trong một cuộc phỏng vấn liên quan đến tín ngưỡng năm 1954, năm trước năm cuối cùng cuộc đời ông. Einstein trả lời như sau,

Tôi hoàn toàn không chấp nhận tất cả những quan niệm về Thượng Đế đặt căn bản trên quyền lực của giáo hội. Tôi phản đối lối nhồi sọ tín ngưỡng tập thể. Tôi không tin vào một đức tin mù quáng về sự sợ hãi sự sống hay sự chết. Tôi không thể chứng minh được sự hiện hữu về một Thượng Đế của cá nhân, nếu tôi có thể nói gì với Thượng Đế thì tôi sẽ là một thằng nói dối. Tôi không tin vào một Thượng Đế của thần học, một Thượng Đế ban thưởng cho kẻ lành và phạt kẻ dữ. Thượng Đế theo quan niệm của tôi là một Thượng Đế điều hành thiên nhiên bằng những định luật bất biến, chứ không phải một Thượng Đế phản ảnh những hy vọng của con người.”

     Đọc xong đoạn dịch này, độc giả hãy tự hỏi: phải chăng “Thượng Đế” Einstein đề cập đây là Thượng Đế của Ki-Tô giáo, hiểu theo cách nhìn và quan niệm của ông Chức?

     Một minh chứng thứ ba:

Năm 1919, khi nữ cộng sự viên của ông, cô Ilse Rosenthal-Schneider, hỏi Einstein ông nghĩ thế nào nếu thí nghiệm tìm độ lệch của ánh sáng không đúng với những gì ông đã tính toán và tiên đoán, Einstein đã thản nhiên trả lời, “Nếu như vậy thì tôi rất lấy làm tiếc cho Thượng Đế, thuyết của tôi đúng!

Câu trả lời này là một bằng chứng mạnh nhất về quan niệm Thượng Đế của Einstein. Có thể cắt nghĩa: Thượng Đế ở đây phải được hiểu là sự thể hiện của những quy tắc toán học chi phối sự tạo dựng và sự vận hành của vũ trụ, phản ảnh qua những hiện tượng xẩy ra trong không-thời gian. Những hệ thống toán học này đã được lý thuyết gia vật lý sử dụng, và được kiểm chứng bằng thí nghiệm.

Einstein đã tin vào sự chính xác toán học cũng như khả năng trực giác rất mạnh về suy tưởng vật lý của mình. Hầu như tất cả những vật lý gia đều công nhận thiên nhiên là thể hiện của một hệ thống toán học phức tạp không thể nào quy giản (reduction) hơn nữa. Họ nhận định rằng mathematical consistency-tính chất đồng nhất toán học, là một bằng cbứng lý thuyết mạnh và cần thiết nhất cho một hiện tượng vật lý. Không ai lại đi hỏi một cách vô nghĩa, “Toán học từ đâu đến?” hay “Ai tạo ra toán học?” Một hiện tượng vật lý mà không được toán học làm nền móng là một điều cần phải xét lại.

Tiếc thay, câu nói, “Thượng Đế không chơi xúc xắc” của Einstein đã bị người đời hiểu lầm và lạm dụng quá nhiều. Điển hình là ông Chức với những lập luận cố hữu của ông, cho rằng hễ cứ nhắc đến Thượng Đế thì phải là Thượng Đế của KiTô giáo.

     Một điều tôi nhìn nhận là danh từ “Dear Lord” được giới khoa học gia dùng đây đó, ngay cả Niels Bohr, nhưng đây chỉ là những xử dụng có tính cách thói quen, như một tập quán theo tín ngưỡng Ki-Tô của người da trắng chứ không phải là một sự tin tưởng hoàn toàn và chắc nịch như của một tín hữu Ki-Tô.

Nếu Việt Nam ta có những câu thông thường như câu “trời đánh thánh vật” hay “trời gọi ai người ấy dạ” thì đây chỉ là những cách nói theo thói quen của một dân tộc, chứ không phải cứ hễ nhắc đến chữ “trời” là trời ấy chỉ có một nghĩa.

Những chứng minh trên của tôi nhằm để đánh tan những hiểu lầm cho độc giả thấy, và cũng để phản chứng lại những ngộ nhận của ông Chức đối với Einstein (và những vĩ nhân khác)

Ngoài Einstein ra, những tên tuổi khoa học vĩ đại khác như Niels Bohr, Werner Heisenberg, Paul Dirac, Erwin Schrodinger, đều là những tư tưởng gia có khuynh hướng triết lý. Khuynh hướng này thường đẩy đưa họ thiên về triết lý Đông phương, quay lưng lại đối với những tín ngưỡng có tính chất giáo điều của Ki-Tô giáo. Cuộc đời họ dùng để tư duy một cách độc lập về những ý nghĩa siêu hình của vũ trụ và để tìm hiểu vật lý. Có thể gọi họ là vô tôn giáo, hay đúng ra, phi-tôn giáo, vì họ không cần đến tôn giáo. Heisenberg nghiêng hẳn về đạo Phật lúc tuổi già, Schrodinger đã từng học hỏi, nghiên cứu triết lý Upanishads cũng như triết lý Vệ Đà, và tự cho mình là một atheist-vô thần, cũng như triết gia vô thần nổi tiếng Schopenhauer. Wolfgang Pauli, vật lý gia nổi tiếng trong việc tìm ra trên lý thuyết hạt neutrino và quy tắc Pauli’s exclusion principle, cũng đã đồng ý với quan niệm Thượng Đế của Einstein.

Riêng Paul Dirac đã nói, “Thượng Đế là một sản phẩm tưởng tượng, tin vào sự hiện hữu của một Thượng Đế đầy quyền năng chẳng làm cho chúng ta tiến xa hơn chút nào

Cũng cần biết thêm, Dirac đã được nhiều đồng nghiệp đặt ngang hàng như một Einstein thứ hai, khi ông tìm ra được phương trình chứng minh sự hiện hữu của phản vật chất, một khám phá làm rung chuyển thế giới vật lý, nhất là vật lý vi hạt (particle physics)

Max Planck được biết đến qua những khám phá về black-body-radiation. Ông còn được biết đến qua một “phương trình” không nổi tiếng lắm, đó là “more science=less superstition” Cuộc đời cá nhân Planck là một cuộc đời hoạn nạn đau thương. Trên lãnh vực chuyên môn sự nghiệp, giới đồng nghiệp dành cho ông những kính trọng tột cùng, xem ông như cha đẻ của thuyết lượng tử.

     Những vật lý gia này là những trí tuệ thượng thặng của thế kỷ 20, chưa kể đến Charles Darwin, tác giả thuyết tiến hóa, là một trí tuệ vĩ đại của thế kỷ 19, cũng đã từ bỏ ý niệm Thượng Đế theo tôn giáo của ông sau khi ông khám phá ra nguồn gốc và sự tiến hóa của muôn loài là do thiên nhiên tiến hóa ra trong những điều kiện đặc sắc của môi trường sống trên trái đất, mà không cần đến bàn tay trực tiếp của Thượng Đế hay một thần thánh nào.

Gần đây nhất, chính Đức Giáo Hoàng John Paul 2 cũng đã công nhận thuyết tiến hóa là một thuyết khoa học xác thực, và năm ngoái, 1999, Đức Giáo Hoàng cũng đã lên tiếng phủ nhận trước công chúng những quan niệm sai lầm về Thiên Đàng và Hỏa Ngục. Tất cả những thứ đó thuộc về vô minh, chỉ hiện hữu trong tâm não con người qua óc tưởng tượng phong phú, mà nguồn gốc bắt nguồn từ những sợ hãi cái chết qua bao thời đại. Đức Giáo Hoàng đã thẳng thắn giải thích Thiên Đàng hay Hỏa Ngục chỉ là những trạng thái tinh thần, tùy thuộc theo cách hành xử cuộc đời mình. Theo ĐGH, sự hiệp thông cùng Thượng Đế qua cách sống lương thiện của con người chính là Thiên Đàng, và Hỏa Ngục là hành động chối bỏ và cuộc sống phản đạo đức của những kẻ nào sống xa ý niệm Thượng Đế. Đây là những suy nghĩ tích cực đáng được tôn trọng. Nó còn là những suy nghĩ đúng, trưởng thành và có đầu óc khoa học của một nhà lãnh đạo tinh thần.

Ngoài Einstein ra, những khoa học gia cũng dùng ý niệm và danh từ Thượng Đế nhưng chỉ có thể được hiểu theo nghĩa bóng, như khoa học gia Stephen Hawking dùng từ “the mind of God” để chỉ một thuyết vật lý tối hậu, vũ trụ gia George Smoot dùng “the face of God” để chỉ hiện tượng “nhăn nhúm” của nền bức xạ vũ trụ (cosmic radiation ripples) mà vệ tinh COBE khám phá ra được. Vật lý gia Leon Lederman gọi đùa vi hạt khối lượng Higgs là “vi hạt Thượng Đế”, cũng như phương trình toán của Einstein được gọi đùa là “God’s equation” Những điều này cho thấy vật lý gia chỉ dùng ý niệm Thượng Đế theo nghĩa bóng–figurative- cho những gì căn bản của thiên nhiên, chứ họ hoàn toàn không ngụ ý bất cứ ý nghĩa thần thánh nào.

Còn một vĩ nhân người Pháp mà câu nói bất hủ của ông nhiều người nhớ, có lẽ ngoại trừ ông Chức vô tình không nhớ, đó là câu “Tôi không cần đến thứ giả thuyết ấy” Người nói câu ấy là Pierre-Simon de Laplace, một nhà toán học và thiên văn học, đã từng cộng tác với Immanuel Kant trong việc thành lập giả thuyết tinh vân. Câu trả lời này dành cho đại đế Napoleon sau khi Laplace hoàn thành bộ sách Celestial Mechanics và bị Napoleon hỏi là tại sao ông không nhắc đến Thượng Đế trong một tác phẩm đồ sộ như vậy.

     Thượng Đế, ý niệm này đã bị lạm dụng quá sức, quá lâu, và đã gây quá nhiều đổ máu, chia rẽ, ngộ nhận, và bạo động trong lịch sử nhân loại.

Để kết thúc, tôi xin hỏi ông Chức: Einstein có tin vào Thượng Đế của ông không? Và những khoa học gia nào mà ông dùng chữ tất cả?

     Đến đây, tôi xin tranh luận về một vấn đề khác không kém phần quan trọng. Đó là việc ông Chức nêu ra và lập luận sai lầm khi ông diễn giải một câu nói của Einstein (p27) Câu đó như sau, “Nếu có một tôn giáo nào đáp ứng được những đòi hỏi của nền khoa học hiện đại, tôn giáo đó chính là Phật giáo

     Tôi cảm thấy ông Chức khá bất mãn và cay cú câu này. Và vì thế, ông tìm cách lái nó qua một ý nghĩa khác bằng những lập luận có tính cách đánh lạc hướng. Ông Chức cũng cố gắng gỡ gạc bằng cách cho rằng Einstein có thể sai. Nhưng tôi nghĩ khác.

Trong câu nói trên, Einstein nói đến những “đáp ứng những đòi hỏi của nền khoa học” chứ không nói đến những “đáp ứng những hậu quả của một nền khoa học” Hai điều này khác nhau. Lối giải thích của ông Chức dĩ nhiên là cũng có lý, nhưng có lý ra ngoài ý nghĩa câu nói của Einstein.

     Đối với cá nhân tôi, tôi không cần biết Einstein có nói câu này hay không và tôi cũng không cần tìm hiểu Einstein đã ám chỉ như thế nào, vì đối với tôi đạo Phật không hề cần được quảng cáo hay một endorsement-giới thiệu của bất cứ ai, dù người đó là tài tử Richard Gere hay triết gia như Russell, Schopenhauer hay khoa học gia như Einstein.   Nói một cách đơn giản, đạo Phật là những gì hiện ra trong tâm con người chứ con người không thể đến với đạo Phật như một phong trào hay như một thứ tôn giáo, dù là một tôn giáo đang hợp thời trang. Einstein không làm cho đạo Phật đúng hơn hay sai hơn một chút nào. Cả thế giới này bỗng dưng ồ ạt theo đạo Phật cũng không làm cho đạo Phật có ý nghĩa hơn những gì đạo Phật đã đang là. Như một dòng sông tâm linh không ngừng chẩy từ hơn 2 ngàn năm trăm năm nay.

     Nhưng để trở lại câu chuyện, tôi xin nói rằng chính Einstein đã phản đối quan niệm tái sinh, đầu thai, thường bị rất nhiều người ngộ nhận theo nghĩa đen, và bị ông Chức hiểu lầm theo lý luận của ông. Hãy đọc trang 25, ông Chức viết, “Hãy nhìn một con bọ lúc nhúc trong đống phân. Theo triết lý đạo Phật, đó có thể là ông bà cha mẹ của chúng ta trong kiếp trước!

Lối ông Chức so sánh   làm người đối thoại phải lắc đầu chán ngán.

     Phật Giáo xem thuyết tái sinh luân hồi chỉ là những quan niệm triết lý về tôn giáo áp dụng cho số đông, mà mục đích là để khuyên tín đồ làm lành lánh dữ, tạo cho mình và xã hội những nghiệp quả tốt ngay trong đời sống hiện tiền, chứ không phải là những tin tưởng chắc chắn như giáo điều. Mà đã quan niệm như thế, thì phải tìm hiểu nghĩa bóng của thuyết tái sinh, chứ không thể đọc theo nghĩa đen. Người tín đồ Phật giáo nên nghe và hiểu những quan niệm này bằng trí tuệ chứ không bằng tai. Và phải hiểu quan niệm luân hồi, tái sinh của Phật Giáo theo ý nghĩa: Phật giáo hết sức tôn trọng sự sống, cho dù rằng sự sống đó chỉ là sự sống thấp hèn của một con giòi trong bãi phân.         Hiểu như thế là hiểu cao thượng. Cao thượng vì biết rằng con người, hay một con giòi, đều là sự sống, và sự sống là những duyên nghiệp lớn, là những tác thành lớn của thiên nhiên, thể hiện và cô đọng lại trong một môi trường sống là quả địa cầu. Và tất cả mọi sự trong vũ trụ đều không tránh khỏi vòng “sinh, thành, hoại, diệt”

Tấm thân cát bụi của mỗi sinh linh trong một vũ trụ vô thường đều phải chịu theo những quy luật tuần hoàn. Một cái xác chết không chôn, ruồi đẻ trứng vào, hóa giòi, và thành ruồi. Đó là tuần hoàn, là tái sinh, là chuyện tự nhiên và dĩ nhiên. Ta có thể gớm tởm nó như thái tử Tất Đạt Đa đã gớm tởm, nhưng đó là thiên nhiên. Và mầu nhiệm thay: những thứ  ta cho là dơ bẩn đó lại chính là sự thể hiện mầu nhiệm của ý nghĩa Thượng Đế. Thượng Đế là sự sống, là tuần hoàn, là phép lạ trong vũ trụ.

Sự sống trong con người, và trong loài côn trùng sâu bọ. Đó là những “phép lạ” kỳ ảo và huyền diệu nhất trong một vũ trụ vật chất.

Triết lý Phật Giáo cho con người nhận thức được phép lạ đó.

Tôi lấy ví dụ: Một phi thuyền thám hiểm một hành tinh xa lạ nào đó, khi đặt chân đến nơi, những phi hành gia thấy hành tinh này lúc nhúc những thứ giòi bọ côn trùng thì thử hỏi họ sẽ vui mừng hay gớm tởm? Tôi cam đoan rằng họ sẽ sung sướng ngoài sức tưởng tượng. Vì họ đã chứng minh được một nghi vấn khoa học vĩ đại nhất. Nghi vấn này được biết là SETL - Search For Extra-Terrestial Life, một hình thức của SETI : Có sự sống ngoài địa cầu!

     Trở lại vấn đề: sự ghê tởm của Tất Đạt Đa khi chứng kiến cảnh sinh tử bệnh hoạn là một trong những động lực kích tác sâu xa vào tâm hồn thái tử, trở thành những duyên nghiệp đưa cuộc đời thái tử đến chỗ giác ngộ. Còn đối với ông Chức, sự gớm tởm giòi bọ làm cho ông đánh giá một cách thô thiển quan niệm tái sinh của Phật Giáo. Thuyết tái sinh, vì thế vô nghĩa đối với ông Chức. Đó là một sự đáng tiếc của một ông già đã quá thấm giáo điều KiTô giáo không thoát ra nổi.

Không ai đi làm một việc điên rồ là so sánh giá trị con người với giá trị con ruồi, con muỗi, con giòi (ngoại trừ cộng sản, có thể biện chứng sách vở không giá trị bằng đống phân) Nhưng nếu phải nhìn một cách khách quan với cặp mắt học hỏi của một nhà sinh vật học hay tế bào học thì con người và con ruồi được xem như nhau. Như nhau chứ không bằng nhau. Nhà khoa học nhìn con người và con ruồi là những thể hiện của sự sống, để mà phân tách trên cùng một bình diện, để tìm hiểu thế nào là sự sống, để mà quy luật hóa nó trên phương diện khoa học. Còn nhà tu hành, một thiền giả sẽ thấy sự sống nói chung như một biểu tượng của lẽ trời đất, một hiện thể của thiên nhiên, và một tác thành của vũ trụ. Đây là cái thấy của nhận thức, và cái cảm thông của tâm hồn.

     Dĩ nhiên, tôi phải nhiều lời lý giải, chỉ vì muốn ông Chức thông cảm với quan niệm của Phật giáo. Ông Chức nghĩ sao?

Để trở lại, tôi xin bàn về câu nhận định của Einstein về đạo Phật. Nhưng trước khi nói về Einstein, tôi xin nhắc đến câu nói nổi tiếng của Ralph Waldo Emerson, “Tôn giáo nào mà sợ những khám phá của khoa học, tôn giáo đó làm bẩn danh dự Thượng Đế và tự đào hố chôn mình” Câu này khá quan trọng cho lý giải của tôi.

Ông Chức cho rằng “Einstein đã đứng trên điểm tựa của khoa học để nhận định về một vấn đề tôn giáo, và ông có thể sai” và ông Chức nêu ra một số câu hỏi và ông kết luận như sau “...Những câu hỏi này không thể tìm thấy câu trả lời trong những phòng thí nghiệm. Dù là phòng thí nghiệm của một Einstein.”

Câu nói này tôi thành thật phải nói rằng nó phản ảnh một sự thiếu kiến thức cũng như nhận thức. Những quan niệm ông Chức đề cập trong cuốn sách của ông không phải là những mục tiêu của khoa học. Khoa học được thành lập không phải để tìm hiểu giá trị và ý nghĩa vật chất, mà để tìm hiểu “thế nào là vật chất” Khoa học đặt câu hỏi “thế nào là sự sống” chứ không quan tâm đến “sự sống có ý nghĩa gì?” Khoa học không nhận định xấu hay tốt, thiện hay ác, vì lẽ đương nhiên là những giá trị như thế không phải là điều mà khoa học phải để tâm. Cho nên ông Chức nêu ra như thế là thừa, chẳng giúp gì cho tranh luận của ông, mà lại còn phơi bày ra những thiếu hiểu biết. Và như vậy, khi ông Chức cho rằng “Einstein đã đứng trên điểm tựa của khoa học để nhận định tôn giáo”, ông Chức đã đưa ra một nhận định sai lầm tai hại về Einstein, vì: Einstein đã không đứng trên một điểm tựa nào cả!

     Đối với Einstein, tôn giáo và Thượng Đế là hai điều hoàn toàn độc lập, không dính dáng gì đến nhau. Cuộc đời Einstein là một cuộc đời bất khuất của một trí tuệ hết sức độc lập. Nếu Einstein quả thực đã nói ra một câu như thế về đạo Phật thì cá nhân tôi cũng chẳng mừng hay buồn thêm một chút nào. Vì, đạo Phật nghĩ cho cùng, nó chỉ là một triết lý và thái độ sống, hoàn toàn tự do, không tín lý hay giáo điều, đặt căn bản trên những quan niệm về duyên nghiệp và đạo đức của con người, thích hợp với tất cả mọi người và có thể áp dụng cho tất cả thời đại. Người ta không thể nào tìm thấy bất cứ một mầu sắc tôn giáo nào qua những quan niệm “Bi, Trí, Dũng” của Phật giáo. Người ta có thể trọn đời không đặt chân đến một ngôi chùa mà vẫn có thể là một Phật tử chân chính. Đạo Phật không bao giơáp đặt bất cứ một tín điều gì trên bất cứ một cá nhân nào. Đạo Phật là một sự tự nguyện hoàn toàn (Tôi chỉ tranh luận thuần túy về triết lý Phật giáo. Trên thực tế, Phật giáo như một tôn giáo cũng có một quá trình lịch sử chính trị phức tạp và mâu thuẫn cũng như chia rẽ, bè đảng, xấu xa tội lỗi, nhưng đó là chuyện xã hội và bản chất con người, nằm ngoài vấn đề triết lý trong tinh thần câu chuyện bài này)

     Và như vậy, tôi nhận định: Einstein đã không hề đánh giá hay quan niệm đạo Phật như một tôn giáo.

Một điều nữa, ai đọc Einstein cũng biết ông hoàn toàn không dùng đến phòng thí nghiệm. Cả đời ông, từ ngày tay trắng trong phòng môn bài ở Bern cho đến những ngày cuối cuộc đời tại đại học Princeton, ông chỉ có đơn giản một tập giấy trắng, vài cây bút, và mấy cuốn sách. Phòng thí nghiệm là trí tuệ ông. Vậy thôi.

Tôi mong ông Chức nên để ra một ít thì giờ riêng trong những lúc nhàn hạ để mà đọc và hiểu Einstein một cách chính xác hơn. Được thế, tôi cũng mừng cho ông và cũng đỡ tủi thân cho Einstein!

     Vậy, khi Einstein nhận định về Phật giáo như trên, để mà có thể phân tích một cách có lý, không oan uổng cho câu nói của ông, nhận định của Einstein phải được lồng vào trong một biến cố nằm trong bối cảnh và thời điểm khốc liệt, tang thương và thê thảm nhất của nhân loại trong thế kỷ 20. Đó là thế chiến thứ 2! Nếu tôi tự hỏi một câu: Đối với Einstein, biến cố nào gây đau đớn cho ông nhất trong đời? thì tôi xin trả lời: Có lẽ đó là sự bất lực của ông trước nạn diệt chủng tập thể khủng khiếp đối với người Do Thái qua bàn tay đẫm máu của Hitler. Tài năng và danh tiếng của Einstein trở thành vô dụng trước mũi súng, mũi lê, gót giầy, dùi cui của lính Nazis, đầy dẫy trong những trại đốt người và những hố chôn tập thể. Nếu Einstein tin vào một Thượng Đế đầy quyền năng, có khả năng cứu độ và làm phép lạ thì chắc chắn lương tâm ông sẽ tự hỏi những câu: Có chăng một Thượng Đế nhân từ, thương yêu nhân loại như cha mẹ thương con ruột mình, như tôn giáo vẫn thường rao giảng, ca tụng? Và dân tộc Jews của ông đã làm gì nên tội để hàng triệu trẻ thơ bị lính Đức Quốc Xã lột trần truồng, xô đẩy như một đàn chiên con vào lò hơi ngạt?

     Ông Chức nghĩ sao?

Trong vòng một hai năm gần đây, tòa thánh Vatican chính thức ra mặt ngỏ lời xin lỗi người Do Thái về sự im lặng cũng như sự ngoảnh mặt làm ngơ rất khó hiểu trong đệ nhị thế chiến-báo chí đăng đầy những tin này- Tôi cũng không cần bới móc những sai lầm và tổn thương của những gì đã qua, vì làm như thế ngòi bút của tôi sẽ thiếu xây dựng và tôi sẽ trở thành thiếu thiện chí trong cuộc tranh luận. Tuy nhiên, hành động này cho thấy chính Vatican đã tự cảm thấy bị cắn rứt vì những mặc cảm lỗi lầm, có lẽ vì họ đã không làm đúng mức những gì nên làm, phải làm, trong địa vị thần quyền của họ trong thời đệ nhị thế chiến. Sự sám hối này thoát thai từ những mặc cảm được hiểu là crime of omission (thấy chết không cứu)

     Đức Giáo Hoàng John Paul 2 gần đây đã chính thức nhận lỗi và xin lỗi toàn thể nhân loại về những sai lầm trong quá khứ của giáo hội từ hơn 15 thế kỷ nay. Đây là những hành động ăn năn sửa sai cần thiết của một người chủ chiên của một tôn giáo lớn.  Và theo chỗ tôi biết, chính những hành động cải cách phục thiện và cởi mở của ĐGH lại gây ra nhiều hiểu lầm và chia rẽ trầm trọng trong hàng ngũ công giáo một cách đáng tiếc (Hãy đọc những báo như tờ báo tháng Tiếng Loa Cảnh Báo của cựu nghị sĩ Trương Tiến Đạt chẳng hạn, trong đó ông ta đã bôi bẩn và mạt sát ĐGH cũng như công đồng Vatican II một cách thậm tệ, một hành động theo tôi phải nói là điên khùng.)

     Để trở lại vấn đề, như tôi đã lập luận ở trên, khi Einstein đã mất tín nhiệm với Thượng Đế nhìn theo tín lý của tôn giáo, vậy thì, đối với một khoa học gia kiêm triết gia như ông, tín ngưỡng nào còn sót lại để mà có thể đáp ứng được những đòi hỏi của khoa học, và tín ngưỡng ấy không cần sự hiện diện của một thần linh? Và đồng thời tín ngưỡng ấy cũng không trái nghịch với những khám phá khoa học vĩ đại như thuyết tiến hóa, vốn bị tôn giáo Tây Phương cực lực lên án? Tín ngưỡng ấy cũng không sợ bất cứ khám phá khoa học nào, như Ralph Waldo Emerson đã nói như trên.

Tín ngưỡng ấy là tín ngưỡng nào?

Có lẽ tôi trả lời cũng như thừ