-
Kitô nguyên thủy! Họ là ai?
Đọc Công Vụ Tông Đồ và các
Thánh Thư, chúng ta dễ dàng nhận ra một điều, hoạt động của các nhóm
Kitô nguyên thủy thường diễn ra tại các hải cảng, những nơi phồn hoa
đô hội, các thành phố lớn, nơi có mạng lưới giao thông thuận lợi. Từ
Giêrusalem, Antiôkia đến Corintô, từ Tiểu Á đến Hy Lạp, Rôma... Nói
chung, đó là những nơi rất thuận tiện cho các hoạt động kinh tài nhằm
duy trì lực lượng trong thời kỳ “hậu Giêsu”.
Các nhóm Kitô nguyên thủy
là tập hợp những người thợ thủ công có tay nghề, tiểu thương, lái
buôn đường dài, điền chủ v.v... Bản thân Phaolô khi hoạt động ở Côrintô
cũng đã từng góp vốn với vợ chồng Aquila-Priscilla kinh doanh trong nghề dệt.
(Cv 18:1-4)... Đầu não lãnh đạo của họ chính là các thủ lĩnh thuộc “nhóm mười hai”, về sau tăng cường
thêm một số người khác như Phaolô. Luca v.v... Có người vì quá nhiệt
tình bán hết đất đai ruộng vườn để đóng góp tài chính cho tổ chức
(Cv2:44). Tuy vậy, cũng có lúc những người lãnh đạo phong trào “làm
mình làm mẩy” với những người muốn đóng góp: “Các anh tưởng có thể
dùng tiền để mua được ân huệ của chúa sao? (Cv 8:20). Hoặc cũng có người
vì sự đóng góp không tương xứng đã phải trả giá bằng mạng sống (Cv
5:1-6).
Không phải vô cớ mà qúy
tộc Do Thái và đế quốc Rôma “bách hại” họ. Cái gọi là “bách hại”
thực ra xuất phát từ sự manh động của đám tân tòng cuồng nhiệt.
Chính Phaolô khi còn là một quan chức thuộc công nghị Do Thái đã hoạt động
tích cực trong việc tìm kiếm, tiêu diệt các nhóm Kitô phiến loạn nhằm
ngăn chặn các phong trào quần chúng ảnh hưởng Giêsu. Phaolô cũng là người
đã từng tham gia vào vụ án giết Stêphan, tông đồ đầu tiên của Giêsu
bị kết án tử hình (Cv 8:1-3). Sau đó Phaolô nhận thấy phong trào quần
chúng chống qúy tộc Do Thái và đế quốc Rôma ngày càng mạnh, tác động
sâu rộng trong toàn xã hội, ông đã quyết định bỏ giai cấp qúy tộc đứng về phía quần chúng bị áp bức.
Nhìn chung, nhiều người
trong số họ thuộc giới qúy tộc như Phaolô, trí thức như Luca v.v... Đa số
bọn họ đều thuộc giai tầng trung lưu, gia đình giàu có với nhiều nô lệ
phục dịch, Khi chủ gia nhập các tổ chức Kitô thì các nô lệ cũng phải
gia nhập theo, số nô lệ đương nhiên đông hơn giới chủ. Vì thế, nhiều
học giả Công giáo ngày nay cho rằng: Giáo hội của họ thời sơ khai là
“giáo hội của những nô lệ, người nghèo”, kỳ thực họ không nghèo,
họ thừa sức mua sắm những phương tiện di chuyển tốt nhất để hoạt
động, phạm vi hoạt động của họ rộng khắp trong lãnh thổ đế quốc
La Mã. Những chuyến đi con thoi bằng tàu giữa hai bờ Địa Trung Hải với
3 lần bị đắm của Phaolô (2Cr 11,25), chứng tỏ nếu không mạnh về tài
chính, không bao giờ họ làm được việc này...
Người Do Thái luôn khát
khao tự do độc lập. Tác giả sách Công Vụ Tông Đồ nắm được tâm lý
ấy, nên phần đầu sách Công Vụ, tác giả viết: “Bấy giờ những người
đang tụ họp ở đó hỏi người rằng: Thưa thầy, có phải bây giờ là
lúc thầy khôi phục vương quốc Israel không?” Đương nhiên, để khôi phục
lại vương quốc Israel trong lúc đế quốc La Mã đang hùng mạnh và tàn bạo
không phải là điều dễ dàng. Vì thế, tác giả đã đặt vào miệng
Giêsu câu nói bâng quơ để trấn an: “Anh em không cần biết thời giờ
và kỳ hạn chúa cha đã toàn quyền sắp đặt”, đồng thời lên dây cót
cho họ: “Anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi người ngự
xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là nhân chứng của thầy tại
Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari và cho đến tận cùng trái đất”
(Cv1:6,8).
Phải thừa nhận rằng,
tác giả sách Công Vụ Tông Đồ là người có “tầm nhìn chiến lược”,
chính câu “anh em sẽ là nhân chứng của thầy cho đến tận cùng trái đất”
đã biến Châu Âu thành lục địa Kitô giáo, biến giáo hội Rô Ma thành
giáo hội hoàn vũ. Và ngày nay ta thấy nhan nhản trên các sách báo Công
giáo những khẩu hiệu mới của giáo hội như: “Giáo Hội Lên Đường”,
“Giáo Hội Lữ Hành”v.v... chứng tỏ
tham vọng Công giáo hóa thế giới “cho đến tận cùng trái đất” của đế quốc Vatican là không có điểm
dừng...
Khởi đầu, ý muốn “khôi
phục vương quốc Israel” của các nhóm Kitô nguyên thủy chỉ giới hạn
trong phạm vi đất nước Do Thái. Những người theo Giêsu đã từng hỏi
ông: “chúng tôi đã bỏ mọi thứ để theo thầy, vậy chúng tôi sẽ được
gì?” Giêsu đã trả lời họ bằng một hứa hẹn về quyền lực sau khi
khôi phục lại vương quốc đang bị đế quốc Rôma thống trị: “Các
ông sẽ được ngồi trên 12 toà để xét xử 12 chi tộc Israel” (Mt
19:27,28).
Khi Giêsu còn sống, ông chỉ
chủ trương giải phóng dân Do Thái, vì thế ông cấm các môn đồ không
được đến các nước lân cận hoặc vào các thành của dân Samaria, ông
nói: “Tốt nhất là chỉ nên đến với những người bị mất nhà cửa
Israel thôi...” (Mt 10:5). Theo quan niệm của người Do thái, họ gọi những
dân tộc khác là “goim” nghĩa là “dân ngoại”. Họ cho rằng, chỉ vào
ngày tận thế, “dân ngoại” mới được giải phóng đón nhận về núi
Sion... Vì thế “tin mừng” trước hết chỉ được rao giảng cho dân Israel thôi!... Nên nhớ, câu: “anh em sẽ
là nhân chứng của thầy cho đến tận cùng trái đất” là câu nói của
Luca đặt vào miệng Giêsu sau khi Giêsu đã chết. Họ đã hoang tưởng về
một cuộc phục sinh, sau 3 ngày, Giêsu “trở về từ cõi chết” để nói
với họ như vậy. Thật sự khi còn sống Giêsu không hề có chủ trương
giải phóng cho “dân ngoại”.
Mãi đến sau này, khi
Giêsu đã bị hành quyết, môn đồ của ông mới nhận ra rằng: Muốn khôi
phục vương quốc Israel, không thể không tạo sự đoàn kết với “dân
ngoại”, không liên minh với các nước lân bang, chính những nước này cũng
đang cùng cảnh ngộ với dân Do Thái, đang chịu sự thống trị tàn bạo của
đế quốc La Mã. Chủ trương của Giêsu chỉ giải phóng cho dân Israel xem
ra không còn phù hợp, những người kế thừa sự nghiệp của Giêsu đã tự
cho mình cái quyền “không nghe lời thầy”. Họ bắt đầu thực hiện liên
minh với các nước lân cận. Cái gọi là “tin mừng đến với dân ngoại”
phản ánh cục diện chính trị đã thay đổi vào thời “hậu Giêsu”.
Luca là một trường hợp điển hình, ông là “dân ngoại” chính hiệu,
người Xyria, ở Antiôkia, đệ tử của Phaolô, chịu ảnh hưởng văn hóa
Hy Lạp, lại là tác giả một bộ sách quan trọng thuộc hệ thống kinh
Tân Ước của Kitô giáo ngày nay. Tác phẩm của Luca (được viết khoảng
năm 80-90) về sau này bị giáo hội Rôma ngắt ra làm hai phần riêng biệt,
một phần gọi là “Phúc âm thứ ba”, phần còn lại chính là quyển “Công
Vụ Tông Đồ”.
Một Phaolô “tân tòng”
đang rao giảng ở nước ngoài, một Luca “dân ngoại” với ngòi bút sắc
bén, cho thấy chủ trương liên minh các dân tộc bị áp bức nhằm đánh đổ
đế quốc La Mã là rất lớn. Tuy nhiên để làm được việc này, không thể
không có “cương lĩnh”. Giêsu chính là ngọn cờ tập hợp lực lượng.
Họ đã khôn khéo ngụy tạo một vỏ bọc tín ngưỡng, ngụy tạo sự kiện
phục sinh “từ trong cõi chết sống lại” của Giêsu, và đăbiệt họ
đã hoang tưởng về sự xuất hiện của “chúa thánh thần” sau 40 ngày
Giêsu “về trời”, tức ngày “ngũ tuần”, Công giáo La Mã ngày nay gọi là ngày lễ “chúa thánh thần
hiện xuống”. Chính sự hoang tưởng về sự xuất hiện của “chúa
thánh thần” thay thế Giêsu để giáo huấn đã là nguồn cảm hứng cho
Luca viết Công Vụ Tông Đồ. Để những ghi chép mang màu sắt thần bí nhằm
thuyết phục quần chúng, tác giả đã hoang tưởng về mặc khải được
thánh linh soi sáng hướng dẫn cho họ viết. Đọc sách Công Vụ Tông Đồ,
chúng ta thường bắt gặp những câu đại loại như: “Thánh thần và
chúng tôi quyết định rằng...” Vì thế, nhiều học giả Công giáo ngày
nay gọi thời kỳ “hậu Giêsu” là “kỷ nguyên chúa thánh thần”... Với chiếc vỏ bọc tín ngưỡng, họ đã tuyên truyền về “tình yêu và nước trời”
về “sự sống đời đời, trời mới đất mới” v.v... pha trộn cuộc sống
hiện thực với những yếu tố thần bí nhằm tránh cái nhìn xoi mói của
đế quốc La Mã, đồng thời lôi kéo quần chúng bị áp bức đang khát vọng
tự do đến với các tổ chức Kitô đang được sự trợ giúp của thần
linh...
Nếu đang khi tại thế, Giêsu
chủ trương chỉ giải phóng dân Israel vì ông cho rằng, nếu “rao giảng
cho dân ngoại” sẽ gặp lắm phiền toái, vì khi họ gia nhập tổ chức,
có nghĩa là “dân ngoại” phải chấp nhận theo phong tục Do Thái. Một
trong những phong tục mà họ thấy rằng không thể nào áp dụng đối với
“dân ngoại” là “phép cắt bì”. Vì thế, sau khi Giêsu qua đời, cục
diện chính trị thay đổi, những người kế tục sự nghiệp của Giêsu cũng
phải thay đổi chủ trương. Cái gọi là “tin mừng đến với dân ngoại”
phải phóng khoáng, cởi mở hơn để “dân ngoại” có thể chấp nhận
được... Họ đã hội họp nhau lại tại Giêrusalem để quyết định phế
bỏ luật “cắt bì”. Lẽ tất nhiên họ gặp phải sự chống đối của
phe bảo thủ. Tại đây đã nổ ra những cuộc tranh luận gay gắt về luật.
Chính Phêrô đã phải sử dụng ngón đòn “thị kiến chúa thánh thần”
và được ngài ra lệnh... để phủ đầu những người bảo thủ (Cv
15:1-29). Phêrô cũng là người đâu tiên thực hiện kết nạp thêm những
thành viên mới là “dân ngoại” vào tổ chức, tất nhiên ông phải phịa
ra “thị kiến ở Giaphô” (Cv10:9-16) để tự biện minh và thuyết phục
những “đồng chí” của mình ở Giêrusalem và miền Giuđê (Cv 11:1)
Sự kiện ở
Giêrusalem về sau này được gọi là “Công đồng Giêrusalem”, công đồng
đầu tiên của “giáo hội” được tổ chức trên “đất thánh
Giêrusalem”... Gọi là “công đồng” cho oai vậy thôi chứ thực ra cuộc
gặp tại Giêrusalem chỉ có mấy người: Phaolô, Banaba, Phêrô, Giacôbê và
một vài người khác thuộc hàng kỳ mục địa phương. Vatican ngày nay gọi
sự kiện Giêrusalem là “công đồng đầu tiên của giáo hội” chẳng qua
muốn tạo dây mơ rễ má nối kết “công đồng đầu tiên” trên “đất
thánh Giêrusalem” với các công đồng sau này trên “đất qủy” do hoàng
đế của đế quốc La Mã là Constantine triệu tập tại chính thủ đô của
đế quốc Rôma, nhằm mục đích chứng minh yếu tố “tông truyền” của
Công giáo La Mã... Gọi những công đồng sau này được hoàng đế Rôma triệu
tập trên “đất qủy” thật không sai! chính tại những công đồng này
mà nhiều người bị tù đày, tra tấn, nhiều người phải bỏ mạng. Cái
chết bi thảm của giám mục Flavian trong vụ án “môt hay hai bản tính?”
của Giêsu, những bản án dành cho Arius, Nestorius, lệnh phát động thánh
chiến v.v... đều dựa trên tinh thần những công đồng này.
Trở lại với bối cảnh
lịch sử của đất nước Do Thái thời Giêsu. Giêsu ra đời trong bối cảnh
đất nước Do Thái đang bị đế quốc La Mã đặt ách thống trị. Người
Do Thái rất khát khao tự do độc lập, họ đang ngưỡng vọng về một anh
hùng dân tộc mà theo truyền thống văn hóa Do Thái gọi là “Mêsia”, vị
cứu tinh có khả năng giải phóng đất nước ra khỏi ách thống trị của
đế quốc La Mã. Danh xưng Mêsia nhằm chỉ giới qúy tộc đã được phong
vương qua nghi thức “xức dầu”. Dựa vào kinh thánh của Do Thái giáo, vị
cứu tinh được thần Davê sai xuống cứu dân Do Thái mang màu sắc huyền
bí, đầy quyền lực. Mêsia hay vị cứu tinh, đấng cứu thế chính là vị
anh hùng dân tộc được Davê sai đến lãnh đạo nhân dân Do Thái thực hiện
sứ mệnh giải phóng dân tộc ra khỏi ách nô lệ ngoại bang.
Giêsu bắt đầu sự nghiệp
của mình vào năm ông 30 tuổi. Ông đã thuyết giảng về “tình yêu” và
“nước trời”. Nhiều nhà nghiên cứu Kitô giáo ngày nay ghi nhận ở
Giêsu một yếu tố tích cực, đó là việc ông đã “biến” vị chúa
hung ác, tàn bạo của Do Thái giáo thành vị chúa của tình yêu, ông thân mật
gọi vị chúa này là “cha” và tự nhận mình là “con của đấng tối
cao”(Lc 1: 32). Ông chỉ xưng mình là “thầy” với các môn đồ, tuyệt
nhiên chưa bao giờ tự nhận mình là thiên chúa. Ngay đến giờ phút sau
cùng của cuộc đời mình, ông cũng không hề nhận mình là thiên chúa, nhưng
chỉ một mực hướng về vị chúa của Do Thái giáo mà ông gọi thân mật
là “cha”: “Lạy cha xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm”
(Lc 23:34). Trong giờ phút sau cùng của đời mình, có lúc ông phải kêu cứu:”Cha
ơi! sao cha bỏ con?” (Mc 15:33). Và trước khi trút hơi thở cuối cùng: “Lạy
cha! con xin phó dâng linh hồn con trong tay cha!” (Lc 23:46). Arius mượn câu của
Gioan 14:28 “Cha ta cao trọng hơn ta” để chứng minh Giêsu không phải là
thiên chúa.
Hiển nhiên Giêsu chỉ là
một con người bình thương như bao người. nhưng để có thể thuyết phục
được đông đảo quần chúng đang theo mình, không thể không ảo tưởng về
một quyền năng siêu nhiên. Ông nói: “Không thể đến với cha ta mà
không qua ta” (J 14:6), “Các anh không tin rằng, ta ở trong cha ta và cha ta
ở trong ta sao?” (J 14:10). Giêsu đã tỏ ra khá nhạy bén, thích thời, khéo
léo biến vị chúa hung tàn của Do Thái giáo thành vị “cha nhơn lành”.
Nhưng cũng đáng tiếc là về sau này, Vatican chỉ cho phép “người cha
nhơn lành” của Giêsu “nhơn lành” với tín đồ Công giáo La Mã. Vatican
đã không cho phép ngài “nhơn lành” với lạc giáo và ngoại giáo, bằng
chứng là toà án dị giáo và dàn hỏa được dựng lên khắp nơi suốt thời
kỳ Vatican thống trị châu Âu...
Giêsu bắt đầu thuyết giảng
về “tình yêu và sự công chính, nước
trời và sự sống đời đời”. Đây là hai đề tài rất hấp dẫn, đánh
đúng vào não trạng của quần chúng đang khát khao tự do bình đẳng so với
qúy tộc Do Thái và bọn xâm lược La Mã... Thành công lớn nhất trong hoạt
động thuyết giảng của Giêsu là ông được quần chúng tôn vinh: “Mêsia,
vua dân Do Thái”. Họ bắt đầu tin tưởng vào khả năng lãnh đạo của
Giêsu, họ tôn vinh ông là “Mêsia” kỳ thực ông không phải là Mêsia,
vì ông chưa hề được tấn phong qua nghi thức “xức dầu”. Hoạt động
thuyết giảng của Giêsu đã tạo nên tác động kép: Hình thành phong trào
cách mạng chống đế quốc La Mã đồng thời ảnh hưởng đến quyền lợi
về kinh tế, chính trị mà giới qúy tộc Do Thái đang nắm giữ. Đây
chính là lý do Giêsu phải trả giá bằng bản án tử hình mà bọn qúy tộc
Do Thái và đế quốc La Mã dành cho ông. Ông bị xử treo trên thập giá
cùng với hai tên cướp, với một chiếc biển nhỏ ghi dòng chữ: “Jesus
Nazarenus, Rex Judaeorum (INRI) Giêsu Nazaret, vua dân Do Thái” hàm ý chế diễu
về cái mác “Mêsia” tự phong của ông. Giêsu mất đi, nhưng đất nước
Do Thái vẫn không có gì thay đổi về mặt chính trị, dân chúng vẫn bị
áp bức bốc lột, bọn qúy tộc Do Thái và đế quốc La Mã thẳng tay đàn
áp các phong trào quần chúng...
Sau cái chết của Giêsu, những môn đồ theo ông tản mát khắp nơi
nhằm bảo toàn lực lượng. rồi họ tập hợp lại để vạch kế sách,
chiêu mộ thêm người, lập chương trình hành động, tổ chức biên soạn
tài liệu ... Kitô nguyên thủy chỉ là tên cưỡng gọi nhóm người có cảm
tình với Giêsu chứ không thể xem đó là một tổ chức tôn giáo. thực sự
họ chỉ là những tín đồ Do Thái giáo bình thường, chỉ khác một chút
ở chỗ họ mến mộ Giêsu và chọn Giêsu là thầy của họ... Mãi về sau
này, tại Antiokia, lần đầu tiên họ quyết định gọi nhau bằng “đồng
chí”: Chrélien – “những người bạn của Christ” – tức bạn của
người tự nhận mình là Mêsia, vua dân Do Thái (Cv. 11:26). Từ đây, họ gắn
kết với nhau dưới ngọn cờ Giêsu. Tuy nhiên cũng có lúc nội bộ mất
đoàn kết, trong nội bộ không phải lúc nào cũng “đồng tâm hiệp ý”.
Tình trạng chia rẽ phe này phe kia cũng
đã xảy ra, người thì nói mình thuộc phe ông Phaolô, người khác thì nói
mình thuộc phe ông Phêrô, hoặc ông Apôlô v.v... khiến tổ chức có nguy cơ
phá sản. Phaolô phải trổ tài hùng biện để dàn xếp những rắc rối
trong nội bộ (1Cr1).
Họ tổ chức
biên soạn tài liệu, nhiều người trong “nhóm mười hai” và những người
mới gia nhập tham gia viết lách như: Luca, Phaolô, Phêrô, Matthêu, Gioan,
Máccô, Tôma, Giacôbê v.v... Lẽ tất nhiên do trình độ có hạn, những ghi
chép của họ thiếu tính nhất quán, cùng một sự kiện mà mỗi người viết
một kiểu, mâu thuẫn lẫn nhau. Ví dụ Luca và Mátthêu cùng viết về gia
phả của Giêsu, nhưng lại có sự khác biệt rất lớn. Linh mục Thiện Cẩm
giải thích: “Mátthêu cần chứng minh cho người Do thái tin rằng Đức Giêsu
là con cháu nhà Đavít, nên đã viết gia phả của Người theo truyền thống
Do Thái, còn Luca thấy rằng chuyện là con cháu nhà Đavít hay không chẳng
quan trọng gì đối với dân ngoại, nên viết gia phả Đức Giêsu theo một
quan điểm thần học khác, đó là chứng minh Người là Con Thiên Chúa”.
(Thiện Cẩm. http://vietcatholic.net/thiencam/cd3-15.htm). Chúng
ta cần “thông cảm” với Lm Thiện Cẩm vì ông có bổn phận phải “bảo
vệ đức tín Công giáo” nên ông quyết viết “lấy đặng lấy được”
bất chấp sự kiện nếu không phải là con cháu vua Đavít thì làm sao có
thể là Mêsia?... “Chuyện là con cháu nhà Đavít hay không chẳng quan trọng
gì...” của Lm Thiện Cẩm đã được nhiều tác giả phân tích rất lý
thú. Ở đây chỉ nêu lên thắc mắc, khi Lm cho rằng: “Luca viết gia phả
Đức Giêsu theo một quan điểm thần học khác, đó là chứng minh Người là
Con Thiên Chúa”. Thần học khác là thần học nào? Vào thời Luca đã có
thần học sao? Thần học Kitô giáo chỉ manh nha từ Augustine, là công cụ
để giáo hội Rôma giải quyết những lấn cấn tồn động trong hệ thống
tín lý Kitô giáo. Nghĩa là nó chỉ xuất hiện sau hơn 300 năm kể từ thời
Luca. Không hề có chuyện Luca đã dựa trên một quan điểm thần học nào
đó để cho rằng: “chuyện là con cháu nhà Đavít hay không chẳng quan trọng
gì...”. Ngoài ra, nếu nói Luca viết như vậy nhằm “chứng minh Người là
Con Thiên Chúa” là nói để mà... nói. Thực ra Luca có chứng minh gì đâu?
Đọc Luca đoạn 3, từ câu 23 đến hết câu 38, chúng ta thấy ông liệt kê
một danh sách dài nhiều tên người, bắt đầu Giêsu là con ông Giuse, Giuse
là con ông Êli... kế tiếp là tên rất nhiều người... sau cùng là Sết
con ông Ađam và Ađam là con thiên chúa!.. không hề thấy Luca có một luận
điểm chứng minh nào!
Trở lại với việc ghi
chép, biên soạn tài liệu của Luca, Phaolô, Phêrô, Matthêu, Gioan, Máccô,
Tôma, Giacôbê... Tất cả những ghi chép vào thời kỳ “hậu Giêsu” về
sau được tập hợp lại thành một bộ sách mà ngày nay gọi là Tân Ước,
bao gồm bốn Phúc Âm và một số sách khác như Khải Huyền, Công Vụ,
Thánh Thư... Phúc Âm là những ghi chép mô tả hoạt động của Giêsu, tác
giả là các ông Mátthêu, Máccô, Luca, Gioan. Chúng chỉ được viết lại
ít nhất là sau 40-100 năm kể từ ngày Giêsu qua đời. Nhưng cũng có những
ghi chép sớm hơn, trực tiếp hơn, đó là ghi chép của các ông Phêrô,
Tôma, Giacôbê... được gọi là “tiền phúc âm”, nhưng lại bị giáo hội
Rôma xem là ngụy thư, cấm phổ biến, mặc dù tác giả của những bộ
sách này là những người đồng hành với Giêsu, là môn đệ, ăn ở sinh
hoạt chung với thầy mình trong nhiều năm, vậy mà những ghi chép của họ
lại bị xem là ngụy thư, nhiều sai lầm, không được công nhận. Trong khi
đó, Luca, Máccô là những người chưa hề biết mặt Giêsu, thì những ghi
chép của họ lại được công nhận là “thánh kinh”. Nhiều nhà nghiên cứu
Kitô giáo ngày nay cho rằng, vì những cuốn gọi là “tiền phúc âm” của
các tác giả Phêrô, Tôma, Giacôbê viết về cuộc đời của Giêsu quá thật,
mà sự thật thì không phải lúc nào cũng được hoan nghênh!
Hoạt động của các nhóm
Kitô nguyên thủy ngày càng lớn mạnh, phạm vi hoạt động rộng khắp lãnh
thổ đế quốc Rôma. Năm 64, một vụ hỏa hoạn thiêu rụi cả một khu phố.
Hoàng đế Nêrôn cho rằng chính các nhóm Kitô nguyên thủy là tác nhân của
thảm kịch, Nêrôn ban hành đạo luật cấm mọi hoạt động của các nhóm
Kitô nguyên thủy và bắt đầu một giai đoạn khủng bố tàn khốc. Từ đây
họ bắt đầu hoạt động bí mật dưới hình thức hội kín nhằm bảo
toàn lực lượng, mọi sinh hoạt đều diễn ra dưới các địa đạo gọi
là hang toại đạo (catacombs), kiên trì hoạt động trong suốt 300 năm đầu
công nguyên. Phải thừa nhận rằng họ là một tổ chức có kỷ luật,
tính cộng đồng cao. Chính ưu điểm này đã bị Constantine lợi dụng,
Constantine đã khôn khéo thừa nhận sự hợp pháp của họ, biến họ thành
một lực lượng hùng mạnh thống nhất. Nhờ thế Constantine chiến thắng
tất cả mọi thế lực đối nghịch...
Giới nghiên cứu Kitô
giáo nói chung, Công giáo La Mã nói riêng ngày nay đều đồng thuận: Công
giáo La Mã chính là sản phẩm của đế quốc La Mã, cha đẻ của tôn giáo
này là hoàng đế Rôma Constantine. Khi Constantine thành công trong viêc hợp nhất
các nhóm Kitiô nguyên thủy, ông ta đã thủ tiêu ý chí đấu tranh của họ
bằng các chính sách ưu đãi và đặc biệt là tăng quyền lực cho giáo hội.
Một khi quyền lực đã nắm trong tay, người ta chỉ ra sức củng cố thôi
chứ đấu tranh để làm gì!.. Các thủ lĩnh Kitô bấy giờ đã ngủ say trong vinh quang quyền lực. Đó là
bước đi chính trị vô cùng khôn ngoan của Constantine. Công đồng Nikêa là
công đồng đầu tiên được chính hoàng đế Rôma triệu tập. Mục đích
của công đồng là tổ chức lại giáo quyền, định ra các nguyên tắc căn
bản về hàng giáo phẩm, công bố những giáo thuyết mới vốn không hề
có trong các cộng đồng Kitô nguyên thủy như giáo thuyết Chúa Ba Ngôi, Đức
Mẹ Đồng Trinh v.v... Công giáo La Mã được thành lập và được chính thức
công nhận là quốc giáo của đế quốc Rôma. Một ý hệ tôn giáo mới
được xây dựng trên cái nền đã bị mục nát của các cộng đồng Kitô
nguyên thủy.
Một điểm quan trọng khác
không thể không nhắc đến: Công giáo La Mã chính là con đẻ của đế quốc
La Mã, Hoàng đế La Mã Constantine là người khai sinh ra nó. Chính ông ta đã
từng tuyên bố với những chức sắc cao cấp nhất trong giáo hội Rôma:
“Các vị là giám mục bên trong giáo hội còn tôi là giám mục bên ngoài
giáo hội”. Thế nhưng bản thân của tên bạo chúa này lại là người vô
đạo, người đã từng giết chết bố vợ, ba người anh rể, một đứa
con ruột của mình... Constantine chỉ vờ tin chúa, bằng chứng là ông ta
không chịu theo đạo, mãi đến khi hấp hối trên giường bệnh, Constantine
mới chấp nhận làm “phép rửa”. Sở dĩ tên bạo chúa này chấp nhận
theo đạo vào giờ phút cuối cùng của cuộc đời mình chắc chắn không
phải vì “đức tin”, mà vì ông ta muốn người nối nghiệp của ông,
sau khi ông băng hà, tiếp tục duy trì giáo hội Rôma, duy trì Công giáo
Lamã, một công cụ vô cùng đắc lực không thể thiếu hầu có thể bảo
vệ sự trường tồn của đế quốc La Mã.
Các thủ lĩnh Kitô nguyên
thủy sau hơn 300 năm đã xa dần với mục tiêu cao đẹp ban đầu: “khôi
phục vương quốc Israel”, giải phóng dân Do Thái ra khỏi xiềng xích nô lệ
của đế quốc Rôma. Điều này dễ hiểu vì cái chất Do Thái trong cộng
đồng Kitô nguyên thủy loãng dần. Hiện tượng các nhóm Kitô nguyên thủy
tách ra khỏi hội đường Do Thái giáo ngày càng rõ nét. Đây chính là hệ
quả của việc “mang tin mừng đến với dân ngoại”. “Dân ngoại” bấy
giờ đã chiếm một tỉ lệ khá lớn, người Kitô gốc Do Thái chỉ là thiểu
số... Đó cũng là cơ hội cho đế quốc Rôma tính sổ các nhóm Do Thái chống
đối. Nhóm Sadduceo, nhóm Qumran lần lượt bị tiêu diệt. Kết quả là “giáo
hội Giêrusalem” biến mất, trong khi đó “giáo hội Rôma” lại nổi lên
như cồn... Tuy vậy, tại Giêrusalem vẫn âm ỉ ngọn lửa đấu tranh, đôi
khi lại bộc phát dữ dội. Đó cũng là lý do giải thích tại sao giáo hội
Rôma sau này luôn xem người Do Thái là cái đinh cần phải nhổ!
Khi “dân ngoại” ngày
càng trở thành chủ thể chính trong cơ cấu giáo hội, chất Do Thái ngày
càng loãng dần trong cộng đồng. Cho đến một giới hạn định mệnh, cần
phải loại bỏ ngay mọi ảnh hưởng Do Thái. Giáo hội Rôma không ngần ngại
kết án họ tội “giết chúa”. Đế quốc La Mã đã khôn ngoan lèo lái vụ
án Giêsu sang hướng kết án dân Do Thái tội “giết chúa”. La Mã thời
đó đã quá thành công khi cùng lúc đạt được hai mục tiêu: Một là thống
nhất tất cả các nhóm Kitô nguyên thủy thành Công giáo La Mã, một công cụ
rất đắc lực hoạt động trong guồng máy cai trị của đế quốc La Mã.
Hai là khống chế hiệu quả các lực lượng cách mạng Do Thái. “Giết
chúa” là cái cớ để La Mã thẳng tay đàn áp các phong trào đấu tranh dành
độc lập của nhân dân Do Thái...
Tóm lại, đấu tranh cho độc
lập dân tộc là mục tiêu cao đẹp và chính đáng của bất kỳ dân tôc bị
áp bức nào, chứ không riêng gì dân tộc Do Thái. Tuy nhiên, tùy vào hoàn cảnh,
não trạng và ảnh hưởng văn hóa mà mỗi dân tôc có một đường lối đấu
tranh khác nhau. Hoàn cảnh lịch sử của dân tộc Do Thái cũng khá đặc biệt,
là một dân tộc không có tổ quốc suốt nhiều ngàn năm, người Do Thái lưu
lạc trên khắp thế giới, đến năm 1947 họ mới trở về lập quốc nhờ
một nghị quyết của tổ chức Liên Hiệp Quốc. Ngay từ buổi đầu dựng
nước. con cháu của Abraham khi đến định cư tại vùng châu thổ sông Nile
đã bị các Pharaông Ai Cập biến thành nô lệ. Sau đó Môsê đã lãnh đạo
dân nô lệ Do Thái trốn khỏi Ai Cập. Trên đường chạy trốn, những hiểm
nguy luôn rình rập họ, Môsê đã phải trấn an họ, thuyết phục để họ
tin rằng chính vị thần tối cao Davê đã giải phóng họ, đưa họ ra khỏi
Ai Cập trở về đất hứa. Môsê đã đại diện cho dân tộc Do Thái lập
một giao ước thoả hiệp với thần Davê là chỉ tôn thờ một mình ngài.
Từ đó, định mệnh của dân tộc này luôn gắn liền với vị thần của
họ. Chính thần Davê là chỗ dựa tinh thần, là ý chí chiến đấu với bọn
xâm lược đế quốc La Mã sau này...
“Davê giải
phóng”(Yehoshuah) chính là ngọn cờ tiên phong của phong trào “khôi phục
vương quốc Israel” mà các nhóm Kitô nguyên thủy đã phất lên đúng lúc
dân nô lệ Do Thái đang khát khao tự do độc lập cho đất nước... Tất
nhiên, do ảnh hưởng văn hóa, họ đã hoang tưởng về một “vương quốc
trên trời”. Trong cuộc đấu tranh một mất một còn với các thế lực
đế quốc xâm lược để dành lại “vương quốc trần gian”, nếu phải
mất mát hy sinh, thì họ cũng được
“Davê giải phóng”mang về “thiên quốc ”. Sự pha trộn cuộc sống hiện
thực với các yếu tố thần bí như liều thuốc kích thích ý chí đấu
tranh của quần chúng. chất thần bí tôn giáo đã ngấm dần vào não trạng
của quần chúng, từ đây nẩy sinh ra những ý tưởng hoang đường về “trời
mới đất mới”, về ngày “chung thẩm”gần kề, về sự “quang lâm”v.v...
Và khi đế quốc La Mã thủ tiêu ý chí đấu tranh của họ bằng miếng mồi
vinh quang quyền lực thì họ lại tự ru ngủ mình bằng ý hệ tôn giáo
hoang đường do chính họ tạo ra. Công giáo La Mã xuất hiện trong guồng
máy cai trị của đế quốc La Mã như một dấu chấm hết phong trào “khôi phục vương quốc Israel”
của các nhóm Kitô nguyên thủy...
Về
trang Nghiên cứu & đối thoại tháng 4-2003
Home | Go top page |
Về trang mục lục