curley_sw_03.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard curley_sw_03.gif (1967 bytes)

.......... .
 
GIÁO HỘI LA MÃ CHỦ TÂM SỬ DỤNG NHỮNG HOA NGÔN,
MỸ NGỮ VÀ NHỮNG DANH XƯNG  HÀO NHÁNG
ĐỂ LÒE BỊP VÀ LỪA GẠT NGƯỜI ĐỜI
nm-MP.gif (9620 bytes)
Hồng y “Etecera” : “Con sẽ không được nói dối, ngoại trừ giới tu sĩ Catô” (Thou shalll not lie, but Catholic clergy excluded!) Cartoon by Milt Priggee, Washington – Caption by GĐ
  • Nguyễn Mạnh Quang

Ngày 10 tháng 1 năm 2003

     Giáo Hội  La Mã thường sử dụng những từ "thánh" và "thánh thiện" để ghép vào tất cả cái gì của hay thuộc về  Giáo Hội với chủ đích lạc dẫn tín đồ và người đời, cố tình tạo nên một quan niệm sai lầm  khiến cho thiên hạ cữ ngỡ là Gíáo Hội và các cán bộ cũng như tất cả những chủ trương  cùng  việc làm của Giáo Hội đều thực sự là thánh thiện cả. Thí dụ như Giáo Hội tự phong  là: "Hội Thánh", "Hội  duy nhất, thánh thiên, công giáo và tông truyền", "Hiền Thê của Thiên Chúa Làm Người", "Tòa Thánh La Mã", "thành chỉ", ", "thánh lệnh", "luật thánh", "Đức Thánh Cha", .v.v...

     Có ở trong chăn mới biết chăn có rận.  Biết rõ sự thật này và bộ mặt thật  của Giáo Hội và các ông giáo sĩ trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội không ai khác hơn là chính các ông giáo sĩ và tín đồ của Giáo Hội. Do đó, chúng ta thấy những người đầu tiên đứng lên tố cáo tội ác của Giáo Hội với nhân dân thế giới  và lãnh đạo các phong trào chống đối Giáo Hội không ai khác hơn  là các giáo sĩ và tín đồ của Giáo Hội. Các ông linh-mục John Huss (1373-1475), Savonarola Girlamo (1452-1498),  Bruno Giordano (1548-1600), Anh Hoàng Henry VIII (1491-1547), Linh-mục Martin Luther (1483-1546), John Calvin (1509-1564), Tổng Giám Mục Charles Maurice deTalleyrand (1754-1838),  [người đứng lên giữa hội trường Quốc Hội Pháp vào tháng 6 năm1789 khởi xướng đề nghị tịch thu toàn bộ tài sản của Giáo Hội  ở Pháp], Giáo sĩ  Malachi Martin, giáo sĩ Peter de Rosa Linh-mục Trần Tam Tỉnh, Giáo Sư Lý Chánh Trung, Bác sĩ  Nguyễn Văn Thọ,  ông Phạm Hữu Tạo (Chủ bút tờ Đông Dương Thời Báo ở Houston, Texas), ông Charlie Nguyễn (tác giả cuốn Công Giáo Huyền Thoại Và Tội Ác và cuốn Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm), ông Phan Đình Diệm (Hội Trưởng Hội Giê-su Giáo), và hàng ngàn các giáo sĩ tác giả những ấn phẩm mà chúng tôi dùng là tài liệu tham khảo (xin xem mục Tài Liệu Tham Khảo) để viết lên bộ sách này là bằng chứng nói lên sự thật này.

     Việc Giáo Hội chủ tâm sử dụng "hoa ngôn", "mỹ ngữ"   "danh xưng hào nhoáng" cùng hàng ngàn chuyên bịp bợm khác để lừa gạt người đời cũng lại bị chính tín đồ của Giáo Hội phơi bầy ra trước ánh sáng công luận, chứ không phải là những người ở ngoài Giáo Hội.  Ông Charlie Nguyễn là một trong những người đó. Ông gọi đạo Thiên Chúa La Mã  là "đạo bịp" và nói rằng  thành tích lừa bịp tín đồ và người  của cái "tôn giáo ác ôn" này phải viết ra cả "một tràng thiên tiểu thuyết thì may ra mới đủ". Dưới đây là nguyên văn lời ông Charlie Nguyễn:

     "Vấn đề rắc rối kế tiếp xẩy ra từ năm 451. Sau khi Công Đồng Chalcedon công bố tín điều Đức Mẹ Đồng Trinh (dogma of the Perpetual Virginity), người ta tự hỏi: "Nếu Jesus là con Đức Chúa Thánh Thần và Đức Bà Đồng Trinh thì Chúa Jesus đúng là con Đức Chúa Trời thật. Ngài không phải là Chúa Cứu Thế vì Ngài không thuộc dòng dõi vua Thánh David như Cựu Ước đã tiên tri. Chẳng lẽ Đức Chúa Thánh Thần cũng là con cháu của David"?

     Theo lẽ thường ở trên đời, mọi sự gian dối luôn luôn đẻ ra những sự gian dối khác, nhưng mọi sự gian dối thường lâm vào tình trạng "dấu đầu hở đuôi". Tuy vậy, vốn sẵn có bản chất đại lưu manh chuyên nghiệp, Tòa Thánh La Mã đã trơ trẽn sáng chế ra hai bài kinh nói trên (mặc dầu không có căn bản Thánh Kinh - Unscriptural) nhưng cốt để tín đồ tin rằng cả cha lẫn mẹ của bà Maria là Gioakim và Anna đều thuộc dòng dõi của vua David, cho nên Jesus dù là con của Chúa Thánh Thần và bà Maria Đồng Trinh cũng vẫn thuộc dòng dõi David như thường! Tôi nêu lên những điều đây để yêu cầu Linh-mục Việt Châu, chủ nhiệm Nguyệt San Dân Chúa kiêm đại diên Cơ Sở Xuất Bản Dân Chúa (P.O. Box 1419 Gretna, LA 70053) chịu trách nhiệm xuất bản sách Toàn Niên Kinh Nguyện trả lời cho đọc giả bốn phương được biết Kinh Thánh nói ông Gioakim và bà Anna dòng dõi vua David ở đoạn nào? Nếu Linh-mục Việt Châu không trả nổi thì mọi cuốn sách Toàn Niên Kinh Nguyện Bùi Chu - Hà Nội cần phải được thu hồi để vứt bỏ.

     Cho nên người ta gọi Công Giáo là đạo bịp hay đạo dối, thật không sai chút nào. Nếu phải kể cho hết những chuyện bịp của Công Giáo chắc phải viết một tràng thiên tiểu thuyết thì may ra mới tạm đủ. Riêng về chuỵện Thánh Phêrô là giáo hoàng đầu tiên cũng có hàng chục chuyện bịp. Chẳng hạn cái được gọi là "Chiếc Ghế Phêrô" (Chair of Peter) cốt để mọi người tin rằng Công Giáo là đạo chính của Chúa Jesus qua Thánh Phêrô...” [Charlie Nguyễn. Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm (Garden Grove, California: Giao Điểm, 2001) trang 271-273]

     Trong chủ trương hủy diệt tình yêu lứa đôi trai gái và tình yêu gia đình của giới giáo sĩ, một mặt, Giáo Hội  biến họ thành những  ông lãnh chúa trong các họ đạo hay trong các giáo khu với những quyền uy và quyền lực như các ông lãnh chúa địa phương đứng  trên cả nhà cầm quyền thế tục. Mặt khác, Giáo Hội để cho họ mặc sức sống đời buông thả, phóng túng, loạn luân, dâm loàn  như thế nào cũng được miễn là  họ phải tuyệt đối trung thành với với Giáo Hội.  Kinh nghiệm thực tế và những bản văn mà chúng tôi đã trình bày trong các phần nói về "đời sống bê bối thối tha" của các Giáo Hoàng và giai cấp giáo sĩ trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội La Mã nói lên sự thật này. Mặt khác nữa,  Giáo Hội  sử dụng những mỹ từ, hoa ngôn và những danh xưng tốt đẹp rất là hào nháng để gắn vào tất cả những gì của hay thuộc về Giáo Hội  cũng như giai cấp tu sĩ  và tín đồ với chủ tâm phỉnh gạt họ, khiến cho họ cứ tưởng như là Giáo Hội và chính bản thân họ tốt đẹp với tất cả những gì cao cả và thiêng liêng đúng như những hoa ngôn, mỹ ngữ và danh xưng được gán cho giáo Hội và bản thân họ. Nhờ thủ đoạn phỉnh gạn siêu việt này,  giới giáo sĩ  sẵn có bản chất  tham lam, ích kỷ,  háo danh, hám lợi , háo thắng, háo sát, lố bịch, trịch thượng, huênh hoang khoác lác này đã hết đem lòng trung cúc cung tận tụy phục vụ cho Giáo Hội cho đến chết.

     Nói về thủ đọan siêu việt sử dụng những hoa ngôn và mỹ nữ và danh xưng hào nháng của Giáo Hội, thiết tưởng phải viết cả một bộ sách thì mới nói cho hết được. Ở đây chúng tôi xin giới hạn  và chỉ nói đến cái thủ đọan lưu manh trong việc  sử dụng từ "thánh": của Giáo Hội mà thôi.

     Thiết nghĩ rằng việc Giáo Hội La Mã sử dụng những “hoa ngôn, mỹ ngữdanh xưng có vẻ hào nhoáng” để dễ dàng mê hoặc tín đồ và người đời là một hành động "hiếp dâm ngôn ngữ". Trong số các ngôn ngữ bị hiếp dâm, phải nói là từ "thánh" đã bị Giáo Hội hiếp dâm nhiều nhất, nhiều đến nỗi, ở rong phấp kỳ họat động và viên chức nào, chúng ta cũng thấy Giáo Hội đem từ "thánh" ghép vào đó (se được trình bày ở phần sau)..

     Đối với người Việt Nam, chỉ có  ông vua khi còn sống, vì quá sợ hay vì bị cưỡng bách (lâu ngày thành thói quen),  viên chức nhà nước và nhân dân dưới quyền  mới phải dùng từ "đức" hay “thánh” ghép vào tước hiệu hay cá nhân hoặc việc làm của ông ta để tỏ lòng kính trọng hay để "chiều lòng cho xong nợ" theo đúng châm ngôn "tránh voi chẳng  phải là xấu mặt". Ngoại trừ trường hợp đặc biệt trên đây, hai từ “đức” và “thánh” phải là do nhân dân tự động ghép vào danh tính hay tước hiệu của  một nhân vật đã chết mà lúc còn sống đã từng làm được một cái gì vô cùng vĩ đại, vô cùng cao cả và phải có đức độ cao trọng tuyệt vời với lòng nhân ái rộng như trời biển, không ham danh, không hám lợi, không háo sắc, v.v.... Đây là trường hợp của Đức Phật, Đức thánh Gióng, Đức Thánh Trần (Hưng Đạo), Quan Công và các vị thánh sư trong Nho giáo như Đức Khổng Tử, Đức Mạnh Tử, v.v...

     Trái lại, nhìn vào trong tổ chức hay hệ thống lý thuyết thần học và hệ thống quyền lực của Giáo Hội, ngoài những đối tượng được tôn lên làm đấng thần linh để thờ phượng như Đức Chúa Cha, tức là “tên bạo chúa Jehovah” [được mô tả trong sách Leviticus (26: 1-18)],  Đức Chúa Con, tức là ông Jesus, và Đức Mẹ Bà Maria (còn gọi là Đức Mẹ Đồng Trinh), chúng ta còn thấy có 1 Đức Thánh Cha, với gần 150 Đức Hồng Y, hơn 4000 Đức Cha, hàng ngàn Đức Ông, hơn 400 ngàn linh-mục hay   Cha cố và một vài bà Mẹ ở trong các dòng nữ tu. Tất cả những viên chức chính quyền trong bộ máy cái trị của Đế Quốc Thập Ác Vatican này, từ vị hoàng đế mà thường được gọi là giáo hoàng cho đến các ông cán bộ cấp thấp nhất trông coi một xóm đạo ở một nơi hẻo lánh trong nông thôn đều được Giáo Hội phong cho họ là những người "mang chức thánh", và đều xưng là "cha" với thiên ha một cách khơi khơi hết sức là lố bịch. Đặc biệt là những cán bộ có tước hiệu từ "giám mục" trở lên, tất cả đều được Giáo Hội gắn thêm cho từ "đức" vào tước hiệu của họ. Đồng thời, giáo dân cũng được dạy  rằng, những người "cha thiên hạ" "mang chức thánh"  này là "những người đại diện cho Chúa", và trong suốt cuộc đời của họ và luôn luôn phải được  gọi là "Cha" (linh-muc), "Đức Cha" (giám mục và tổng giám mục) "Đức Hồng Y " và "Đức Thánh Cha". Ngoài ra, lại còn có một tước hiệu quái đản nữa  là tước hiệu "đức ông". Tuy gọi là "Đức Ông" nhưng địa vị và quyền lực lại nhỏ hơn "Đức Cha", mặc dù  về phương diện ngôn ngữ, từ kép "Đức Ông" được xếp ngang hàng hay tương xứng với từ kép "Đức Bà", ngang hàng với hàng bố của "Đức Mẹ".

     Có một điều hết sức khôi hài là giáo dân được nhồi sọ phải sử dụng những tước hiệu này  trong khi xưng hô với các ngai dù là ở vào bất cứ lúc nào (ngay cả lúc ăn, lúc ngủ, lúc làm tình, lúc tán gái), ở bất nơi nào (kể cả nơi phòng ăn, nơi các ngài du hí hay làm tình) và  đối với bất kỳ người nào (kể cả với cha mẹ ruột). Đây là một trong những nét đặc thù quái đản nhất của Giáo Hội La Mã mà chúng tôi gọi là chứng bệnh dịch "hiếp dâm ngôn ngữ" này của Tòa Thánh Vatican đã trở thành cố tật hay bản chất, và đã trở thành bản chất thì khó mà có thể sửa đổi hay chữa trị được  đúng như người Trung Hoa thường nói "giang sơn dị cải, bản chất  nan di". . Cái bản chất "hiếp dâm ngôn ngữ" này của Giáo Hội La Mã  được ông Charlie Nguyễn, một tín đồ Gia-tô thuộc một gia đình đã theo tôn giáo này từ giữa thế kỷ 16, sau khi tỉnh ngộ, đã phải viết lên mấy đoạn văn vừa chua xót căm phẫn như sau:

     "Trên thế gian này không có tôn giáo nào sử dụng tĩnh từ  "thánh" một cách bừa bãi và vô trách nhiệm cho bằng Công Giáo La Mã. Cây thập ác là một dụng cụ giết người dã man vì nạn nhân phải chịu đói chịu khát và đau đớn rất lâu mới chết. Mọi nạn nhân đều bị lột trần truồng trước khi bị đóng đinh vào thập ác. Đó là sự bêu riếu sỉ nhục cùng cực. Dù cho Jesus đã bị quân La Mã xử tử trên thập ác chăng nữa thì cây thập ác vẫn là cây thập ác, chứ không thể trỏ thành "Thánh Giá" (Holy Cross) được! Giả sử quân La Mã đã không xử tử Jesus bằng thập ác mà xử tử bằng cách treo cổ hay chém đầu thì Công Giáo sẽ có "Thánh Thòng Lọng" hoặc "Thánh Mã Tấu" chăng?.

     Sào huyệt của Mafia đội lốt tôn giáo trú đóng ỏ Rome được gọi là "Tòa Thánh La Mã". Lịch sử thế giới ghi nhận đế quốc La Mã lập ra đạo Công Giáo (Katholicos) vào đầu thế kỷ 4 đến nay, nó đẫ giết hại trên 200 triệu người.

     Cái tội sát nhân vô địch này chỉ là một trong 7 núi tội mà chính Vatican đã phải thú nhận. Một tổ chức tội ác vô tiền khoáng hậu như vậy có lẽ nào lại được gọi là Hội Thánh"? Sào huyệt Vatican phải được gọi là sào huyệt của quân cướp quốc tế cho chính danh. Tổ chức quốc tế này tại sao (lại có nhứng nhân vật trong hàng giáo phẩm) được xưng tụng là "Đức Thánh Cha", Đức Hồng Y", "Đức Cha" "Đức Ông"?

     Bà Maria đẻ ra Jesus chỉ được gọi là "Đức Mẹ", chứ có được gọi là "Đức Thánh Mẹ" bao giờ đâu? Vậy "Đức Mẹ" cũng chỉ được coi ngang hàng với các "Đức Cha" thôi. Đức Mẹ sẽ phải gọi "Đức Ông" bằng bố , xưng là con và phải quỳ mọp trước dung nhan của các giáo hoàng vì các giáo hoàng là các vị thánh sống (Đức Thánh Cha)!" [Charlie Nguyễn. "Cuốn Thánh Kinh Ô Nhục Của Đạo Công Giáo." Giao Điểm số 45, Summer 2002: Trang 71].

     Cái khổ là tất cả các ông “mang chức thánh” trong Giáo Hội từ Đức Thánh Cha cho đến các Đức Hồng Y, các Đức Cha, Đức Ông và các Cha trong Giáo Hội La Mã đều là những người  bằng xương bằng thịt thuộc phái mạnh  với những  thân thể cường tráng vì ngày nào các ngài cũng đều ăn những thứ cao lương mỹ vị, thịt cá ê hề cùng với những thứ rượu ngon thượng hảo hạng sản xuất ở Pháp và ở Ý Đại Lợi). Tình trạng này lại càng khiến cho "thất tình, lục dục" phát sinh từ các bộ phận trong  cơ thể của các ngài càng được kích thích tăng cường vận hành đúng  như "quy luật âm dương hòa hợp và  kết hợp" để sinh tồn giống như tất cả các đấng tu mi nam tử mạnh khỏe và bình thường ở ngòai đời cũng như các sinh vật khác trong thiên nhiên. Đây là quy luât thiên nhiên không ai chối cãi được. Cưỡng bách hay cố tình làm khác với quy luật thiên nhiên trên đây là tự hủy diệt, nếu không thì sẽ nẩy sinh ra các biến chứng. Ta có thể ví thất tình và lục dục trong cơ thể con người là nguyên ủy của tình cảm và dục vọng. Sức mạnh thúc đẩy tình cảm và dục vọng trong con người giống như sức mạnh thúc đẩy của khối lượng nước được chứa đầy trong một cái hồ chứa nước dã chiến làm bằng vải bố mà quân đội của các quốc gia tân tiến ngày nay thường dùng trong các cuộc hành quân. Khối lượng nước chứa trong cái hồ  nổi làm bằng vải bố này có lực đẩy phóng ngoại làm cho vách hồ căng phình ra. Nều khối nước quá lớn và nếu vách hồ (vải bố) không đủ chắc (isn't  strong enough) thì sức đẩy của khối nước ở trong hồ có thể làm cho vách hồ   bung ra và nước sẽ trào ra tràn ngập ở ngoài. Tương tự như vậy, tình cảm phát sinh từ  lục dục và thất tình trong cơ thể con người càng ở trong tình trạng bí bích vì bị cấm đoán (giống như vách hồ nước nói trên) thì sức đẩy phóng ngoại càng mạnh để được giải thoát. Đây là tình trạng bất bình thường của những người vì lý do này hay lý do khác mà phải ép mình sống theo lối sống phản tự nhiên như trường hợp những người "mang chức thánh" của Giáo Hội La Mã. Lý do  là vì có một số bộ phận trong cơ thể của các ngài lại bị kìm hãm, bị cấm đoán, không được sử dụng, tức là cố tình chống lại quy luật thiên nhiên trên đây, khiến cho chúng không thể vận hành theo lẽ tự nhiên đúng như chức năng  của nó mà trời đã quy định. Sự kiện này làm cho tình cảm của họ rơi vào tình trạng phản tự nhiên mà chúng tôi gọi là “những người bất bình thường”. Tình trạng bất bình thường này đã làm cho các Ngài có những hành động bất bình thường làm nguy  hại đến an ninh và phúc lợi cho những người chung quanh, đặc biệt là những người có liên hệ qua sự tiếp xúc hay giao dịch thường xuyên với các Ngài.

     Tính cách  phản tự nhiên này đưa đến những mâu thuẫn nội tại  trong con người của những người mang chức thánh. Rõ rệt nhất là bề ngoài, hàng ngày, trước mặt giáo dân hay người dân trong cộng đòng, các Ngài lên mặt vênh vênh váo váo làm ra vẻ ta thánh thiện, đạo cao đức trọng, mở miệng ra là xưng "cha" với thiên ha và gọi người đời là "con" một cách ngọt xớt, nhưng trong thực tế thì thật là kinh tởm, kinh tởm đến cùng độ của kinh tởm. Bằng chứng rõ rệt nhất   những vụ "loạn dâm" bùng nổ từ đầu năm 2002 ở Hoa Kỳ cho đến nay vẫn còn sôi sục. Tất cả cho chúng ta thấy rằng, các Ngài không những đã không thánh thiện một chút nào cả, mà còn ghê gớm và kinh tởm hơn cả những thứ quỷ râu xanh mà chúng tôi sẽ trình bày đầy đủ trong một phần (gồm nhiều chương) ở tron bộ sách này. Sống trong tình trạng như vậy, các Ngài  mang chức thánh trong Giáo Hội đã trở thành những người đạo đức giả tệ hơn cả đám người Pharisee mà ông Jesus ngày xưa thường lên án.  Kinh nghiệm cho biết rằng những phường đạo đức giả là những hạng người đại lưu manh và vô liêm sỉ đến cùng độ vô liêm sỉ. Đói với những hạng người này, không có thủ đoạn gian manh xảo trá nào mà không sử dụng, và không có một hành động tàn ngược và dã man nào mà họ không làm, miễn là họ thõa man được lòng tham vọng  không đáy của họ về "tình, tiền, quyền thế và danh vọng".

     Không biết trong Giáo Hội La Mã, những người còn một chút lương tri có nhìn thấy thấy hay hiểu rõ tình trạng này của những người mang chức thánh của Giáo Hội hay không?  Riêng về các nhân người viết, với kinh nghiệm nhiều năm hiểu lịch sử Giáo Hội và  có kinh nghiệm với các ông tu sĩ Gia-tô người Việt Nam, thiển nghĩ rằng thâm tâm của nhiều người mang chức thánh này, vì thích có uy quyền, thích được sống trong uy quyền, trong đời ống xa hoa vương giả,  thích được giáo dân khiếp sợ, và tùng phục và được người đời xưng   tụng là "cha" một  chức thánh trong hệ thống quyền lực của Tóa Thánh Vatican. Vì thế cho nên họ thích được làm cái nghề mang chức thánh:

     "Vì với tôi, ý nghĩ đi tu chỉ vấn vương qua những hình ảnh vật chất và uy quyền hàng ngày. Tôi đã so sánh và nhìn sự cả nể  của các linh mục, sự tôn kính từ giáo dân, nhất là đối với tôi, các linh mục, tu sĩ như những tuyệt vời của bất kỳ phương diện nào. Giáo dân tùng phục, giáo dân khiếp sợ, giáo dân cầu lụy và muôn hình ảnh khác..." J. Ngọc. "Cõi Phúc Và Giây Oan" - Tập Một (Houston, Texas: Văn Hóa, 1995), trang 10].

     Nhưng cái thích đó vẫn không đè bẹp cái thích đuợc “làm người theo một nghĩa rất người”, nghĩa là phải được tự do để cho các bộ phận trong cơ thể vận hành theo lẽ tự nhiên đúng như chức năng thiên bẩm của nó và theo  nhịp điệu của con tim của một đấng tu mi nam tử cường tráng:

      "Tôi liếc mắt nhìn trộm Nga, đúng lúc nàng đang cúi xuống lấy hộp thuốc "Optanidon" ở trong tủ, chiếc áo vô tình, chiếc áo của ma quỷ biến hình và kéo làn da trên ngực Nga để lộ ra hai ngọn núi hồng mọng lịm. Tôi nuốt nước bọt thêm một lần nữa ... Cặp mắt tôi không rời, hai tròng mắt tôi lớn dần và bóng mọng trước   mầu hồng  trên hai ngọn đồi nồng cháy. Cửa ngõ của linh hồn tôi mời đón và hé mở. Tôi thầm cám ơn quỷ dữ đã kéo sát làn áo mỏng của Nga, bất giác tôi lại ao ước một phép lạ nào đó khiến cho những chiếc cúc kia đứt và tung biến để chỉ để lại trên Nga một lõa lồ. Trước cảnh thực, sự mơ trưởng của tôi được đâm chồi nẩy sinh một ước muốn của nhục dục rõ rệt và tôi đọc được ở nơi tôi. Tôi nghiến răng và cắn nhẹ trên môi, nhưng quả tôi không thể nào đánh tan đựoc sự thèm muốn. Và tự nhiên tôi lo sợ, hình như tôi đã quên Chúa và lúc này hình ảnh cứu chuộc của Ngài bị biến mất và ma quỷ đã chế ngự tôi. Tôi thở dài và lại thở dài để kiềm chế, hay đúng hơn tôi có thể đứng thẳng. Tự nhiên tôi ao ước vận chiếc áo dài đen, nhưng không phải vì sự thánh thiện trở thành, mà là để che đậy được sự cám dỗ và con heo lòng đang tới thời cực thịnh, tối thiểu che được mắt thế gian trong thế đứng bình thường." [J. Ngọc. Sđd., trang 20-21]

     Đặc biệt là các Ngài mang chức thánh lại là những người có nhiều uy quyền vừa giầu có, vừa sang trọng, giống như một đấng quân vương hay bạo chúa trong chế độ quân chủ chuyên chế và cực kỳ phong kiến. Phú quý sinh lễ nghi. No ăn thì ấm cật. Quyền hành sanh dục vọng. Là con người bằng xương bằng thịt, ở vào địa vị có đầy đủ cả quyền hành, danh vọng và giầu sang thì tất nhiên các Ngài cũng nẩy sinh ra rất nhiều thứ ý muốn, và thứ ý muốn nào của các Ngài "mang chức thánh" cũng đều ghê gớm cả. Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến cho những rặng núi tội ác  của Giáo Hội vốn đẫ câo chất ngất như đỉnh núi Thái Sơn lại càng trở nên cao hơn nữa. 

     Muốn mà không được như ý muốn hay không được thỏa mãn thì sinh ra buồn lòng. Muốn có những cái gì bình thường giống như những người bình thường khác mà bị cấm đoạn thì sinh ra bất mãn. Người dân trong giai cấp bị trị hay những người lép vế thế cô mà bất mãn thì sinh ra bất bình rồi phản kháng hay nổi loạn chống đối.   Những  thành phần nằm trong giai cấp thống trị hay những người nắm giữ quyền cao chức trọng nếu muốn mà không được thì có trăm phương ngàn kế để  được thỏa mãn cho bằng được những gì họ thèm muốn. Cái nguy hiểm là những thứ thèm muốn của những người có quyền lực trong tay thường lại là những thứ thèm muốn ghê gớm khác thường. Đây là vấn đề then chốt của những nguyên nhân gây ra tội ác. Rồi tội ác lại sinh ra hàng ngàn thứ tội ác khác, trong đó có cả tội ác “giết người bịt miệng” và “khủng bố” khiến cho những người biết chuyện phải giữ kín miệng, nếu không dùng “tiền đấm mõm” (hush money). Bằng chứng cụ thể và rõ rệt nhất cho sự kiện này là những vụ tai tiếng về “loạn dâm” (pedophile, pedophilia = thích thú sờ mó con nít) và thông dâm (fornications) bùng nổ ở Hoa Kỳ  vào đầu năm 2002 đã làm nhân dân thế giới vốn đã không ngạc nhiên về những thành tích loạn luân dâm loàn của các đấng "mang chức thánh" trong Giáo Hội mà cũng vẫn rùng mình ghê tởm. Các cơ quân truyền thông đã loan tin rằng Giáo Hội Kitô La Mã Hoa Kỳ đã bỏ ra hàng tỷ Mỹ kim cho những khỏan "tiền đấm mõm" để ém nhẹm những vụ làm tình xấu xa ô nhục của các ngài "mang chức thánh" của Giáo Hội La Mã tại Hoa Kỳ.Tình trạng sôi sục này vẫn còn kéo dài cho đén nay khi chúng tôi đang biên soạn tập sách này (11/3/2003).

     Cũng vì thế mà những người có kinh nghiệm với các ông mang “chức thánh” thường nói, “những người mang chức thánh là những người bất bình thường. Khi họ thậm thụt ra vào  cửa quyền là họ đang có dã tâm tính chuyện làm những điều bất lương và bất chánh, và khi họ nhẩy lên sân khấu chính trị là thảm họa giáng lên đầu nhân dân.” Giáo Hội La Mã ở vào trường hợp này trong gần hai ngàn năm qua..

Một mặt Giáo Hội dùng  những “chức thánh” để tạo ra một ý nghĩa thiêng liêng với dụng ý làm cho tín đồ và người đời lầm tưởng rằng các ngài là những “thánh nhân”; mặt khác thì chính Giáo Hội và những cán bộ của Giáo Hội (tức những người mang chức thánh)   lại dùng quyền lực bất chính một cách  bất chính để thỏa mãn những thèm muốn mà những người thực sự là "thánh nhân" đáng lý ra không được rớ tới. Làm như vậy tức là Giáo Hội có chủ tâm tự phong cho mình các chức vụ cao cả thánh thiện và đạo đức cùng mình với những danh xưng tốt đẹp, nhưng thực sự  Giáo Hội chỉ là một tổ chức tội ác lừa bịp người đời và làm những việc  kinh thiên động địa, trời không dung, đất không tha. Ngày xưa, ông Jesus đã lên án bọn Pharisee là “những phường đạo đức giả”,  sau đó, Giáo Hội La Mã lại còn tệ hơn bọn Pharisee cả hàng triệu lần. Lý do là bọn Pharisee ngày xưa chỉ là một nhóm nhỏ mượn danh nghĩa tu sĩ và tôn giáo để làm tay sai bán nước cho Đế Quốc La Mã, và còn bị chính quyền Đế Quốc La Mã kèm chế. Vì thế, họ chỉ có thể ngang tàng  theo cái thân phận của bọn Do Thái phản quốc làm tay sai cho quân cướp xâm lăng La Mã và chỉ ở trong một phạm vi nhỏ hẹp trong lãnh thổ nước Do Thái mà thôi. Còn Giáo Hội La Mã, trong gần hai ngàn năm qua, nhất là từ thế kỷ 11 đến ngày nay, quyền hành bao trùm lên cả thế quyền ở khắp cõi Âu Châu cùng tất cả các thuộc địa của các đế quôc Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Pháp ở khắp các lục địa Phi, Mỹ và Á Châu, liên minh và cấu kết với các chế độ Phát Xít Ý, Đức Quốc Xã và siêu cường Hoa Kỳ, cộng thêm với kinh nghiệm lừa bịp và sử dụng bạo lực trong hai gần hai ngàn năm qua, thì tất nhiên là mức độ đạo đức giả và tội ác của Giáo Hội phải nói là  mênh mông bát ngát như Thái Bình Dương và trùng trùng như hàng ngàn rặng Hy Mã Lạp Sơn.

NHỮNG BẰNG CHỨNG CỤ THỂ:

Chưa kể những tội ác phát động các cuộc chiến thập tự bất đầu từ năm 1095  kéo dài cả hai thế kỷ, chưa kể những   tội ác thiết lập các tòa án dị giáo (Inquistion) khởi đầu vào năm 1232 kéo dài cả năm thế kỷ, chưa kể  những tội ác  ban hành các sắc lệnh gọi là các "thánh chỉ" trong thế kỷ 15 ban đặc quyền cho hai nước Bồ Đào Nha và Tây Ban đem quân đi chinh phục các vùng đất ngoài Âu Châu và có quyền chiếm đất, giết người, đoạt của, hãm hiếp đàn bà con gái và cưỡng bách những người còn sống sót phải theo đạo Gia-tô để làm nô lệ cho Giáo Hội cả tâm linh lẫn thể xác,  chưa kể những tội ác  liên minh, cấu kết hay toa rập với các đế quốc thực dân Pháp, Đức và Ý trong việc đánh chiếm đất đai làm thuộc địa,  thống trị các dân tộc nạn nhân và thảm họa gây ra Đệ Nhị Thế Chiến, chưa kể những tội ác cấu kết với đế quốc Pháp và Hoa Kỳ trong mưu đồ tái chiếm Việt Nam đưa tên đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm lên cầm quyền khiến cho cả hơn 300 ngàn nạn nhân bị sát hại    làm phân hóa dân tộc Việt Nam như hiện nay.    Ở đây, chúng tôi chỉ kể   những trường hợp mà chúng tôi biết rõ qua những sách sử nói về  những tên dâm tặc và ác quỷ "mang chức thánh", nắm giữ  chức vụ cao cấp nhát trong Giáo Hội và được gọi là "Đức Thánh Cha"   mà lại loạn luân dâm loàn, lưu manh và vô liêm sỉ như  các (1) Giáo Hoàng John XII (955-963), (2)  Boniface VII (984-985), (3) Boniface VIII (1294-1303), (4) Benedict VIII (1012-1024), (5)  John XXIII (1410-1415), (6) Sixtus IV (1471-1484),(7) Innocent VIII (1484-1492), (8) Alexander VI (1492-1503), bạo ngược như (9) Giáo Hoàng Innocent III (1198-1216),   ngược ngạo như  (10)  Giáo Hoàng Innocent III (1198-1216), mất dạy như (11) Giáo Hoàng Pius IX (1846-1478), dã man như (12) Giáo Hoàng Pius XII (1939-1958), v.v...cùng những bọn giáo sĩ  thừa hành ở miền Nam Việt Nam trước tháng 4 năm 1975 như   Mai Ngọc Khuê (Tân Sa Châu, Tân Bình, Gia Định),  Đinh Xuân Hải (Phú Thọ Hòa, Tân Bình, Gia Định),  Tô Đình Sơn (Phú Yên, trước năm 1875), Nguyễn Lạc Hóa (Biệt Khu Hải Yến, Cà Mâu),  và ở hải ngọai sau năm 1975, như  Cao Đăng M. (Portland, Oregon,  Nguyễn Hữu Dụ (Houston, Texas), Nguyễn Quang Ch. (Houston, Texas ) Trịnh Thế H.. ở Chicago (Illinois).Tất cả cuộc đời nhơ nhớp của họ cũng đủ cho chúng ta thấy cái thành tích “đạo đức giả” và tội ác của Giáo Hội và bọn người "mang chức thánh" của Tòa Thánh Vatican  ghê gớm đến mức nào rồi. Tất cả cũng cho chúng thấy có quá nhiều người mang chức thánh của Giáo Hội thực chất chỉ  là thánh dâm tặc, thánh sát nhân, thánh ăn cướp, thánh ma cô, thánh đầu trộm đuôi cướp với đủ những thư tội ác xấu xa trong xã hội loài người, trong đó có nhứng tội ác tranh giành quyền lực và thanh toán lẫn nhau hết sức là ghê gớm, hết sức là kinh khủng và hết sức là khốn nạn, khốn nạn gấp  cả triệu lần, nếu so với bọn lục lâm thảo khấu hay các môn phái võ lâm ở Trung Hoa trong các thời Tống, Nguyên, Minh,  Thanh mà chúng ta thường thấy trong các phim chưởng của người Tàu.. Một đọan văn sử ngắn ngủi trong sách Vicars of Christ dưới đây cho chúng ta thấy rõ  tình trạng này.

Khi có cuộc họp cúa một số đông các tu sĩ của Giáo Hội La Mã thì địa điểm nhóm họp phải là nơi  gần sông hay hồ lớn để liệng xác người (bị thanh toán) xuống đó. Hồ Constance đã tiếp nhận tới hơn năm trăm xác người (bị thanh toán); Con sông Rhine cũng là nơi tàng chứa rất nhiều bí mật. Một điều kiện khác nữa là nơi hội họp  của các ông giáo sĩ của Giáo Hội  phải là một nơi  rộng lớn có đủ chưa một số lớn gái điếm để đáp ứng cho nhu cầu  sinh lý của Ngài. Nhu cầu này  còn khẩn cấp hơn cả vấn đề quân sự và được trả với giá phải chăng hoặc rẻ hơn. Vào những ngày  quan trọng của Hội Nghị Constance, có tới 12 ngàn cô gái điếm làm việc ngày đêm (để đáp ứng cho nhu cầu sinh lý của các Ngài “mang chức thánh” của Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo, tông truyền” của giáo dân Gia-tô - NMQ"  [(“When the clergy met in large number, it was always wise to choose a town near water – lake or river – for disposing of the bodies. Lake Constance received over five hundred while the Council was in ssession; the Rhine, too, hid many secrets Another requirement was that the meeting place had to be large enough to accommodate the vast number of prostitutes who found clergy required their services more urgently than the militairy and paid keener prices.  At the height of the Council, there were reckoned to be over twelve thousand whores in Constance working round clock ".] [Peter de Rosa. Vicars of Christ (New York: Crown Publishers, Inc., 1988), pp. 94-95].

 

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: hopthu@giaodiem.net

. ..........