curley_sw_03.gif (1967 bytes)   Nghiên Cứu và Đối Thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw_03.gif (1967 bytes)

.......... .


Vài lời của Giao Điểm:

Trong cuộc sống, tình cảm có thể là nguyên nhân trói buộc con người vào niềm tin tôn giáo; nhưng cũng chính tình cảm là bước khởi đầu đưa con người đi tìm sự thật bằng trí tuệ và đối thoại. Đó là trường hợp mối giao tình giữa anh Võ Thành Long và giáo sư Nguyễn Mạnh Quang. Chúng tôi để dành cho độc giả tự đi vào nội dung của câu chuyện qua hai lá thư trao đổi của hai bên. Mở đầu là lá thư trả lời của gs Nguyễn Mạnh Quang gời anh VTL và các bài nối kết [link] với ba phụ chương: 1.Thư của anh Võ Thành long, 2.Thư của gs NMQ gởi các tu sĩ và giáo dân Công giáo, 3.Về quốc nạn CG-TL của Charlie Nguyễn. Kính mời bạn đọc.

bullet_mw_03.gif (3330 bytes)
Tacoma ngày 21 tháng 3 năm 2003
Kính gởi: Ông Bà Võ Thành Long
(716 East 15th Avenue
Vancouver, B.C. V5T 2R7 - CANADA)

Anh chị Võ Thành Long thân mến,

Hôm qua, nhận được thư, thiệp Giáng Sinh và cuốn sách Farwell To God (tác giả Charles Templeton) của anh gửi tặng. Cả hai vợ chồng tôi cùng mừng là anh đã bình phục. Xin cầu chúc chị cũng sẽ sớm bình  phục.

Thú thật, đọc thư anh rồi, vợ chồng tôi vô cùng xúc động, xúc động vì cảm tình của anh chị dành cho chúng tôi. Mỗi dòng chữ, mỗi câu văn của anh đều nói lên tấm lòng chân thành và chứa chan tình cảm đối với chúng tôi. Sáng nay, trước khi đi làm, vợ tôi còn dặn tôi nhớ phải viết thư phúc đáp sớmsớm kẻo anh chị mong.

Trước hết, xin cảm ơn anh chị rất nhiều về cảm tình chân thành của anh chị đối với chúng tôi, cảm ơn về thiệp giáng sinh và cảm ơn về cuốn sách anh cho. Đối với tôi, cuốn sách này rất quý và rất cần thiết. Tôi đang đọc cuốn Thực Chất Đạo Công Giáo và Các Đạo Chúa của anh Charlie Nguyễn (Giao Điểm, 2003) và cuốn Trả Ta Sông Núi 2 của ông Phạm Văn Liễu (Văn Hóa, 2003) mà cũng phải nhín thì giờ để đọc cuốn Farwell To God của anh cho để lấy thêm tài liệu cho vào cuốn Tiền Thân Của Giáo Hội La Mã (Tập 1 của bộ sách Hồ Sơ Tội Ác Vủa Giáo Hội La Mã) mà tôi sắp hoàn thành.

Xin gửi đến anh những tài liệu dưới đây mà tôi hiện có:

1. -1 bản chụp của cuốn Thập Giá & Lưỡi Guơm của Lịnh-mục Trần Tam Tỉnh.

2. -1 bản chụp của cuốn Một Ngôi Trường Khác Cho Nguyễn Tất Thành

3. -1 Tái Liệu nói về ông Hồ Chí Minh

4. -2 cuốn Sự Thật 1999 và 2001 của ông Lê Hữu Dản

5. -1 bản chụp Phụ Bản nói về các Thánh Lệnh ăn  cướp của Giáo Hội La Mã

6. -Một vài tài liệu có liên hệ tới Giáo Hội La Mã trong việc tàn sát người Hồi Giáo ở Lebanon vào năm 1982,    tàn sát người Tutsi ở Rwanda (Phi Châu) vào các tháng 4, 5, 6 và 7 trong năm 1994

7. -Một bài viết với nhan đề là Sự Phản Bội ở Việt Nam

8. -Một bản văn nói về việc Giáo Hoàng John Paul II phong thánh cho ông Giáo Hoàng Pius  IX (1846-1878), người đã gọi dân Do Thái  "chó", dủ rằng dân tộc này đã sinh đẻ ra Bà Ma ria và ông Jesus mà Giáo Hội đang tôn thờ.

Dưới đây, xin trình bày với anh một vài điểm mà anh nêu lên trong thư gửi cho tôi.

1. VỀ CHUYỆN HỌ BỚI MÓC ĐỜI TƯ

      Về chuyện họ bới móc đời tư của các tác giả có ấn phẩm có nội dung.... Theo kinh nghiệm của một người học sử, dạy sử từ đầu thập niên 1960, nhất là   kinh nghiệm lăn lộn với những tín đồ Gia-tô người Việt đã xuất thân từ các dòng tu, các phân khoa Đại Học Sàigòn, Huế, Đà Lạt và trường Quốc gia Hành chánh, tôi nhận thấy việc bới móc đời tư, vu khống, mạ lị và sỉ vả những tác giả có ấn phẩm nói lên sự thật lịch sử  liên hệ đến những việc làm bất chính của Giáo Hội hay các chế độ đạo phiệt Gia-tô (tay sai của Giáo Hội) là chính sách của Giáo Hội La Mã và chính sách này đã có từ ngàn xưa. Các ông văn nô Gia-tô này là những người đã được Giáo Hội nhồi sọ giống như con chó Pavlov trong phòng thí nghiệm của nhà bác học Pavlov. Họ chỉ biết phản ứng phải làm như vậy một khi có kẻ nào dám nói lên những gì khác với Giáo Hội nói. Giáo-sư Lý Chánh Trung đã ghi lại chính sách này của Giáo Hội  trong cuốn "Tôn Giáo và Dân tộc" như sau:

"Đức Giáo Hoàng Grégoire XVI (1831-1846) đã gọi tự do báo chí  là "thứ tự do tai hại nhất, đáng ghét nhất, kỉnh tởm nhất mà một số người dám đòi hỏi một các ồn ào cuồng nhiệt và quảng bá khắp nơi." (Lý Chánh Trung, Tôn Giáo Và Dân Tộc (Saigon: Lửa Thiêng, 1973), tr  g 76).

Ông Phan Đình Diệm, Hội Trưởng Hội Giê-su Giáo ở Houston, Texas, cũng ghi nhận sự kiện này trong bản tuyên ngôn 6 như sau:

"Khi Giáo Hội Roma nói, mọi tiếng nói khác phải câm đi." (Phan Đình Diệm. "Tuyên Ngôn 6" tanvien@giesugiao.com ngày  19/9/1999).

Biện pháp mà Giáo Hội bắt mọi người phải  câm đi là dùng hệ thống tình báo đề dò xét nhân dân hâu tìm ra những người chống đối hay bất tuân phục, rồi dụng bạo lực để hăm doạ hay khủng bố  cả thể xác lẫn tinh thần và  thi hành sách lược "hàm huyết  phún nhân" bằng cách vu khống, bới móc đời tư để triệt hạ uy tín của nạn nhân.  Biện pháp tình báo mà Giáo Hội sử dung để dò xét nhân dân phải nói là ghê tởm   và dã man nhất trong lịch sư loài người. Biện Pháp này được ông Phan Đình Diệm, Hội Trưởng Hội Giê-su Giáo ghi lại như sau:

"Công Đồng Chung Thư 19  Triđentinô (Trentô 1545-1564), Giáo Hội đã ra tay củng cố "quyền giáo huấn" là "một chân lý tuyệt đối". Công Đồng đưa ra tín lý và giáo điều vào các canon hình luật, một lời nói phạm vào điều cấm của canon là thụ án hỏa thiêu sống dễ như chơi. Cha con tố cáo nhau, vợ chồng tố cáo nhau, anh em tố cáo nhau, bạn hữu tố cáo nha, hàng xóm láng giềng tố cáo nhau v.v... trước tòa án của Giáo Hội. Giáo Hoàng Paul IV (1555-1559) tuyên bố: "Nếu bố tôi là dị giáo đồ, tôi sẽ chụm của thiêu sống ông ta luôn..." [Phan Đình Diệm (Hội Trưởng Hội Giê-su Giáo). "Tuyên Ngôn 6"  tanvien@giesugiao.com ngày  19/9/1999)].

Giáo Hội La Mã  và các chế độ đạo phiệt Gia-tô tay sai của Giáo Hội đã làm như vậy  từ  thời Trung Cổ   cho đến ngày nay. Chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm đã làm như vậy trong những năm 1954-1963. Nạn nhân là các thành phần chính trị đối lập và Phật Giáo trong đó có nhà văn Nguyễn Hiến Lê, cụ Nghiêm Xuân Thiện và tờ Thời Luận, tờ Tự Do và ban biên tập của tờ báo này trong đó có ông Hiếu Chân, Bác-sĩ Phan Quang Đán, cụ Phan Khắc Sửu, Thượng Tọa Thích Trí Quang và nhiều người khác nữa. Bọn văn nô Gia-tô vẫn tiếp tục là làm ở miền Nam Việt Nam cho đến tháng 4 năm 1975, và khi ở hải ngoại, chúng vẫn tiếp tục làm như vậy  Nạn nhân là tất cả những người cầm viết dám nói lên những sự thật lịch sử trong thời cận và hiện đại, trong đó có anh em trong nhóm Giao Điểm. Anh cứ để ý trong các ấn phẩm của tôi, dù cay đắng  đối với Giáo Hội La Mã hay đối với chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm đến mức nào đi nữa, tôi cũng không bao giờ  bới móc đời tư của họ nếu không liên quan đến chủ đề.

2. VỀ HOÀN CẢNH CƯỚI VỢ CỦA ANH

      Đây là tình trạng chung của những người thuộc các tôn giáo khác muốn thành hôn với tín đồ của Giáo Hội La Mã. Nó giống y như hoàn cảnh của tôi. Đây là chủ trương của Giáo Hội La Mã dùng chính sách bắt chẹt những người muốn lập gia đình với người yêu là tín đồ của Giáo Hội phải theo đạo. Sau này, Giáo Hội thường cao rao rằng Giáo Hội không còn bắt buộc như vậy nữa, nhưng tín đồ và các ông linh mục địa phương vẫn đòi hỏi tín đồ phải làm như vậy. Lý do rõ rệt nhất cho vấn đề này là: vì thấy bị thiên hạ lên án gay gắt việc làm bất nhân này thi Giáo Hội mới rêu rao "miệng" như vậy để làm ra vẻ  Giáo Hội có tinh thần cải thiện để lừa bịp những người nhẹ dạ mà thôi. Trong thực tế, giáo luật này vẫn không được Tòa Thánh Vatican chính thức hủy bỏ.

Có một lần, một anh bạn Gia-tô đã tốt nghiệp Trường Quốc gia Hành chánh và  có bằng Cao học Hành chánh cãi cuội với tôi (ở Hoa Kỳ) rằng, "Ngày nay Giáo Hội La Mã không còn bắt buộc như vậy nữa. Nếu có tín đồ nào đòi hỏi  phải làm như vậy là  do ý muốn riêng của tín đồ đó mà thôi, chứ không phải là ý muốn của Giáo Hội."

Tôi hỏi vặn rằng, "Anh là người tốt nghiệp đại học về ngành hành chánh lại có căn bản luật học,  anh, thừa biết rằng,  theo nguyên tắc hành chánh, khi muốn hủy bỏ một luật lệ nào thì chính quyền phải ban hành một luật lệ mới để hủy bỏ cái luật mà nhà nước muốn hủy bỏ, giống như trong Hiến Pháp Hoa Kỳ, Tu Chính Hiến XXI được ban hành để huỷ bỏ Tu Chính Hiến XVIII. Trường hợp này, không thấy nói có một giáo luật  nào của Tòa Thánh Vatican, và cũng không có một lá thư luân lưu hay thông  điệp của một ông Giáo Hoàng nào nói về việc huỷ bỏ cái giáo luật quái đản hay cái tục lệ nham nhở này!"

Anh bạn đáp lại, "Nếu có, thì làm sao anh  biết?"

Tôi nói, "biết rằng giáo luật  hay tục lệ cưỡng bách một người thuộc một tôn giáo khác muốn làm lễ thành hôn với tín đồ là một việc làm xấu xa ghê tởm đến nỗi bị người đời lên án gắt gao đến độ phải hủy bỏ nó, thì hành động hủy bỏ việc làm xấu này là một hành động thức thời,  cao đẹp  và có lợi cho uy tín của Giáo Hội rất nhiều. Một việc làm thức thời, cao đẹp và có lợi cho uy tín Giáo Hội như vậy, nếu có thực, thì tại sao Giáo Hội lại không công khai hóa nó bằng giấy trắng mực đen (giáo luật, thư luân lưu hay thông điệp) để cho những người trong Giáo Hội lấy đó mà hãnh diện và khoe khoang với người ngoài Giáo Hội rằng Giáo Hội có một hành động thức thời và cao đẹp như vậy?"

Đến đây, anh bạn này bí, không còn cãi được nữa.  Giáo Hội và những tín đồ của Giáo Hội  quay quắt, lắt léo và lươn lẹo như thế đó!

Hành động này giống y như hành động của những quân lưu manh ăn cướp bắt cóc những người ruột thịt thân thương giầu có đem giam ở một chỗ, rồi gửi thư cho gia đình nạn nhân để đòi tiền chuộc mạng. Tương tự như vậy, những người ngoại đạo muốn lập gia đình với tín đồ Gia-tô đều bị Giáo Hội chèn ép trong  việc làm lễ thành hôn ở nhà thờ (vì giáo luật của Giáo Hội đòi hỏi như vậy) để đòi nạn nhân như chúng mình phải thế kỷ thứ 4 cho đến ngày nay, Giáo Hội đã quen làm những chuyện lưu manh và bỉ ổi như vậy rồi, đã trở thành chai đá và mất hết lương tâm rồi,  cho nên cả Giáo Hội và tín đồ của Giáo Hội không còn cảm thấy làm như vậy là lưu manh và bỉ ổi. Còn nói đến liêm sỉ, thì Giáo Hội có liêm sỉ đâu mà nói mất.

Tiện đây tôi cũng xin kể cho anh nghe chuyện cưới vợ của tôi.  Ông bố vợ của tôi biết tôi là người ngoại đạo cho nên không muốn gả con gái cho tôi. Chuyện giằng co cả mấy tháng trời. Sau cùng thấy vợ tôi quyết tâm thành hôn với tôi, ông ấy mới ra điều kiện cho tôi phải có giấy rửa tội  thì ông ấy mới bằng lòng. Vợ tôi đem chuyện này nói cho tôi biết và khuyên tôi nên chiều ý ông già, rồi theo hay không theo là tùy tâm của mình. Tôi đồng ý. Hôm sau tôi ra gặp ông linh mục ở nhà  thờ Bình Thới (Sàigòn), nói rõ ý muốn của tôi và nhờ ông ấy giúp tôi. Ông Linh mục này bắt tôi phải học giáo lý một tháng trước đã, rồi sẽ tính. Sau khi hoàn thành lớp học giáo lý, ông linh mục này đưa tôi ra nhà thờ để làm lễ rửa tội. Tôi nghĩ  thầm trong bụng rằng tôi có tội tình gì mà phải rửa tội, nhưng vì muốn lập gia đình với người yêu thì phải chiều lòng người yêu cho xong nợ. Tôi còn nhớ, lúc đó cả ông linh mục và tôi đều đứng trước bàn thờ Chúa. Sau khi làm những nghi lễ mào đầu rồi, đến giờ phút nghiêm trọng, ông linh mục hỏi tôi, "Anh có tin Chúa không?''

Tôi trả lời gọn lỏn là "Không".

Ông linh-mục nổi xùng, hỏi lại tôi, "Anh không tin Chúa, thì tại sao anh lại đến đây xin giấy chứng nhận rửa tội?"

Tôi trả lời, "Ông già vợ tôi đòi tôi phải có giấy rửa tôi thì mới chịu gả con gái cho tôi. Vì vậy tôi mới nhờ linh mục giúp tôi việc này. Tôi cần cái giấy rửa tôi cũng như cái giấy tư pháp lý lịch trong hồ sơ xin việc. Có thế thôi.  Trong thâm tâm, tôi không tin có chuyện "loài người có tội tổ tông" và không tin "có ông Chúa  Cứu Thế" như Giáo Hội thường dạy dỗ tín đồ. Tôi là người thật thà. Không tin có Chúa Cứu Thế thì tôi nói "không tin", nếu tôi nói tin thì chẳng hóa ra tôi nói dối trước  bàn thờ Chúa hay sao?"

Nghe thấy tôi nói vậy, ông linh-mục tức quá, mới nói rằng, "mặc kệ, tôi không cần biết anh tin hay không tin, nhưng khi làm lễ rửa tội, tôi hỏi anh như vậy thì anh phải trả lời tôi là "anh tin có Chúa". Có như thế thì tôi mới làm phép và cấp giấy chứng nhận rửa tội cho anh. Bây giờ anh đã nói thế thì anh về đi. Tôi không làm lễ  và cũng không cấp giấy phép rửa tội cho anh nữa đâu".

Tôi ra về và  nghĩ thầm trong bụng thì ra người ta đã dạy mình nói dối ở ngay trước bàn thờ Chúa của họ. Những kẻ đại diện Chúa và nhân danh Chúa đi dạy người ta nói dối trước bàn thờ Chúa của họ thì làm sao họ có thể là người lương thiện được? Theo quy luật "sóng sau dồn sóng trước", một cán bộ nòng  cốt dạy dỗ con chiên cái phương cách nói láo và gian  dối như vậy thì tất nhiên đàn con chiên của họ cũng phải trở thành những hạng người siêu nói  láo và siếu gian dối, vượt xa ông thày của họ.  Độc giả có thể kiểm chứng cái quy luật này bằng cách trực tiếp tiếp súc và tìm hiểu bầy con chiên của các ông Linh-mục Trần Lục (cũng là bày con chiên của  Giám-mục Nguyễn Bá Tòng và Lê Hữu Từ) và bày con chiên của  Giám-mục Phạm Ngọc Chi, hoặc là tìm hiểu cuộc đời tu hành của ông Linh-mục Cao Đăng M. ở một tiểu bang trong miền Tây Bắc Hoa Kỳ hoặc Linh-mục Nguyễn Hữu Dụ ở Houston, Texas thì sẽ thấy rõ nhận xét trên đây đúng hay là sai.

Tôi   kể lại cho vợ tôi (lúc đó  còn là người yêu vì chưa cưới) đầu đuôi câu chuyện. Vợ nói,  "tôi  cũng đúng và ông linh-mục cũng đúng."

Tôi hiểu ngay rằng vợ tôi nói thế có nghĩa là tôi đúng vì tôi nói theo lương tâm, nói theo lẽ phải. Còn ông linh-mục đúng vì ông ấy đã hành động đúng theo giáo luật  và theo tập quán mà Giáo Hội đã tạo nên trong cộng đồng giáo dân là như vậy. Đây là lẽ phải của kẻ mạnh, "Cường quyền thắng công lý' hay "Mày cần đến tao thì mày phải tuân hành điều kiện của tao đưa ra." Hành động này được gọi là "chèn ép và bắt chẹt" và mình đang bị họ "bắt chẹt." Ôi! Cái "đạo chèn ép", "đạo bắt chẹt"! Thật là nham nhở! ..

Vợ tôi nói tiếp, theo luật đạo, bị hỏi như vậy mà anh trả lời là "không tin Chúa" thì không có ông linh mục nào làm lễ rửa tội cho anh đâu. Tôi nói với vợ tôi, "Anh không tin có Chúa" thì anh nói "không tín". Còn ông ấy bảo dù rằng anh không tin, nhưng khi bị (được) hỏi  như vậy, anh phải nói rằng "tin có Chúa" thì chẳng hóa ra ông ta dạy anh nói dối trước bàn thờ Chúa hay sao?".

Vợ tôi nói, "sự thật là như vây, nhưng chúng mình phải giải quyết cho xong cái lễ thành hôn thì mới thành vợ chồng được. Anh phải tính chứ! Chăng lẽ  vì một chuyện nhỏ mọn như vậy mà anh để cho chuyện tình của chúng ta tan vỡ hay sao?"

Tôi nói, "như vậy là anh phải nói dối trước mặt Chúa!"

Sau đó, bà chị vợ tôi (là một nữ tu), dẫn tôi đến gặp ông linh mục này, nhưng nói thế nào đi nữa ông ta cũng từ chối. Một tuần lễ sau, ông Già Long (thường được gọi là Bố Long, thư ký của Trường Nông Lâm Súc, nhà ở một đường hẻm ở gần Sở Thú Sàigon), dẫn tôi đến, nói thế nào ông linh mục này cũng vẫn từ chối. Cuối cùng, ông Bố Long nói, như vậy là Cha nhất định không giúp chú Quang. Nếu thế thì tôi đành phải dẫn chú Quang ra nhà thờ Bắc Hà (gần Nhà Thương Nhi Đồng) và xin hứa với Cha là chỉ một tuần sau là chú Quang sẽ có giấy chứng nhận rửa tội. Ông Già Long vừa nói xong, thì ông linh mục này thay đổi thái độ, bằng lòng  cấp giấy chứng nhận rủa tội cho tôi.

Cung cách hành xử của ông linh mục này như vậy làm cho tôi không nể  trọng một chút nào cả!.

Sau này, đọc sách sử, tôi thấy rằng trường hợp ông Bảo Đại lại khác. Họ không áp dụng giáo luật này đối với ông Bảo Đại. Thì ra  "ma bắt nạt tùy mặt". Đối với ông Bảo Đại, Giáo Hội lại có sách lược khác. Đó là  sách lược "tiềm phục" hay "lặn sâu, trèo cao" hoặc "Stoop to conquer".

 3. VỀ HỒ SƠ GIẢI MẬT

      Văn khố Tòa Thánh Vatican, văn khố Pháp và văn khố Hoa Kỳ đã giải mật khá nhiều tài liệu lịch sử. Theo tôi được biết, phần lớn những tài liệu mà các nhà viết sử đã và đang dùng là lấy ở trong các văn khố trên đây và ở các thư viện. Xin gửi anh các thánh lệnh do Giáo Hội ban hành vào thế kỷ 15 để anh xem. Các thánh lệnh này là do Tiến-sĩ Vũ Ngự Chiêu sưu tầm trong các văn khố và thư viện, được in trong cuốn Ngàn Năm Soi Mặt (Nguyên Vũ, Houston, TX, Văn Hóa, 2002).

4. VỀ CON SỐ CHÙA CHIỀN ĐƯỢC XÂY CẤT...

      Chúng ta cần phải thận trọng tìm hiểu vấn đề này cho đến nơi đến chốn. Thứ nhất,  con số này có phải là do tín đồ của Giáo Hội La Mã và những người được hưởng đặc quyền đặc lợi của hai chính quyền đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm và quân phiệt Gia-tô Nguyễn Văn Thiệu đưa ra hay không?. Bề nào thì cũng là bàn tay của Giáo Hội La Mã ở trong đó. Thứ hai, tiền bạc chi phí cho việc mua đất đai cũng như vật liệu xây cất và tiền thuê mướn nhân công là do tiền viện trợ của Hoa Kỳ hay của chính phủ Ngô Đình Diệm hay do các Phật tử tại địa phương đóng góp?  Chúng ta đừng quên rằng Giáo Hội La Mã  và tín đồ tay sai của Giáo Hội có truyền thống sử dụng các sách lược "nhận vơ", "lộn xòng",  "mập mờ đánh lận con đen", "cáo đội lốt hùm", "cú đội lông công", "thừa nước đục tả câu", "theo voi ăn bã mĩa", "mượn gió bẻ măng", v.v... Trong một ấn phẩm khác, tôi sẽ nói rõ những thành tích này của Giáo Hội và bọn tín đồ tay sai của Giáo Hội. Thứ ba, con số chùa chiền này được xây cất trước hay trong thời gian ông Ngô Đình Diệm lên nắm quyền?  Thứ tư, việc cấp giấy cho phép xây cất các ngôi chùa này là do chính quyền tỉnh (địa phương) cấp hay do chính quyền trung ương cấp? Thứ năm, dù cho những ngôi chùa này được xây cất trong thời ông Diệm đi nữa, thì những giấy phép cho xây cất vào thời điểm nào? Trước tháng 1/1958 (thời kỳ ông Diệm còn đang phải bận tâm củng cố quyền lực) ? Hay từ đầu năm 1958 đến tháng 11/1963 (thời kỳ  anh em ông Diệm đã củng cố xong quyền lực)?

Sở dĩ phải nêu lên những hắc mắc trên đây vì tôi (người viết) thấy rằng học giả Nguyễn Hiến Lê có ghi trong cuốn Đời Viết Văn Của Tôi mấy đoạn văn như sau:

"Một chuyện đáng ghi là bộ (sách lịch sử) đó mà năm 1956 bị một độc giả giả ở Cần Thơ mạt sát là "đầu óc đầy rác rưởi" chỉ vì chúng tôi nhắc qua đến thuyết Darwin  về nguồn gốc loài người. Chẳng cần nói ai cũng biết độc gả đó là một tín đồ Công Giáo.

Sau một linh mục ở Trung yêu cầu bộ Giáo Dục cấm bán và tịch thu hết bộ đó vì trong cuốn II viết về thời Trung Cổ, chúng tôi có nói đến sự bê bối của một vài giáo hoàng. Bộ (Giáo Dục) phái một viên bí thư có bằng cấp cử nhân tiếp xúc với tôi. Ông này nhã nhặn, khen tôi viết sử có nhiệt tâm, cho nên đọc hấp dẫn như đọc bộ sử Pháp của Michelet; rồi nhận rằng sách của tôi được Bộ Thông Tin cho phép in, lại nạp bản rồi, thì không có lý gì để tịch thu hay cấm bán được, chỉ có thể ra thông cáo cho các trường đừng dùng thôi; cho nên ông ta chỉ yêu cầu tôi bôi đen vài hàng trên hai bản để ông ta đem về nộp bộ, bộ sẽ trả lời linh mục nào đó, còn bán thì tôi cứ bán, không ngại gì cả. Tôi chiều lòng ông ta. Ông ta lại hỏi lớp mẫu giáo của tôi đã được phép của bộ chưa. Tôi đáp: Đơn nộp cả năm rồi, giấy tờ đủ cả, tôi đã nhắc Sở Giáo Dục Thành Phố, mà người ta cứ làm thinh, không cho phép mà cũng không cấm. Ông ta chỉ gật đầu.

Hồi đó bộ Lịch Sử Thế Giới của tôi chỉ còn một số ít. Tôi hỏi các nhà phát hành, được biết có lệnh cấm các trường ngoài Trung dùng nó, trong Nam thì không. Chỉ ít tháng sau, bộ đó bán hết. Tôi không tái bản. Công Giáo thời đó lên chân như vậy. Nghe nói một ông tỉnh trưởng ở miền Tây  không dám cho Hội Phật Giáo cất chùa trong thị xã và bảo: "Công Giáo cất nhà thờ, bây giờ Phật Giáo cũng xin cất chùa, bộ các người muốn kình nhau với Công Giáo hả?"

Một hôm bà láng giềng  của tôi cho  hay: "Ít lâu nay, tôi thấy ngày nào cũng có một hai người ngồi ở quán cà phê bên kia đường nhìn về phía nhà thầy và nhà tôi, như rình cái gì. Một qua một người vào nhà hỏi tôi: "Ông Lê nhà ở bên lúc này đi đâu mà không thấy?" Tôi đáp: "Ông ấy đau, nằm ở trong phòng, chứ đi đâu? Thầy cứ vô mà hỏi. Rồi họ đi.

Vậy là mật vụ đã rình mà tôi không biết. Vì tôi là công chức thời Pháp mà tản cư lâu quá, về lại không hợp tác với chính phủ Diệm, hay vì bộ Lịch Sử Thế Giới mà họ theo dõi như vậy? Có lẽ vì cả hai.

Hơn một chục năm sau, một giáo sư ở Huế vô thăm tôi, hỏi: "Tại sao hồi đó ông không không làm đơn trình bày rằng ông đã dùng sách nào để viết về các giáo hoàng thời Trung Cổ đó rồi xin cho bộ sử của ông được dùng trong các trường?" Tôi đáp: "Không khi nào tôi làm việc xin xỏ đó." Sau ngày 30/4/1975, giáo sư đó lại thăm tôi nữa, bảo "tôi phục tư cách của ông từ hồi đó." [Nguyễn Hiến Lê, Đời Viết Văn Của Tôi (Wesminster, CA: Văn Nghệ, 1986), trang 100-101]

5. CHUYỆN V.M. CHỚP THỜI CƠ VÀO MÙA THU 1945

      Đây là một vấn đề cần phải bàn rộng về những nguyên nhân đưa đến việc này. Ai cũng biết rằng khát vọng đánh đưổi quân xâm lăng ra khỏi đất nước là khát vọng của bất kỳ dân tộc nào đã ý thức được quyền lợi của đất nước là tối thượng. Từ khi Giáo Hội La Mã cấu kết với giặc Pháp đem quân đánh chiếm  và thống trị, dân tộc ta luôn luôn đặt khát vọng này lên hàng ưu tiên số một. Vì thế cho nên, ngay từ khi tiếng súng xâm lăng của liên minh Giặc Vatican - Pháp khai hỏa vào năm 1858 cho đến ngày đất nước hoàn toàn đươc giải phóng, trên lãnh thổ Việt Nam, không lúc nào là không có tổ chức kháng chiến chống giặc để đòi lại núi sông cho dân tộc. Tính đến mùa thu năm 1945, dân ta đã có không biết bao nhiêu phong trào, tổ chức, lực lượng, mặt trận ra đời để đánh đuổi quân giặc xâm lăng Vatican và Pháp. Xin bỏ qua các tổ chức hay lực lượng kháng chiến thất bại trước năm 1945, mà chỉ nói đến các tổ chức chính trị có chủ trương giành độc lập vào thời điểm từ tháng 1 đến tháng 8 năm 1945 (hay trước đó mấy năm). Nhận xét chung về các tổ chức hay đảng phái cách mạng này vào lúac bấy giờ, ông Phạm Văn Liễu viết:

"Tôi còn nhớ một tờ báo thủ đô lưc đó đã mỉa mai rằng năm ba người cũng tạo nên một đảng phái, khác hẳn với thời Pháp thuộc, nói đến hội kín là xanh mặt, co đầu lè lưỡi e sợ khám to khám nhỏ.

Trong cuộc chạy đua quyền lực,  gây thanh thế, có những tổ  chức lớn như Việt Nam Phục Quốc (gọi tắt là Phục Quốc) của Hoàng Thân Cường Để; Việt Nam Cách Mang Đồng Minh Hội (tức Việt Cách hay Đồng Minh Hội) của cụ Nguyễn Hải Thần, Trương Bội Công; Việt Nam Quốc Dân Đảng Hải Ngọai của ông Vũ Hồng Khanh, Nghiêm Kế Tổ; Việt Nam Quốc Dân Đảng của ông Trương Tử Anh, Nguyễn Tiến Hỷ;  Đại Việt Dân Chính của  anh em ông Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Tường Long; Đại Việt Quốc Xã của ông Nguyễn Xuân Tiếu, Nguyễn Bỉnh Tuyên; Đại Việt Duy Dân của ông Lý Đông A; Đại Việt Phục Hưng của Ông Ngô Đình Diệm  và Trần Văn Lý. Ngoài các vị lưu vong ở hải ngoại như Hoàng thân Cường Để, cụ Nguyễn Hải Thần, ông Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam, đa số các nhà Cách Mạng đều bị chính quyền Decoux tập trung vào trại tập trung ở Thái Nguyên, do sắc luật quản chế ban hành từ ngày đầu Thế Chiến Thứ Hai.

Tuy nhiên, tổ chức mạnh nhất và gây được nhiều ảnh hưởng nhất trong dân chúng lúc bấy giờ phải nhìn nhận là Mặt Trận Việt Minh..."  [Phạm Văn Liễu, Trả Ta Sông Núi - Tập 1 (Houston, Texas: Văn Hóa, 2002), trang 72]

Phần lớn những tổ chức yêu nước này thất bại vì nhiều yếu tố: Chình nghĩa, lãnh đạo, thành viên, khả năng động viên nhân dân, thực lực,   vũ khí, đồng minh hậu thuẫn. Dưới đây là nhận xét của cá nhân tôi về một vài  tổ chức được mệnh danh là các đảng phái quốc gia.

A. ĐẢNG VIỆT NAM QUANG PHỤC

      1. Nhân vật lãnh đạo  là Hoàng Thân Cường Để, dòng Hoàng-tử Cảnh, được khối tín đồ Gia-tô ủng hộ vì là dòng Hoàng Tử Cảnh (đã theo đạo Gia-tô).Việc tín đồ Gia-tô ủng hộ ông là có bàn tay của Giáo Hội La Mã (giống như trường hợp Nguyễn Văn Thiệu ở miền Nam Việt Nam trong thời hậu - Diệm). Nêu  Nhật  thắng thế   đưa Cường Để về  Việt Nam thay thế Bảo Đại thì Vatcian sẽ thừa thắng xông lên phất cờ theo Nhật thi hành sách lược "muợn gió bẻ măng".

      2. Chính nghĩa? - Chủ trương của ông hoàng Gia-tô này là  muốn giành lại ngai vàng từ dòng Minh Mạng, vẫn duy trì chế độ quân chủ chuyên chế; nếu thành công sẽ có Giáo Hội La Mã ở hậu trường, giống như chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1963. Cụ Phan Bội Châu và một số các nhà Ái quốc khác của ta đã phò ông Cường Để vì các cụ không hề biết gì về bộ mặt thật của Giáo Hội La Mã, nhất là những thủ đoạn gian manh mà Giáo Hội La Mã đã từng sử dụng, cho nên mới lầm lẫn mà  phò cái ông hoàng này..

      3. Cán bộ cao cấp của đảng này ở Việt Nam là anh em ông Ngô Đình Diệm và thành phần đảng viên  đa số là những người  đang làm quan hay viên chức trong chính quyền liên minh  Vatican và Pháp.

Có người đặt ra vấn đề là những người Gia-tô này chống Pháp để giành độc lập cho tổ quốc. Xin thưa rằng những tín đồ Gia-tô, nhất là những   tín đồ Gia-tô đã gắn bó với chính quyền Liên Minh Pháp - Vatican là những người chỉ biết có tổ quốc của họ là Vatican, và họ cho rằng Việt Nam  không phải là quê huơng hay tổ quốc của họ. Các nhà truyyền giáo đã dạy họ như vậy  (Nguyễn Xuân Thọ, Bước Mở Đầu Của Sự Thiết Lập Hệ Thống Thuộc Địa Pháp Ở Việt Nam 1858-1897 (St. Raphael, Pháp: TXB, 1995, trang 17.) Hoàng thân  Cường Để  có chủ tâm lập đảng gây thế lực để giành ngai vàng với đám con cháu vua Minh Mạng, chứ không phải tranh đấu  cho quyền lợi tối thượng  của dân tộc.

Thế tại sao các ông quan Việt gian như các ông Gia-tô Ngô Đình Diêm, Ngô Đình Khôi, v.v... lại chống Pháp? Dưới đây là lời giải đáp:

Họ là những người đã từng làm quan cho Liên minh giặc Vatican - Pháp. Riêng về tín đồ Gia-tô cuồng tin Ngô Đình Diệm, bộ máy tuyên truyền ẩn hình của Giáo Hội La Mã du ông ta vào mê hồn trận. Chúng ta biết rằng   Vatican và Pháp là hai thế lực hùn hạp và cấu kết với nhau trong việc đánh chiếm và thống trị Việt Nam. Vatican vận động  Pháp xuất quân đánh chiếm Việt Nam. Phần hùn của Vatican là cung cấp tin tức tình báo chiến lược,  nhân sự địa phương đưa đường, dẫn lối chỉ điểm, làm thông ngôn, cung ứng các đạo quân thứ 5 và quân thập tự bản địa giúp cho việc bình định. Phần hùn của Pháp là  xuất quân, cung ứng tiền bạc tài trợ cho cuộc chiến. Theo quy luật "người nào chi tiền người đó nắm quyền", cho nên Pháp nắm thế chủ động điều khiển cuộc chiến và cầm trịch trong bộ máy cai trị tại Đông Dương. Hai thế lực Vatican và Pháp là "hai kẻ đồng sàng nhưng dị mộng", vốn đã không ưa nhau từ thời Cách Mạng Pháp 1789. Vì chính sách thực dân xâm lược tại hải ngoại mà tạm ngồi chung với nhau, nhưng vẫn tìm cách hất cẳng nhau. Pháp chỉ muốn Vatican được hưởng một số quyền lợi vật chất và quyền tự do truyền giáo, nhưng không được dựa vào bạo lực của chính quyền để cưỡng bách nhân dân phải theo đạo. Sở dĩ Pháp hành động như vậy, một phần vi ghê tởm cái chủ trương cố hữu "Thần quyền chỉ đạo thế quyền" và "làm sáng danh Chúa" bằng bạo lực của Giáo Hội, một phần vì sợ rằng nếu để cho Giáo Hội làm quá thì sẽ rơi vào tình trạng "già néo đứt giây" rồi "mất cả chì lẫn chài".Vì lẽ này, Pháp muốn trực tiếp cai trị Việt Nam.  

Trái lại, Vatcian  muốn Liên Minh Vatican - Pháp chỉ đóng vai trò giám hộ hay bảo hộ Việt Nam, dành lại cho triều đình một số quyền hành và biến các ông vua này trở thành tay sai của Vatican. Một khi triều đình Huế đã  trở thành tay sai của Vatican và  có một số quyền hành, Vatican sẽ nắm triều đình Huế và sẽ dùng những miếng mồi danh lợi để dụ khị những phường háo danh hám lợi theo đạo, và dùng quyền lực của triều đình bàn hành luật lệ  cưỡng bách nhân dân phải theo đạo, dùng những phương tiện khác của nhà nước để chèn ép những người thuộc các tôn giáo khác khiến nạn nhân không thể chịu đựng nổi và cuối cùng phải theo đạo để giải thoát. Vốn đã từng là nạn nhân lâu đời của Giáo Hội, người Pháp biết rõ thủ đoạn lưu manh này. Vì thế cho nên họ đã    bác bỏ thẳng thừng Kế Hoạch Kitô Hóa Việt Nam do Giám Mục Puginier soạn thảo và đề nghị từ giữa thập niên 1860. (Xin xem Cao Huy Thuần, Les Missionnaires Et La Poliqtue Coloniale Francaise Au Vietnam (1857-1914) [Heaven, CT: Yale Southeast Asia Studies, 1990,   trang 287-303]

Vì thế mà hai phe vẫn thường hục hặc với nhau. Để tranh thắng, Vatican   tìm cách vận động những nhân vật Pháp thân Vatican sang Đông Dương cầm quyền, nhưng không thành công. Vụ Ngô Đình Diệm cùng với một số tín đồ Gia-tô khác vận động cho cựu Toàn Quyền Alexandre  Varenne trở lại Đông Dương thay thế Toàn Quyền Pierre Pasquier vào tháng 12/1933 là bằng chứng.  Sự kiện này được sách Việt Nam Nhân Vật Chí ghi lại như sau:

"Theo một mật báo viên (Luật-sư Lê Văn Kim), tháng 12/1933, Diệm vào Sàigon gặp Nguyễn Phan Long, Lê Văn Kim, Jacques Lê Văn Đức v.v.... Tiếp đó, báo chí Saigòn và cả tờ La Lanterne ở Paris  mở chiến dịch đòi thay Pasquier bằng Cựu Toàn Quyền Alexander Varenne (7/1925-11/1927) và đưa Cựu Khâm Sứ Yves Châtel (6/1931-2/1933) trở lại Huế (1NF, c.366/d.2905)" [Vũ Ngự Chiêu,  Việt Nam Niên Biểu Nhân Vật Chí - Houston, TX:  Văn Hóa, 19970, trang 263]

Trâu bò húc nhau ruồi muỗi chết. Vatican và Pháp hục hặc nhau, thì bọn Việt gian làm tay sai cho Vatican và cho Pháp cũng bị ảnh hưởng. Trong vụ vận động cho Cựu Toàn Quyền Alexandre Varenne và Cựu Khâm Sứ Yves Châtel trở lại Đông Dương cầm quyền, Vatican thất bại, thì bọn Việt gian làm tay sai cho Vatican dính vào vụ này cũng khốn đốn. Anh em Gia-tô Ngô Đình Diệm và Gia-tô Nguyễn Hữu Bài dính vào vụ này tất nhiên là cũng phải chia phần lãnh thưởng hay bị trừng trị theo quy luật "Được làm vua, thua làm giặc". Sự thật lịch sử này được Tiến-sĩ Vũ Ngự Chiêu ghi lại như sau:

"Biết được  tin này qua Luật-sư Kim, Pasquier, nổi giận, truất hết các chức tước của  Bài, Diệm và Đệ. Diệm còn bị trục xuất khỏi Huế, chỉ định cư trú tại Quảng Bình. May mắn, ngày 15/1/1934, Pasquier chết vì tai nạn máy bay trên không phận Paris. Năm sau Bài cũng chết. Toàn Quyền Tené Robin (7/1934-4/1937) và Khâm Sứ Muarice Graffeuil (7/1934-5/1936, 4/1937-8/1941) đồng ý phục hồi tước vị cho Bài và Diệm. Diệm được trở về Huế  dạy học ở trường Providence của Thục, linh mục, anh trai của Diệm." [Vũ Ngự Chiêu, Sđd., trang 263 ]

      4. Thực lực: Đảng này không có chiến khu, chỉ có một số đảng viên co rúm ở trong các thành phố lớn và giới hạn trong một giới người  quen biết trong hàng ngũ quan lại hay viên chức làm tay sai cho liên minh giặc Vatican và Pháp, không có cán bộ  đi sâu vào trong đại khối nhân dân bị trị để thiết lập hạ tầng cơ sở. Nước ta là nước nông nghiệp. Có tới trên 98% là dân cày sống ở trong các làng thôn ở đồng quê. Ngoài ra, lại còn có giới người bị áp bức và bị bóc lột nhiều nhất và hết sức căm thù quân thù xâm lược và giai cấp thống trị, đó là hàng trăm ngàn anh em lao công  ở trong các đồn điền cao su ở cao nguyên Nam Trung Phần  cũng như Nam Việt,  tại các mỏ than Cẩm Phả và Hòn Gay. Đảng này hầu như hoàn toàn không có cán bộ len lỏi đi sâu và nông thôn, vào  các đồn điền cao su và các khu mỏ than để  bắt nhân, bắt rẽ tuyển mộ cán bộ và lôi cuốn họ và đảng để thiết lập hạ tầng cở sở và biến họ thành những đạo quân tiền phong khi khởi sự.

Tóm lại, về ly tưởng, đảng này  không những đã không có lý tưởng nào về  cách mạng; về thực lực, đảng này   chỉ có một số các ông quan và nhân viên ngồi văn phòng mà không có lính chiến đấu. Ở vào tình trạng như vậy, thì đảng này lấy sức mạnh ở đâu ra mà đánh đuổi Liên quân Vatican - Pháp ra khỏi lãnh thổ  đất nước?.

Lời giải thích hợp lý nhất được mọi người chấp nhận là:  Đảng này chỉ có chủ trương duy nhất  là chờ cho người Nhật lật người Pháp đưa ông   Cường Để về làm vua thay thế ông Bảo Đại,  và đưa ông Ngô Đình Diệm lên làm thủ tướng lập chính phủ. Như vậy, rõ ràng là đảng này chỉ là một con cờ "hờ" của Giáo Hội La Mã chờ khi người Nhật thắng thế để thi hành sách lược "theo voi ăn bã mía" và "mượn gió bẻ măng" mà thôi. Nếu như vậy, đối với đất nước Việt Nam, chỉ là chuyện thay đổi chủ mà thôi, và thân phận dân ta vẫn là  "sống kiếp nô lệ cho người ngoại bang.''

Cũng nên nhớ rằng, nếu không có cách nào khác mà vẫn phải sống trong kiếp đời nô lệ cho người ngoại bang thì "thà làm nô lệ cho một đế quốc thù ghét Giáo Hội La Mã vì đã từng có kinh nghiệm đau thương với   cái "Giáo Hội Khốn Nạn" (1)   còn hơn là làm nô lệ trực tiếp cho bọn tín đồ Gia-tô cuồng tín của Giáo Hội." Bằng chứng là  đời sống người dân ở các thuộc địa của Đế Quốc Anh (Hồng Kông, Ấn Độ, Ma Lai, v.v...) đỡ gấp trăm lần nếu so vời đời sống người dân ở các thuộc địa Pháp (Việt Nam, Marocco, Tunisia, Algeria, v.v...), và  đời sống người dân ở các thuộc địa Pháp bớt khốn khổ hơn nếu so với đời sống người dân ở các thuộc địa Tây Ban Nha (Phi Luật Tân, Mỹ Châu La Tinh)  hay các chế độ đạo phiệt Gia-tô như Ante Pavelich ở Croatia trong thời Đệ Nhị Thế Chiến và Augustin Misago ở Rwanda (Phi Châu) vào năm 1994. Sở dĩ chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm chưa đến nỗi quá quắt   vi có Hoa Kỳ canh chừng và tiền viện trợ của Hoa Kỳ đổ vào như nước. Ấy thế mà cái chế độ khốn nạn này vẫn không bao giờ đị trệch cái hướng đi "làm sáng danh Chúa" bằng bạo lực và bằng những chức vụ cùng những phương tiện của chính quyền để dụ khị, chèn ép hay cưỡng bách nhân viên chính quyền và nhân dân ta phải vào đạo .

(1) Học giả Henri Guillemin gọi Giáo Hội La Mã là cái Giáo Hội Khốn Nạn (Malheureuse Église)  [Nhiều tác giả, Vatican Thú Tội Và Xin Lỗi? (Garden Grove, CA., Giao Điểm, 2000 (tái bản), trang 92], và văn hào Voltaire gọi đạo Kitô La Mã (Giáo Hội La Mã) là  "cái tôn giáo ác ôn"  (Bùi Đức Sinh, Lịch Sử Giáo Hội Công Giáo - Phần Nhì (Sàigòn, Chân Lý, 1972, trang 165.). .

Thế nhưng thiên  bất dung gian. Người Nhật vốn đã biết rõ bộ mặt thật của Giáo Hội La Mã qua những bài học lịch sử thế giới  không kém gì dân tộc Pháp và dân tộc Hoa Kỳ, và  lại cũng có kinh nghiệm bản thân  bằng xương bằng máu với  Giáo Hội La Mã. Kinh nghiệm  xương máu này của dân tộc Nhật  được  ông Charlie Nguyễn ghi lại nhau sau:

"Vào năm 1638, tại Nagazaki (Nhật Bản) có khoảng 100,000  (100 ngàn) giáo dân Công Giáo làm nội ứng cho quân Bồ Đào Nha tấn công xâm chiếm Nhật Bản. Triều đình Nhật cử Tướng Iemitsu  mang đại quân tới Nagazaki để "Bình Tây Sát Tả". Kết quả là bọn xâm lược Bồ Đào Nha bị đánh bật ra khỏi lãnh thổ Nhật Bản, Tất cả các cha cố thừa sai bị bắt và đều bị đóng đinh vào thập giá với những chiếc áo dòng của loài quạ, chứ chúng không bị lột truồng nhục nhã như Chúa của họ ở trên đồi Golgotha. Còn đạo quân thư 5 cúa địch là tập đoàn giáo dân Công Giáo ở Nagazaki bị diệt gọn 37,000 (37 ngàn) người. Một số giáo dân sống sót nhẩy lên tầu Bồ Đào Nha trốn sang Hội An, Việt Nam. Sau biến cố quyết liệt này, nước Nhât sạch bóng thù trong giặc ngoài và tiến lên địa vị siêu cường kinh tế và văn hóa như ngày nay khiến cho cả thế giới phải kính phục."  [Charlie Nguyễn, Công Giáo Huyền Thoại Và Tội Ác (Garden Grove, CA: Giao Điểrm, 2001), trang 25-28]

Học giả Trần Quý cho biết con số các cha cố bị hành hình lên tới 26 tên và nói rõ bọn cha cố truyền giáo còn đánh phá ở nhiều nơi khác nữa::

"Tại Nagazaki, 26 giáo sĩ bị hành hình. Đã hiểu thâm ý của Vatican, các tướng quân (Nhật) về sau tiếp tục diệt đạo Ca-tô (Gia-tô) có khi gắt gao hơn cả Hideyosohi. Tướng-quânYeyasu cấm giáo dân đi theo giáo sĩ trốn ra nước ngoài.

Năm 1637, dân đạo Ca-tô ở đảo Amakusa và vùng lân cận là Shimbara ép Phật tử đổi sang đạo Ca-tô, lại võ trang chống chính phủ. Các giáo sĩ Tây Phương Dòng Tên cầm đầu 30,000 (30 ngàn) quân dương cờ lâm trận; có cờ mang tên Jesus, tên Maria. Họ giết vị quan cai trị Shimbara, chiếm thành trì làm nơi cố thủ. Quân chính phủ không phá được thành vì không có đại bác đủ mạnh, phải điều đình mượn  thương thuyền có võ trang của Hòa Lan. Người Hòa Lan theo đạo Tin Lành, cũng thờ Jesus, nhưng không biết ý Chúa Cứu Thế này ra sao mà họ không chịu đội trời chung với Tây Ban Nha. Đại bác của Hòa Lan mạnh, thành bị phá, quân chính phủ Nhật tiêu diệt được quân Ca-tô (Gia-tô) ở trong. Từ đó trở đi, đạo Ca-tô không ngóc đầu lên nổi ở Nhật. Một số người Nhật trốn ra khỏi nước đã làm nghề phụ giáo sĩ ở Hội An để độ thân." [Nhiều tác giả,  A. De Rhodes  Và Chữ Quốc Ngữ (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 1998), trang 198-199]

Phải một cái rái đến già. Con chim bị đạn sợ làn cây cong. Theo gương người Mỹ, người Âu Châu, người Nhật cũng lánh xa "Giáo Hội La Mã" như lánh hủi , chỉ lợi dụng bọn  Gia-tô vong bản phản quê hương người Việt (như Cường Để và anh em Ngô Đình Diệm) trong một giai đoan nào đó thôi. Vì thế cho nên, đêm 9 tháng 3 năm 1945, Nhật  lật đổ Pháp, nhưng lại không đưa Gia-tô Cường Để về làm  vua bù nhìn và cũng không đưa Gia-tô Ngô Đình Diệm lên làm thủ tướng.  Họ vẫn duy trì ông Bảo Đại làm vua gỗ và đưa học giả Trần Trọng Kim lên làm thủ tướng.  .

Ngày 15/8/1945, Nhật đầu hàng Đồng Minh. Theo lệnh của Đồng Minh, quân Nhật phải đóng quân tại chõ và có trách nhiệm duy trì an ninh trật tự. Trong tình huống như vậy,  đảng Việt Nam Quang Phục thân Nhật của Hoàng Thân Cường Để có anh em ông Ngô Đình Diệm ở trong nước hoạt động mạnh, dù cho không được người Nhật tích cực ủng hộ, những ít ra họ cũng có thiện cảm với ông Cường Để và gia đình ông Ngô Đình Diệm, nhất là người con trưởng của ông Ngô Đình Khôi (anh ruột ông Ngô Đình Diệm) là Ngô Đình Huân  lúc đó  vừa là bí thư (chánh văn phòng) của vị ông Đại Sứ Nhật ở Yokohama ở Huế, vừa hoạt động tích cực trong ngành tình báo của Nhật ở Việt Nam. Trong hoàn cảnh thuận lợi như vậy, đáng lý , đảng này có cơ may nhẩy ra cướp chính quyền. Thế những cái đảng bảo hoàng này trong thực tế  chỉ là "hữu danh vô thực", không có thực lực ở trong nước, mà hoàn toàn trông cậy vào thế lực ngoại bang   là người Nhật đưa lên nắm quyền.Nhật khoanh tay, bất động, không giúp họ thì  họ không làm được trò trống gì cả. Âu đó cũng là cái đại phúc cho dân tộc Việt Nam thoát khỏi cái đại họa Gia-tô mà sau này nhân dân miền Nam Việt Nam phải gánh chịu ròng rã hơn chín năm trời và hậu quả còn kéo dài cho đến ngày nay.

B. VIỆT NAM QUỐC DÂN ĐẢNG

      1. Nhân vật lãnh đạo là: Vũ Hồng Khanh. Tuy là  nhà cách mạng chuyên nghiệp,  nhưng lại không hiểu rõ kỹ thuật và phương cách đấu tranh để thủ thắng giành lại chủ quyền cho toàn dân và thắng lợi cho toàn dân thì  Quốc Dân Đảng vẫn thành công như thường.

      2. Chủ trương của đảng: Là hậu duệ của Việt Nam Quốc Dân Đảng của nhà ái quốc Nguyễn Thái Học, Việt Nam Quốc Dân Đảng của cụ Nguyễn Hải Thần củng có chủ truơng như Quốc Dân Đảng Trung Hoa, nghĩa là quyết tâm theo đuổi Tam Dân Chủ Nghĩa": Dân tộc: độc lập, dân sinh: hanh phúc,  dân quyền: tự  do. Rập khuôn theo đường lối Quốc Dân Dẩng Trung Hoa, Quốc Dân Đảng Việt Nam cũng chia ra làm ba giai đoạn thực thi cách mạng. Ba giai đoạn này là:

a. Quân Chính. Trong giai đoạn đầu, đảng dùng sức mạnh quân đội đánh đuổi liên minh giặc Vatican và Pháp, thiết lập chế độ quân phiệt để ổn định tình thế và sọan thảo kế hoạch để thi hành cho giai đoạn kế tiếp.

b. Huấn chính.  Chính quyền mở các lờp học tập chính trị  nhằm nâng cao dân trí, nhất là những kiến thức về chính trị và thế đứng của Việt Nam trong cộng đồng nhân loại. Về chính trị, đảng cố gắng giáo dục cho nhân dân hiểu rõ thế nào là chế độ quân chủ trung ương tập quyền mà ta thường gọi là quân chủ chuyên chế, quân chủ lập hiến, các chế độ độc tài  như độc tài Phát Xít Ý, độc tài Đức Quốc Xã, độc tài quân sự (quân phiệt), độc tài tôn giáo (đạo phiệt), độc tài đảng trị hay độc tài Cộng Sản. Đồng thời người dân cũng được dạy các quyền tự do căn bản của người dân và cách thức bầu cử tuyển  chọn người đưa vào làm việc tại các ngành lập pháp, hành pháp và tư pháp.  Khi đã hoàn thành giai đoạn này, một cuộc bầu cử được tổ chức để bầu đại diện vào quốc hội  lập hiến. Quốc hội này có nhiệm vụ soạn thảo hiến pháp làm nền tảng tổ chức chính quyền. Soạn thảo xong, quốc hội này phải giải tán.

c. Hiến Chính: Khi đã soạn  thảo xong hiến pháp, chính quyền sẽ ấn định ngày bầu cử quốc hội lập pháp và bầu cử vị nguyên thủ ngành hành pháp. Quốc hiệu, quốc kỳ và danh xưng của người lãnh đạo đều được hiến pháp hay quốc hội lập pháp quyết định.

Trên đây là chủ trương của đảng. Chủ truơng này rất hay và rất tiến bộ vào thời bấy giờ và cho đến ngày nay nếu được nghiêm chỉnh thực thi vẫn là một chế độ chính trị lý tưởng. Nếu hiên pháp được soạn thảo phỏng theo Hiến Pháp Hoa Kỳ, có ghi rõ các điều khoản như phân quyền, tản quyền, Check and Balance (ngành nọ kiểm soát ngành kia và quân bằng quyền lực giũa ba ngành lập, hành pháp và tư pháp), giới hạn nhiệm kỳ (term limit) và các biện pháp chế tài dành cho các nhân vật  lãnh đao và các viên chức cao cấp trong chính  quyền (impeachment), đặc biệt nhất là "tách rời tôn giáo ra khỏi chính quyền" hay làm hiến chế cho các tôn giáo và giới tu sĩ (như chính quyền Cách Mạng Pháp đã làm ngay sau khi Cách Mạng 1789 đã thành công), và ghi rõ các quyền tự do căn bản của người dân. Nếu làm được như vậy thì quả thật là tuyệt vời.

3. Thực lực: Nếu đem so với Đảng Việt Nam Phục Quốc, thì Quốc Dân Đảng tương đối có thực lực thực sự. Tuy nhiên, cán bộ và đảng viên phần nhiều chỉ giới hạn trong giai cấp tiểu tư sản thành thị và một số  thuộc thành phần con nhà giầu có ở một vài vùng nông thôn. Phải thành thật nhìn nhận một sự thật là những thành phần tiểu tư sản và các ông công tử   con em các nhà giầu có ở nông thôn tham gia cách mạng một phần vì tự ái dân tộc, một phần vì lý tưởng muốn giành lại chủ quyền cho đất nước. Tiếc rằng, họ không có động lực căm thù liên minh giặc Vatican và Pháp. Bản thân và gia đình họ  không bị áp bức, không bị bóc lột đến tận xương tận tủy. Hộ không có những thân nhân là nạn nhân trong số hại trịệu người chết đói trong mùa xuân Ất Dậu 1945. Họ không hề  bị bọn cường hào ác bá tay sai của nhà nước đương quyền áp bức và hành hạ. Hộ cũng khôngà có thân dân đói khổ phải đi làm lao công ở một trong các đồn điền cao su hay trong các công trường khái thác thân đá ở Hông Gay hay Cẩm Phả.

Thêm nữa, cái nhược điểm vĩ đại của những người thuộc các thành phần trên đây là quen với nếp sống  phong lưu, lè phè, không quen với những cuộc sống  làm ăn vất vả cực nhọc. Cho nên khi phải dấn thân  trực diện với những nỗi gian khổ, cực nhọc ở chiến khu thì không chịu nổi, không đủ sức chiu đựng hy sinh đến cùng. Từ đó, họ sinh ra thối chí rồi bỏ cuộc.

Đảng này cũng không tận dụng khả năng hay cố tình bỏ quên, không huy đông đại khối nhân dân bị áp bức và bị bóc lột đến tận xương tận tủy. Chính cái đại khối nhân dân bị trị này mới dám liêu chết hy sinh chiến đấu cho cho đại cuộc của đất nước để  vừa mang lại vinh quang cho tổ quốc và  dân tộc, vừa cải thiện thân phận của chính bản thân và gia đình cùng bà con xóm làng của họ.

Khi nước Nhật đầu hàng Đồng Minh vào ngày 15/8/1945, quân Nhật ở Đông Dương án binh bất động. Đây là thời cơ tốt nhất để cho các đàng phái có võ trang nhẩy ra chớp thời cơ cướp chính quyền thiết lập bộ máy cai trị lâm thời để nắm thế thượng phong trong việc ổn định nhân dân và đối đầu với các phe đối lập    thiếu cán bộ và đảng viên nằm ở trong đại khối  nhân dân bị trị sinh sống ở trong các tỉnh nhỏ và ở trong các vùng nông thốn, Quốc Dân Đảng Việt Nam không có đủ nhân sự nhẩy ra trám vào "khoảng trống chính trị" ngàn năm một thuở này, mà chỉ loay hoay xoay sở được ở một vài địa phương như ở Quảng Nam, Quảng Ngãi và một vài  vùng ở Trung Du Bắc Việt.

Nếu nhược điểm lớn nhất của Đảng  Việt Nam Phục Quốc là trông cậy vào cây dù của người Nhật thì nhược điểm lớn nhất của Quốc Dân Đảng Việt Nam  là trong cậy vào cây dù của Quốc Dân Đảng Trung Hoa của ông Tưởng Giới Thạch. Điều bất hạnh cho Quốc Dân Đảng Việt Nam là vào khoảng cuối tháng 9 năm 1945,  gần hai trăm ngàn Quốc Quân Trung Hoa tràn vào lãnh thổ Việt Nam để tước khí giới quân Nhật ở miền bắc vĩ tuyến 16. Những hành động cướp của, đánh đập dân lành, hãm hiếp đàn bà con gái và cưỡng bách dân ta phải tiêu thụ tiền "quan kim" vô giá trị của quân Tàu làm cho nhân dân ta  hết ghê tởm và thù ghét Quốc Dân Đảng Trung Hoa và người Tầu. Ấy thế mà Quốc Dân Đảng Việt Nam lại liên minh cấu kết với đám quân Tàu ô này thì quả thật là  một hành động thiếu ý thức chính trị  và tự mua thù chuốc oán với đại khối nhân dân Việt Nam  ta.

Với những nhược điểm như vậy, làm sao Quốc Dân Đảng Việt Nam có thể chống lại với Việt Minh đuợc? Chưa nói đến chuyện có giống như Quốc Quân Trung Hoa hay không.

C. CÁC ĐẢNG PHÁI QUỐC GIA KHÁC

      Vì giới hạn của lá thư này, tôi chỉ xin nói vắn tất . Các đảng phái khác cũng có những nhược điểm gần giống như nhược điểm của Quốc Dân Đảng  Việt Nam trên đây, giống nhau về thành phần cán bộ và đảng viên, giống nhau về trông cậy vào Quốc Dân Đảng Trung Hoa, giống nhau về bỏ quên đại khối nhân dân bị trị,  bị  áp bức và bốc lột đến tận xương tận tủy là thành phần nông dân và anh em lao công trong các đồn điền cao su và các mỏ than Hồng Gay và Cẩm Phả.

D.   HAI GIÁO PHÁI CAO ĐÀI VÀ HÒA HẢO

      Hai giáo phái này có một vài nhược điểm lớn lao là chỉ giới hạn tại một địa phương ở miền Nam, chứ không lan rộng ra toàn quốc. Vì thế  mà hai giáo phái này không thu hút được những thành phần căm thù liên minh giặc Vatican và Pháp, nhất là nhân dân miền Bắc và Bắc Trung Kỳ còn mang nặng  dấu ấn  của nạn đói khủng khiếp giết hại tới hai triệu người hồi đầu năm 1945. Hơn nữa, hai giáo phái này lại có liên hệ với quân xâm lăng Nhật. Sự kiện này rất là bất lợi về phương diện chính trị. Ngoài ra, hai giáo phái này cũng không có những cán bộ chuyên môn giỏi vễ kỹ thuật tranh đấu chính trị.

Cái nguyên lý ngàn đời là khi hai phe thù địch đối đầu với nhau thì những nhược điểm của  phe này là những lợi điểm của phe kia. Áp dụng cái nguyên lý này vào hoàn cảnh các đảng phái chính trị kình địch nhau vào mùa thu năm 1945 và trong mấy năm kế tiếp, chúng ta có thể thấy rõ là những nhược điểm của các đảng   phái  ái quốc (ngoại trừ đảng Việt Nam Quang Phục của Gia-tô Cường Để vì chủ trương là  dựa vào thế lực của người Nhật để giành lại Ngai vàng, chứ không phải vì quyền lợi tối thương của dân tộc, cho nên không thể gọi đảng này là đảng ái quốc được).  Tình hình Việt Nam vào mùa hè và mùa thu năm 1945, với tình trạng các đảng phái ái quốc vừa phải chiến đấu chống lại liên minh giặc Vatican - Pháp và bọn Việt gian tàn dư (bọn cuồng đạo Việt gian ở rải rác trong toàn quốc) của thế lực này, vừa phải chống quân Nhật, vừa phải chống đối và hủy diệt lẫn nhau, tức là mỗi một đảng phải chống lại tới 4 hay 5 thế lực thù đich. Tình trạng này còn rắc rối hơn tình trạng các lực lương võ trang của người Trung Hoa cũng vừa  chiến đấu chống lai quân Nguyên Mông Cổ  vừa chống nhau trong thời tiền bán thê kỷ thứ 14 và tình trạng   các lực lượng nghĩa quân của dân tộc ta (cũng vừa chống quân Minh vừa chống đối nhau)  trong  20 năm  nằm dưới ách thống trị của quân Minh vào đầu thế kỷ 15. Do đó, ta có thể nói thắng lợi của Việt Minh chớp lấy thời cơ cướp chính quyền vào mùa thu năm 1945  không khác gì những thắng lợi của Chu Nguyên Chuơng trong hậu bán thế kỷ 14 ở bên Trung Hoa và thắng lợi của vua Lê Lợi trong công cuộc   đánh đuổi quân Minh giành lại quyền tự chủ cho đất nước vào năm 1427.

5. VỀ ÔNG HỒ CHÍ MINH

      Theo tôi nghĩ, lúc đầu ông Hồ Chí Minh dấn thân đi làm Cách Mạng là do lòng ái quốc. Có lẽ sau khi bị Tổng Thống Hoa Kỳ Wilson từ chối không tiếp kiến ở Paris vào năm 1919, ông thất vọng với người Mỹ. Trong lúc đó thì các cán bộ Công Sản Pháp và Đức lại niềm nở đến với ông, giúp ông tìm hiểu con đường giải phóng dân tộc theo quan điểm và đường lối của chủ nghĩa Cộng Sản. Cũng nên biết rằng vào thời điểm bấy giờ và cho cả đến đầu thập niên 1930, rất ít người nghĩ rằng Cộng Sản lại có thể tàn ác như như Cộng Sản Nga vào giũa thập niên 1930 trong thời ông Staline    Cộng Sản Trung Hoa trong thời Mao Trạch Đông từ gữa thập niên 1950. Trong thực tế, giặc Pháp chỉ là cái sản phẩm do công trình vận động  của Tòa Thánh Vatican trong gần hai thế kỷ mà thôi. Trong lịch  sử, Giáo Hội La Mã không những chỉ cấu kết với  Đế Quốc Pháp Thực Dân Xâm Lược. Từ thế kỷ 11, Giáo Hội còn phát động các cuộc thập tự chiến, thiết lập các Tòa Án Dị Giáo để truy lùng, tiêu diệt và tàn sát những người khác đao mà Giáo Hội gán cho là "tà giáo", thuyết phục các nước Pháp, Ý, Đức và Anh đem quân tấn công nhân dânHồi Giáo ở vùng Trung Đông và nhóm dân thuộc giáo phái Cathari ở miền Nam nuớc Pháp. Khi người Bồ Đào Nha  thành công trong cuộc thám hiểm các vùng biển Tây Phi, tìm đường đến Ấn Độ, Giáo Hội  nhẩy vào ăn có với Bồ Đào Nha. Khi Columbus khám phá ra Mỹ Châu vào năm 1492 cho Tây Ban Nha, Giáo Hội nhảy ra  tiếp tay và khích lệ quốc gia này đem quân đi chinh phục các vùng đất mới khám phá ở Mỹ Châu..  

Với những thành tích bạo ngược, hiếu chíến, hiếu sát, khát máu,  dã man, ăn có và vơ vào như vậy của Giáo Hội La Mã, tất nhiên là không phải chỉ có các nước theo  chế độ Cộng Sản mới coi Giáo Hội  La Mã là kẻ thù số 1, mà tất cả các nước theo chế độ dân chủ tự do như Anh, Pháp, Hoa Kỳ và các nước khác ở Bắc Mỹ và ở Tây Âu đều phải kinh tởm và coi Giáo Hội như một thứ cùi hủi cần phải lánh xa. Bằng chứng là Hiến Pháp Hoa Kỳ ghi rõ điều khoản "Tách rời tôn giáo ra khỏi chính quyền" và cắt đứt liên hệ ngoại giáo với Tòa Thánh Vatican từ năm 1867  cho đến năm 1984 mới nối lại (vì biến cố ở Ba Lan).

Cách Mạng Pháp vừa mới bùng nổ vào ngày 14/7/1789 thì ngay sau đó, tân chính quyền ra lệnh tịch thu toàn bộ tài sản của Giáo Hội tại Pháp, tước bỏ hết mọi đặc quyền đặc lợi mà trược kia Giáo Hội đã tiếm đọat, huỷ bỏ thuế thập phân, các trường học và tu viện của Giáo Hội bi đóng của và quốc hữu hóa, ban hành hiến chế dân sự cho giới tu sĩ Gia-tô, quy định quyền bổ nhậm tu sĩ thuộc chính quyền và buộc họ phải thề trung thành với  quốc gia chứ không phải trung thành với Giáo Hội, đặc biệt nhất là đưa hơn 17 ngàn nam tu sĩ, hơn 30 ngàn nữ tu và 47 giám mục lên đọan đầu đài.  Mạnh hơn nữa, chính quyền Cách Mạng Pháp còn tuyên bố, "Destroy Rome and papacy utterly / Hủy diệt hoàn toàn kinh thành La Mã và chế độ Giáo Hoàng của Tòa Thánh Vatican" và trao cho Tướng Bonaparte đem quân sang Ý để thi hành sứ mạng này. [Malachi Martin, The Decline And Fall Of The Roman Church (New York: Putnam's Sons , 1981), trang 232). 

Theo gương Pháp, năm 1857 nước Mễ Tây Cơ, dù rằng hơn 90% dân số là tín đồ Gia-tô của Giáo Hội  mà họ cũng nổi lên làm cách mạng, áp dụng những biện pháp mạnh đối với Giáo Hội   và ban hành hiến pháp với những   điều khoản giống y như nước Pháp đã làm [Chalie Nguyễn, Thực Chất Đạo Công Giáo và Các Đạo Chúa (Garden Grove, CA., Giao Điểm, 2003)   trang 159].

Theo sau Mễ Tây Cơ là nước Ý. Khi  thành công kéo quân vào kinh thành Rome vào ngày 19/9/1870, Cách Mạng Mạng Ý liền cho pháo binh nã vào tổng hành dinh của bọn đầu não Vatican ba giờ liên tiếp, khiến cho Giáo Hoàng Pius IX (1846-1878) phải ra lệnh kéo cờ trắng đầu hàng. Sau đó, tân chính quyền tịch thu toàn bộ tài sản của Giáo Hội, các lãnh thồ trực thuộc quyền cai trị của Tòa Thánh Vatican bị tước đọat, chỉ còn để lại cho Tòa Thánh một khu đất nhỏ 480 ngàn thước vuông ở trên và chung quanh ngọn đồi Vatican trong khu vực  Quảng Trường Peter cùng các tòa nhà kế cận [Malachi Martin, The Rich Church, Poor Church (New York: Putnam's Sons , 1984), trang 170]. Sau đó, nhiều quốc gia nạn nhân của Giáo Hội cũng noi theo guơng Pháp, Mỹ, Mễ  và Ý, nổi lên làm cách mạng, ban hành những biện pháp mạnh để trừng trị Giáo Hội và ghi vào hiến pháp của nước họ điều khoản "tách rới tôn giáo ra khỏi chính quyền."

Lòng căm thù của nhân dân thế giới đối với Giáo Hội La Mã là như vậy. Thử hỏi rằng, nếu ông Hồ Chí Minh  cũng biết rõ những sự thật trên đây, đã thất bại trong việc tiếp xúc với Hoa Kỳ thì làm sao ông không ngả theo Nga để chống lại cái liên minh giặc Vatican và Pháp để giải thoát  cái ách Thập Ác và thực dân Pháp đang đè nặng trên quê hương thân yêu của chúng ta?.

Ông   Stalin cầm quyền ttừ năm 1924, nhưng đến giũa thập niên 1930 mới lộ các tàn ác mà ta gọi là Stalinism, ông Mao Trạch Đông thốnh nhất klục địa Trung Hoa từ mùa thu năm 1949, những mãi tới gần cuối thập niên 1950, người ta mới thấy các tàn ác củc chế độ Mao Trạch Đông. Trong khi đó thì Giáo Hội La Mã ra đời vào giữa thập niên 310, sâu đó mấy chục năm, là thi hành những thủ đoậ lư manh bị bợm, rối sau đó theo đưởi chủng trương thần quyền chỉ đạo thế quyền, thi hành chính sách bất khoan dung đới với các thành phầ thuôc các hê phái Kitô khác và tôn giáo khác bằng những chiến dịch "làm sáng danh Chúa", giết hại hơn 250 triệu người. Nếu đem mức độ và thành tích tàn ác và dãn man với Giáo Hội La Mã  thi gom tất cả ca mức độ tàn ác và dã man của tất cả các chế độ Cộng Sản Stalin, Mao Trạch Đông, Việt Nam, Cuba cũng chỉ  đòi thất lè tè đứng bên cạnh rặng nứi Hy Ma Lạp Són. Sự thật rõi ràng là nhú vậy mà những  tín đồ Gia-tô ngoan đạo người Việt Nam không biết hay cố tình không biết. Nếu không biết thì gọi là dốt. Nếu biế mà cố tình lả như không biết là lưu manh. Có lẽ hộ vừa dốt vừa lưu manh thì đúng nhất.

6. VỀ ÔNG BẢO ĐẠI

      Thiết tưởng ông vua gỗ này  với những hành động thoái vị vào cuối tháng 8 năm 1945, rồi lại quay ra đi theo Pháp và Tòa Thánh Vatican từ năm 1948, hành động a tòng với Vatican và Pháp cho   quân nhẩy dù xuống Phát Diệm vào ngày 16/10/1949 để tiến hành kế hoạch tách rời các giáo khu Phát Diệm và Bùi Chu nhằm biến hai giáo khu này thành hai  vùng tự trị, rồi sau đó chu cấp cho Phát Diệm mỗi tháng 2 triệu đồng cho Phát Diệm và Bùi Chu (được ghi rõ trong bức thư mang số 2.011/VP/CT/DG của Đổng Lý Văn Phòng Bảo Đại gửi Giám-mục Lê Hữu Từ) [Quang Toàn & Nguyễn Hoài, Những Hoạt Động Của Bọn Phản Động Đội Lốt Thiên Chúa Giáo Trong Thời Kỳ Kháng Chiến 1945-1954 (Hà Nội: Nhà Xuất Bản Khoa Học, 1965), trang 60 &67-68], hành động ban hành Dụ số 10 vào ngày 6 tháng 8 năm 1950 với chủ đích chuyển nhượng toàn bộ bất động sản của Giáo Hội La Mã do các tu sĩ Gia-tô người Pháp đứng tên  cho  các tu sĩ Gia-tô người Việt đứng tên [Nguyễn Văn Châu, Ngô Đình Diệm Nỗ Lực Hòa Bình Dang Dở  -Nguyễn Vy Khanh dịch (Los Alamitos, CA: Xuân Thu, 1989), trang 213-214], và cuộc đời ăn chơi phóng đãng của ông ta, tất cả đã nói lên cái vai trò của ông ta  làm tay sai đắc lực cho Giáo Hội La Mã và người Pháp.

Những câu hỏi khác về ông Ngô Đình Diệm,  sẽ trả lời anh trong tập sách Bàn Tay Của Giáo Hội La Mã Trong Thảm Trạng Việt Nam từ Năm 1945 mà tôi  sắp hoàn thành. Còn vấn đề sách của tôi nhờ anh bán, xin anh cứ giữ để bán dần, anh đừng nghĩ ngợi gì cả. Tôi và các bạn bè thân thiết của tôi đều có cùng một lý tưởng viết sách để nói lên những sự thật lịch sử của nước nhà trong thời cận và hiện đại đã bị bọn thi hành sứ mạng "làm sáng danh Chúa" bóp méo, bưng bít và xuyên tạc, chứ không phải viết sách làm thương mại

Xin tạm ngưng viết ở đây. Một lần nữa, chúc chị sớm bình phục và gia đình anh cùng tất cả mọi người thân thương được vạn sự như ý.

Xiết chặt tay anh,
Việt Án Anh

Mark_03.gif (833 bytes)  Mời đọc Phụ Chương I: Lá thư của ông Võ thành Long

Mark_03.gif (833 bytes)  Về trang Nghiên cứu & đối thoại tháng 5-2003

Home  |  Top Page | Về trang mục lục

© Thư từ và bài viết cho mục này, xin gởi attachment về email: giaodiem@giaodiem.net

. ..........