curley_sw.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw.gif (1967 bytes)

.......... .

 

purcube_03.gif (374 bytes)

ĐÁM CƯỚI VỚI THẦN THÁNH

  • Ngô Triệu Lịch

nl-catowed.jpg (41043 bytes)  “Về một chuyện ngắn” là tên  một bài viết trong tập sách “Cỏ dại ven đường. Tập   III” của linh mục Thiện Cẩm (vietcatholic.net). Bài viết có nội dung phê bình một truyện ngắn của  nhà văn  Trần Đức Tiến mang tên “Đổ bóng” đăng trên tờ “Tuổi trẻ sống đẹp. Linh mục Thiện Cẩm đã chê “tầm hiểu biết của ông nhà văn còn quá non”   “Tượng Chúa Giêsu đứng trên đỉnh núi cao ở Thủ đô Rio de Janeiro của Brazil, "nguồn cảm hứng" cho Tượng đài Chúa Giêsu ở Vũng Tàu” mà ông Trần Đức Tiến lại gọi là “tượng thánh vô danh”! Vì thế, linh mục Thiện Cẩm đã “đề nghị ông nhà văn chịu khó đến hỏi linh mục chánh xứ Nhà thờ Vũng Tàu” để được chỉ dạy thêm!...

Nhưng trọng tâm của bài viết không nằm ở chỗ phê bình tay nghề của nhà văn Trần Đức Tiến, mà nằm ở chỗ bày tỏ sự phẫn nộ của giáo dân địa phận Xuân Lộc và của cả  linh mục Thiện Cẩm về một đoạn viết mà theo linh mục là “có nội dung phỉ báng tôn giáo một cách trắng trợn”. Linh mục Thiện Cẩm viết: “Đoạn văn gây xôn xao phẫn nộ chính là đoạn có tính cách phỉ báng tôn giáo, xúc phạm nặng nề đến Chúa Giêsu, Đấng mà người Kitô hữu chúng tôi mến yêu tôn thờ...”. Nội dung đoạn văn mà theo linh mục Thiện Cẩm là “gây xôn xao phẫn nộ” như sau:  

"Ta (Chúa Giêsu nói với cô Linh, nhân vật trong truyện) hiểu hết, hiểu hết, con ạ! Thánh thiếc chó gì ta! Ta vốn xuất thân là một tên đàn ông phàm tục, vô danh tiểu tốt. Cái lũ người đĩ bợm dưới kia cố công nhọc sức bơm thổi ta lên để lợi dụng đủ kiểu, như con biết đấy. Con tưởng được ngự tít trên cao này là thích thú lắm sao? Vứt đi tuốt con ạ, tất cả những trò con người tự nghĩ ra rồi lại tự huyễn hoặc mình. Chỉ có cái đó, cái đó là bất tử! Đáng tiếc là ta lại bằng xi-măng cốt sắt, chứ nếu ta bằng xương bằng thịt hẳn hoi thì ta đã thoả mãn ngay khao khát của con rồi...

Độc giả sẽ không ngạc nhiên khi Lm Thiện Cẩm phê bình “Ông Trần Đức Tiến đã công khai xúc phạm đến Đức Giêsu. Ông cho Người là một "tên đàn ông phàm tục, vô danh tiểu tốt". Không ngạc nhiên vì độc giả thừa biết đó chỉ là một thứ tình cảm tôn giáo, một thứ phản xạ tự nhiên, một phản ứng như chúng ta thường nói: phản ứng Pavlov...

Nhưng Lm Thiện Cẩm lại làm cho độc giả phải ngạc nhiên khi ông viết: “Thử hỏi nếu chúng tôi dám nói như vậy về các bậc anh hùng của dân tộc, thì liệu có khỏi bị đưa ra toà không?”. Đành rằng Giêsu là “đấng” mà những người Kitô hữu như Thiện Cẩm mến yêu tôn thờ. Nhưng còn các bậc anh hùng dân tộc là ai? các vị ấy có chỗ đứng trong lòng những tín đồ Công giáo như Thiện Cẩm không? Dường như không, bởi vì khi ông Trần Đức Tiến “xúc phạm” đến Giêsu, một thanh niên Do Thái, 33 tuổi, sinh ra tại Palestine cách nay khoảng 2000 năm, không hề có quan hệ huyết thống chi với dân tộc Việt, thì Lm Thiện Cẩm lại tỏ ra bức xúc đặt vấn đề ngược lại với nhà văn Trần Đức Tiến: “Thử hỏi nếu chúng tôi dám nói như vậy về các bậc anh hùng của dân tộc, thì liệu có khỏi bị đưa ra toà không?”. Linh mục làm như các bậc anh hùng dân tộc như Quang Trung, Trần Hưng Đạo v.v... là của riêng ông Trần Đức Tiến, không liên quan gì đến những tín đồ Công giáo. Ý của Thiện Cẩm qua câu viết trên thật rõ ràng: Nếu anh xúc phạm đến Giêsu chúa của tôi, liệu anh có đưa tôi ra tòa không nếu tôi xúc phạm lại các bậc anh hùng dân tộc của anh như Quang Trung, Trần Hưng Đạo?... Dĩ nhiên linh mục Thiện Cẩm đã không “dám nói”, nhưng “dám nghĩ”... Linh mục thực sự không “dám nói” chỉ vì ông sợ bị “đưa ra tòa”, chứ trong lòng linh mục làm gì có “bậc anh hùng dân tộc” nào! Có chăng chỉ là những anh hùng dân tộc Do Thái như vua Đavít, Salômon mà thôi!   

Một chi tiết khác cũng khá thú vị. Linh mục Thiện Cẩm phê bình ông Trần Đức Tiến “chủ trương tôn thờ "cái đó" coi "cái đó" là bất tử!”, và nhận định:  “Phải chăng, vì "trong lòng có đầy thì miệng mới nói ra"? Ông Trần Đức Tiến chỉ diễn tả chính khát vọng của mình ? Vả lại toàn bài báo chỉ nặc mùi khêu gợi tình dục”. Tôi chưa được đọc truyện ngắn “Đổ bóng” của ông Trần Đức Tiến, nên không biết tính chất “khêu gợi tình dục” ở mức độ nào. Nhưng qua bài phê bình của linh mục Thiện Cẩm, tôi cho rằng, không phải vô duyên vô cớ mà nhiều tác giả khi viết về Kitô giáo lại nhấn mạnh đến yếu tố “dục tính”. Không chỉ có nhà văn Trần Đức Tiến, những văn sĩ bậc thầy trong đó có người đã từng nhận giải thưởng Nobel văn học như  Par Fabran Lagerkvist, Nikos Kazantzaki, Akutagava v.v...  là những người sử dụng yếu tố tính dục (sexuality) một cách mạnh mẽ trong các tác phẩm của họ khi viết về Kitô giáo và nhân vật Giêsu ...

Kitô giáo, đặc biệt  Công giáo La Mã rất khoái thi vị hóa cái mà họ gọi là “cảm nghiệm thần bí” bằng cuộc “hôn nhân tinh thần”, “đêm tân hôn thần thánh” nhằm mô tả sự kết hợp với “tình yêu thiên chúa”. Các vị “thánh” của họ như thánh Gioan thánh giá, Phanxicô Salêsiô hoặc “thánh nữ” Têrêxa Avila v.v... là những người nhắc đến nhiều nhất về những “khoái cảm ngất ngây” khi “kết hợp với chúa” như sự “kết hợp” trong đêm tân hôn của một đôi vợ chồng mới cưới...

Trước khi bàn tiếp những cuộc “hôn nhân với thần thánh”, những “mối tình ngây dại với chúa”,  tôi xin tóm tắt nội dung một truyện ngắn để minh họa thêm cho bài viết này. Truyện “Đức chúa ở Nam Kinh”, được in trong tuyển tập “Trong rừng trúc”, (bản dịch của Phong Vũ, nxb Tác Phẩm Mới, 1989) của văn sĩ Nhật Bản Akutagava, tác giả của những truyện ngắn giàu chất triết lý như: Trong rừng trúc, Cổng thành Raxiômôn v.v... từng gây tiếng vang trên văn đàn thế giới.

“Đức chúa ở Nam Kinh” là truyện kể về một cô gái Trung Hoa, tín đồ Kitô giáo, rất  mộ đạo,   lại đang  hành nghề mại dâm. Cô ta tên là Thanh Hoa.

Thanh Hoa chiếm được tình cảm của nhiều khách làng chơi. Và bao giờ cũng thế, sau những lúc hoan lạc với khách, Thanh Hoa thường chiêm ngắm hàng giờ tượng chúa chuộc tội, môt thập giá với chúa Giêsu bị treo trên đó... Một người khách Nhật Bản phát hiện Thanh Hoa là người theo đạo chúa. Vị khách đã tò mò hỏi cô vì sao theo đạo chúa mà lại hành nghề mại dâm? Có thể do hành nghề này mà không được lên thiên đàng chăng? Cô ta đã trả lời là “không” vì theo cô ta, chúa chắc hẳn thấu hiểu lòng cô!...

Thế rồi cô gái giang hồ mộ đạo ấy đã mắc phải một căn bệnh nghề nghiệp: bệnh giang mai cấp tính...

Căn bệnh quái ác làm cho Thanh Hoa không thể tiếp tục hành nghề, không kiếm được tiền từ khách làng chơi khiến cuộc sống của cô khốn đốn... Một đồng nghiệp đã mách nước cho cô “đổ bệnh lại cho khách” . Cứ tiếp khách thì bệnh sẽ đổ lên khách và mình sẽ được khỏi... Nhưng Thanh Hoa đã không có can đảm làm chuyện “thất đức” đó. Vì thế cô chỉ còn biết quỳ dưới thập giá, ngắm nhìn chúa bị đóng đinh và cầu nguyện, xin ngài phù hộ, che chở...

Thế rồi “phép lạ” đã đến với cô. Đức tin của cô đã làm cho chúa động lòng chăng? Một khách làng chơi xuất hiện. Anh ta trạc độ ba mươi, để râu, mắt to, nước da rám nắng, người sặc mùi rượu. Cô không thể xác định được khách là người gốc Âu hay Á... Vị khách cô chưa từng gặp, nhưng lại thấy rất quen ... “ cô vẫn không làm sao thoát khỏi được cảm giác dường như xưa kia cô đã từng gặp người nay ở một nơi nào đó...” Khi vị khách thương lượng với cô đến giá 10 đô la cho một đêm hoan lạc, cũng là lúc cô nhận ra khuôn mặt quen thuộc ấy chính là... “Đức chúa bị đóng đinh trên trên cây thánh giá, và thật lạ lùng, khuôn mặt đó như hiện thân sinh động khuôn mặt vị khách nước ngoài đang ngồi ở phía sau bàn. Đúng là mình đã nhìn thấy người này ở đâu đó trước kia mà, bởi vì đó là khuôn mặt của đức chúa” (Sđd tr 149).

Thế là cuộc mây mưa giữa Thanh Hoa và “chúa” của cô ta đã diễn ra. Sáng hôm sau thức dậy, vị khách đã biến mất chẳng để lại thứ gì, kể cả 10 đô la mà vị khách hứa trả cho cô ta... Thì ra Thanh Hoa đã gặp phải một tên sở khanh Nhật lai Mỹ chuyên gạ gẫm gái giang hồ để “chơi quỵt”.

Nhưng điều đáng nói đối với Thanh Hoa, sau cái “đêm thánh vô cùng” nhầy nhụa xác thân với người đàn ông chơi quỵt mà cô khẳng định đúng là đức chúa Giêsu. Cô không thể nhầm lẫn được vì chính cô đã từng chiêm ngắm ngài hằng ngày trên thập giá. Vì chỉ có ngài, phép lạ mới thực sự đến với cô: “Vào giờ phút này Thanh Hoa cảm thấy rằng  do một sự kỳ diệu đang ở trong cơ thể cô, mà bệnh giang mai ác tính chỉ sau một đêm đã biến mất không còn dấu vết gì.”  Cô xác tín: “Thế có nghĩa đó là đức chúa” (Sđd tr154) 

Khi khảo sát cái gọi là “kinh nghiệm thần bí Kitô giáo”, Suzuki nhận định rất chính xác. Đó là một thứ kinh nghiệm luôn hiện hữu “dấu vết nhân ngã... thường là tính dục, mà người ta nhặt ra từ những chữ như : ngọn lửa tình yêu, một tình yêu kỳ diệu rơi vào tâm hồn, sự ôm ấp, người tình, nàng dâu, chàng rể, cuộc hôn phối tinh thần, cha, Chúa, con của Chúa v.v...” (Daisetz Teitaro Suzuki. Thiền luận I)

Nhận định của Suzuki được linh mục Tiến sĩ Thần học, Giáo sư triết tại các chủng viện Cao Phương Kỷ thừa nhận: “Trong Kinh Thánh hay lễ nghi phụng tự, hoặc trong thần học, tu đức... ta thấy dùng những hình ảnh tình tứ, thơ mộng, phỏng theo tình ái giữa vợ chồng, cha mẹ với con cái để diễn tả tình yêu siêu việt của thiên chúa... Tiệc cưới được sánh ví như sự hoan lạc trên thiên đàng. Do đó, tình dục (sexuality) không phải là điều xấu, là tội lỗi. Thánh Phaolô tông đồ đã dùng hình ảnh tình ái vợ chồng trong hôn nhân để ám chỉ tình ái giữa chúa cứu thế và hội thánh, tức là các tín hữu. Bởi vậy, tình nhục dục thăng hoa thành tình yêu gia đình, rồi lan rộng ra ngoài xã hội, để vươn tới tình yêu cao vời, thần bí hiệp thông với chúa” (Cao Phương Kỷ. Thiên chúa giáo và Tam giáo. Tr. 235,236)

Việc sử dụng các yếu tố tính dục trong tu đức Kitô giáo, đặc biệt  Công giáo La Mã càng được khuyến khích khi chính các vị “đại thánh” của họ như thánh Gioan thánh giá, Phaolô, Phanxicô Salêsiô hoặc “thánh nữ” Têrêxa Avila v.v... là những người tiên phong trong lĩnh vực này. Thi vị hóa cái mà họ gọi là “cảm nghiệm thần bí” bằng những cụm từ đúng như linh mục Cao Phương Kỷ viết “những hình ảnh tình tứ, thơ mộng, phỏng theo tình ái giữa vợ chồng, cha mẹ với con cái để diễn tả tình yêu siêu việt của thiên chúa. Tiệc cưới được sánh ví như sự hoan lạc trên thiên đàng, tình ái vợ chồng trong hôn nhân để ám chỉ tình ái giữa chúa cứu thế và hội thánh...”. Các nhà thần học Công giáo rất thích kiểu nói đại loại như: “cuộc hôn nhân tinh thần”, “đêm tân hôn thần thánh”, “đám cưới với thần linh” v.v...  nhằm mô tả sự kết hợp với “tình yêu thiên chúa”. Các vị “thánh” của họ như thánh Gioan thánh giá, Phanxicô Salêsiô hoặc “thánh nữ” Têrêxa Avila v.v... là những người nhắc đến nhiều nhất về những “khoái cảm ngất ngây” khi “kết hợp với chúa”, như sự “kết hợp” trong đêm tân hôn của một đôi vợ chồng mới cưới...

Nhưng tại sao lại là “đêm tân hôn” chứ không phải là những đêm khác? Thưa, là vì, chính đêm tân hôn, đêm động phòng hoa chúc, đối với người trinh nữ lần đầu tiên làm vợ, những chàng trai tân chưa biết phụ nữ là gì. Chính cái đêm đầu tiên ấy mới lạ lẫm làm sao! ngây ngất tuyệt vời là nhường nào! Chàng và nàng quấn quýt bên nhau suốt đêm hôm đó và những đêm kế tiếp... Nhưng rồi “chuyện ấy” cũng quen dần đi, cái cảm giác ngất ngây ban đầu vơi dần, thậm chí nhàm chán theo thời gian. Từ đây nẩy sinh ra những vấn đề vụng trộm, thèm của lạ, ông ăn chả bà ăn nem... Và thế là bi kịch!... Tóm lại, chỉ có “đêm tân hôn” là tuyệt vời nhất.

Sự “kết hợp” với chúa cũng tuyệt vời như “đêm tân hôn”, điều đặc biệt trong sự “kết hợp” ấy, đêm nào cũng là “đêm tân hôn”. Vì thế, luôn luôn mới lạ, luôn luôn ngây ngất! Đối với “tân lang” Giêsu, những tín đồ cuồng tín luôn là những “cô dâu” mới, luôn là những “trinh nữ” lần đầu tiên cảm nhận hương vị trần trụi đầy nhục cảm của tình yêu nam nữ. Ngay đến như Thanh Hoa, nhân vật nữ trong truyện ngắn “Đức chúa ở Nam Kinh” của nhà văn Nhật Bản Akutagava. Dù là gái giang hồ, ong qua bướm lại là chuyện thường ngày của ả, nhưng đối với “Giêsu tân lang”, ả luôn là cô dâu mới, luôn là “trinh nữ” lần đầu tiên cùng “tân lang” chiêm nghiệm cảm giác lạ lùng, ngây ngất ấy!... Có lẽ vì thế mà Maria dù đã sinh ra Giêsu cùng nhiều anh em của “ngài” cũng cứ luôn là “trinh nữ”!?... và giáo hội Công giáo hiện nay cũng luôn coi mình là “hiền thê của chúa Kitô”...

Tất nhiên, “kinh nghiệm thần bí” này chỉ để dành riêng cho các nhà “linh thao”, từ quan chức cao cấp nhất như giáo hoàng, hồng y, đến các nhà thần học, các linh mục như Cao Phương Kỷ, Trần Công Nghị, Thiện Cầm v.v... chứ giáo dân bình thường thì khó mà biết được đến những “kinh nghiệm thần bí” này.

Điều buồn cười chính là tu sĩ  Công giáo phải sống đời sống độc thân, vậy họ làm thế nào biết được cái cảm giác của đôi vợ chồng mới cưới, lần đầu tiên “kết hợp” với nhau trong đêm động phòng hoa chúc? Chí ít phải có một lần “động phòng”, từ đó mới có cơ sở hình dung cái cảm giác ấy với cảm giác “kết hợp với chúa” được chứ? Tôi không thể nào tưởng tượng nỗi khi mình chưa ăn sầu riêng bao giờ mà có thể diễn tả hương vị độc đáo của sầu riêng cho người khác hiểu được...

Phải chăng vì thế mà họ đã cố gắng “tìm hiểu” các sinh hoạt tình dục. Nhưng tìm hiểu bằng cách nào? Đời sống độc thân của các linh mục Công giáo được đề cao như trong “Chỉ nam huấn luyện đời sống độc thân linh mục” số 51: “Độc thân là ơn gọi sống một dạng tình yêu đặc biệt” (Hiệp Thông số 8. Tr 258). Do vậy, đối với tu sĩ độc thân Công giáo, muốn “tìm hiểu” vấn đề đến nơi đến chốn, chỉ còn cách “xé rào” vuợt đèn đỏ. Điển hình là thời gian gần đây, hiện tượng linh mục lạm dụng tình dục đã gây xôn xao dư luận trong và ngoài giáo hội... Điều đáng nói là khi phải đối diện với thách đố khó vượt qua này. Vatican đã ma mãnh vận dụng các quan điểm thần học xảo biện nhằm đánh lừa tín đồ như: “do sự hoạt động của Đấng quan phòng mà ở đâu tội lỗi càng gia tăng thì ở đó ân sủng càng tràn đầy”,  đồng thời hướng dư luận ngoài giáo hội vào một góc nhìn có vẻ tích cực trong việc giải quyết vấn nạn lạm dụng tình dục của các linh mục...

Điều này thật rõ ràng qua “Lời ngỏ”  của Giáo hoàng Gioan Phaolô II với các Hồng Y Hoa Kỳ nhân hội nghị bàn về vấn đề linh mục lạm dụng tình dục tại Vatican ngày 23/4/2002. Giáo hoàng nói: “Trong việc minh nhiên và dứt khoát lên tiếng về vấn đề lạm dụng tình dục, giáo hội sẽ giúp cho xã hội hiểu biết và giải quyết cuộc khủng hoảng này.” (“Những thách đố của giáo hội Công giáo”, số 28, tr.41). Vậy Giáo hoàng đã giúp cho xã hội hiểu biết cuộc khủng hoảng này ra sao?

Người dịch văn kiện trên (Cao Tấn Tĩnh) đã nhận định : “... lời của vị Chủ Chiên Hoàn Vũ rất xúc tích, đầy đủ và hết sức khôn ngoan...” Độc giả cũng thấy được lời của Giáo hoàng rất khôn ngoan, đúng như thánh kinh nói: “khôn như rắn...”  khi ông dùng những luận điểm thần học rất ngụy biện để đánh lạc hướng dư luận.

Dù Giáo hoàng thừa nhận việc các linh mục lạm dụng tình dục là một việc làm sai trái, bị xã hội lên án, coi như đó là một tội ác, và thừa nhận sự kiện trên đã đẩy giáo hội vào một cuộc khủng hoảng trầm trọng. Cái mà Giáo hoàng gọi là “gương mù về tình dục” của một số linh mục đã làm cho một số tín đồ bất mãn, mất tin tưởng vào giáo hội. Trước thực trạng này, Giáo hoàng đã dùng một loại “thuốc giải” mà đối với thế giới tiến bộ ngày nay là không còn giá trị sử dụng, nhưng đối với “con chiên” khờ khạo, nó vẫn còn là một loại linh dược. Loại thuốc giải này mang tên: “Đấng quan phòng”.

Luận điểm thần học xảo biện được Giáo hoàng sử dụng nhằm gỡ lại phần nào danh dự và uy tín của giáo hội trước vấn nạn“gương mù về tình dục” của một số linh mục. Giáo hoàng đã thi vị hóa vấn đề: “Một tác phẩm nghệ thuật vĩ đại  có bị vấy bẩn nhưng vẻ đẹp của nó vẫn còn...”  Giáo hoàng đã ví “giáo hội” như một tác phẩm nghệ thuật vĩ đại mà hành vi lạm dụng tình dục của các linh mục chỉ là những vết bẩn vấy lên. Khổ nỗi! nếu tẩy các vết bẩn bằng các biện pháp tích cực thì sẽ làm hỏng tác phẩm nghệ thuật! Vì thế, tín đồ chỉ được phép nhìn ngắm “bức tranh” giáo hội, cố gắng nhìn cho được “giáo hội là nhiệm thể chúa Kitô”, chứ đừng để ý đến những “vết bẩn” vấy lên nó... Ông Cao Tấn Tỉnh đã phân tích ý của giáo hoàng: “Đức Thánh Cha gián tiếp nhắc nhở mọi người đừng vội làm toán trừ bất công, chỉ nhìn đến một chút lỗi lầm mà xóa bỏ tất cả những gì tốt đẹp ...” (sđd tr.45)

Đến đây, liệu pháp “chúa quan phòng” được sử dụng như liều thần dược giải độc, trấn an một bộ phận tín đồ bất mãn, đồng thời  đánh lạc hướng dư luận nhằm giữ thể diện cho giáo hội. Giáo hoàng đã vận dụng một câu thánh kinh: “Ở đâu tội lỗi càng gia tăng thì ở đó ân sủng càng tràn đầy” (x Rm 5:20), từ đó dẫn vào một luận điểm thần học mà theo ông  Cao Tấn Tĩnh “chính Đấng Quan Phòng đã nhúng tay vào vụ việc này mà các vị chủ chiên Hoa Kỳ mới cần phải gắn bó với ngài, vì chỉ có ngài mới có thể giúp các vị giải quyết vấn đề bằng một lòng can đảm bất dung nhượng cũng như bằng chủ trương hòa hợp, nghĩa là vừa thông cảm song cũng vừa cứng rắn” (Sđd tr.48).

Thì ra sự kiện Lm lạm dụng tình dục đối với giáo hội chẳng có gì phải ầm ĩ, nó đã nằm trong “kế hoạch” của “chúa quan phòng” từ lâu rồi! Chính “chúa quan phòng đã nhúng tay vào sự vụ này”. Đấng quan phòng đã bật đèn xanh để các linh mục “nêu gương mù tình dục” vì “ân sủng càng tràn đầy ở những nơi mà tội lỗi càng gia tăng”?! Sự việc đã được “đấng quan phòng” an bài như thế rồi nên các vị chủ chăn Hoa kỳ cần hợp tác với ngài để giải quyết vấn đề. Đương nhiên để dập tắt những dư luận bất lợi cho giáo hội, cần có những biện pháp gọi là “cứng rắn”, nhưng “thông cảm” vẫn là chính. Giơ cao đánh khẽ.  Âu đó cũng là “ý chúa”.

Và cũng thật hết biết khi giáo hoàng ngụy biện “đấng quan phòng” đã để sự kiện linh mục lạm dụng tình dục phải xảy ra để ngài có cớ “thanh tẩy toàn thể cộng đồng Công giáo”. Vatican đã bắt “chúa” của họ “quan phòng” đến cả những tội ác. Ngay từ khi Giêsu mới chào đời, “chúa quan phòng” đã bắt hàng ngàn trẻ em thế mạng cho Giêsu để chỉ đổi lấy cái danh “thánh anh hài” (Mt 2:16). Riêng vụ việc này, không thể xem Giêsu là kẻ vô can... Đến thời trung cổ, ngài cũng đã từng “quan phòng” những cuộc thánh chiến của giáo hội, giết chết hàng triệu người mà họ gọi là lạc giáo, ngoại giáo... Ngay đến chuyện “sinh đẻ” cũng được ngài quan phòng, phản đối li dị, phá thai, ủng hộ gia tăng dân số bất chấp sự cạn kiệt tài nguyên, ảnh hưởng môi trường... Nay mai nếu chiến tranh nguyên tử xảy ra, loài người bị tiêu diệt, thì cũng không có gì lạ đối với Kitô giáo, vì tất cả đều nằm trong “kế hoạch quan phòng” của chúa...

Trong bức thư “Thứ Năm Tuần Thánh hằng năm” 21/3 của Giáo hoàng Gioan Phaolô II gởi cho hàng giáo sĩ. Giáo hoàng viết : “Trong lúc này đây, là linh mục, mỗi người chúng ta cũng cảm thấy bị tác dụng sâu xa bởi những tội lỗi của một số trong anh em chúng ta đã bội phản lại với ơn Thánh Chức, khi dìm mình vào trong cả những hình thức trầm trọng nhất của mầu nhiệm tội lỗi “mysterium iniquitatis” đang tung hoành trên thế giới”   (“Những thách đố của GHCG”. Số 28. Tr 23). 

Lạ! Giáo hội Công giáo luôn tự hào căn tính của Kitô giáo là “tình yêu”. Nhưng tình yêu lại xuất phát từ tội lỗi. Nền thần học Kitô giáo đã nâng cấp “tội lỗi” lên hàng “mầu nhiệm”, gọi là: “mầu nhiệm tội lỗi”. Vậy “tội lỗi” cũng là “căn tính” của Kitô giáo? Cách đây bốn thập niên, Giáo sư Nguyễn Văn Trung, một trí thức Công giáo đã từng viết : “Tội lỗi không phải là điều xấu tuyệt đối, vì chính nhờ tội lỗi mà có tình yêu, quảng đại, tha thứ. Trong ý nghĩa đó, có thể nói tội sinh phúc như kinh Exultet ca ngợi cái tội sinh phúc “Felix culpa” trong ngày vọng lễ Phục Sinh của Thiên Chúa giáo. Chính vì tội lỗi mà nhân loại nhận được Đấng Cứu Thế và làm hòa với Thiên Chúa sau một thời gian phân ly, thù nghịch” (Nguyễn Văn Trung, “Nhận định tập III”, Tr 203). Hiện tượng linh mục lạm dụng tình dục chỉ là hành vi “nhỏ” trong “mầu nhiệm tội lỗi” thôi! có gì đâu mà phải ầm ĩ... Vả lại, Chính chúa quan phòng đã nhúng tay vào việc này, đã bật đèn xanh cho họ, và họ chỉ “thực tập” làm nháp cuộc “hôn phối” đời thường để có thêm kinh nghiệm. Chính cái kinh nghiệm tình dục đời thường sẽ “giúp” họ tiến sâu hơn vào “kinh nghiệm thần bí”,  chuẩn bị  bước vào cuộc “đám cưới thần thánh” với “tân lang Giêsu”. Đúng như linh mục Cao Phương Kỷ đã viết trong quyển “Thiên Chúa giáo và Tam giáo”: “Tình dục (sexuality) không phải là điều xấu, là tội lỗi. Thánh Phaolô tông đồ đã dùng hình ảnh tình ái vợ chồng trong hôn nhân để ám chỉ tình ái giữa chúa cứu thế và hội thánh, tức là các tín hữu. Bởi vậy, tình nhục dục thăng hoa thành tình yêu gia đình, rồi lan rộng ra ngoài xã hội, để vươn tới tình yêu cao vời, thần bí hiệp thông với chúa”   (Sđd Tr. 236).

Trở lại  với chuyện “Đổ bóng” của nhà văn Trần Đức Tiến. Linh mục Thiện Cẩm phê bình ông Trần Đức Tiến “chủ trương tôn thờ "cái đó" coi "cái đó" là bất tử!”, và nhận định chuyện của ông Trần Đức Tiến “nặc mùi khêu gợi tình dục”. Tôi chợt nhớ câu chuyện tiếu lâm của một người bạn đã kể cho tôi nghe từ hồi còn học trung học. Anh là một chủng sinh, nhưng rất phóng khoáng. Chuyện tiếu lâm anh kể là do chính cha linh hướng của anh kể lại. Câu chuyện có vẻ phạm thượng, nhưng theo cha linh hướng của anh, chỉ là chuyện tiếu lâm thôi! nghe rồi bỏ, đừng nhớ chi hết. Chuyện kể chỉ để thư giãn đầu óc sau những giờ học căng thẳng, vậy thôi!...

Chuyện kể về nàng Bạch Tuyết xinh đẹp nổi tiếng thuộc thế giới cổ tích, nhưng cuối cùng rồi cũng phải chết. Đương nhiên là được lên thiên đàng, vì suốt cuộc đời, nàng có phạm tội lỗi gì nghiêm trọng đâu! Ở thiên đàng có một khu vực đặc biệt dành cho các trinh nữ được cai quản bởi đức trinh nữ Maria... Các thiếu nữ đã được lên thiên đàng rồi, nhưng muốn vào khu vực đặc biệt ấy để hưởng phước cùng với đức Maria thì điều kiện bắt buộc là phải ... còn trinh! Thánh Phêrô là người được giao trách nhiệm “khám nghiệm”. Nàng Bạch Tuyết dù nổi tiếng trong thế giới cổ tích cũng không thể ngoại lệ. Chỉ có điều thánh Phêrô không thể nào hiểu nỗi khi “khám nghiệm” cho nàng... Kết quả “khám nghiệm”, Bạch Tuyết được thánh Phêrô công nhận nàng vẫn còn là một trinh nữ. Nhưng điều làm cho vị thánh này bối rối là không hiểu tại sao mà màng trinh của nàng lại có bảy cái lỗ nhỏ, điều mà một  chuyên viên giàu kinh nghiệm như Phêrô cũng chưa bao giờ gặp qua... sự việc được báo cáo lên Đức Mẹ, và ngài cũng chịu thua không giải thích nỗi. Cuối cùng báo cáo lên chúa Giêsu. Ngài cười nói: Việc này chỉ có ta và bảy chú lùn biết thôi, tất cả các người làm sao biết được...

Thấy tôi thắc mắc không hiểu vì sao người ta lại mang cả những chuyện tiếu lâm kiểu đó kể cho các chủng sinh nghe. Bạn tôi với máu tiếu lâm sẵn có trong người giải thích: Ở thiên đàng mà cứ chăm chăm, chú chú, qùy qùy, đứng đứng, kinh kệ tối ngày thì chán chết... phải có những lúc thư giãn để hưởng lạc thú thiên đàng chứ... Anh nheo mắt tinh quái nhìn tôi cười, nói tiếp: Anh không biết thiên chúa đã tạo dựng nên con người giống hình ảnh ngài sao? Ngài lấy đất sét nắn nắn... ngắm nghía hài lòng: “giống thật”... Giống thật có nghĩa là giống hệt như hai giọt nước. Ngay cả đến cái “của qúy” cũng không sai một ly... Chỉ có điều ngài tạo nên “cái đó” cho chúng ta dùng để duy trì nòi giống, còn “cái đó” của ngài, không hiểu ngài dùng để làm gì? Kinh cựu ước có nói đến việc người ta phải cống nạp các trinh nữ cho ngài, nhưng không nói là ngài đã “dùng” họ như thế nào?... Có điều chắn chắn rằng, khi ngài sai “con một” của ngài “nhập thể” làm người, tức chúa Giêsu, cũng không thể thiếu “cái đó”. Giáo hội chưa bao giờ bàn đến điều này, nhưng sự kiện giáo hội tự nhận mình là “hiền thê” của “tân lang” Giêsu đã mặc nhiên thừa nhận “cái đó” của Giêsu là không thể thiếu...     

Chuyện kể của bạn tôi từ 30 năm về trước, nhưng đối với tôi, mỗi lần nhớ lại, nó không hề là chuyện cũ, nó luôn mới, mới như hôm qua lên mạng thấy người phụ trách trang nhà Giao Điểm, ông Nguyễn Văn Hóa, trong “Vài lời tâm huyết” giới thiệu bài “Ông Trời Việt Nam và Quái Vật Thiên Chúa Ba ngôi của đạo Kitô” của tác giả Charlie Nguyễn, đã dẫn lại mối tình đắm đuối giữa Giêsu và Mađalena trong “Sự cám dỗ sau cùng của chúa Giêsu” của Nikos Kazantzaki :

"Nhà văn Hy lạp Nikos Kazantzaki diễn đạt niềm khát vọng xác thịt rất “người” của Jesus với Mary Magdalene (con gái của một giáo sĩ Do thái cậu ông ở thành Nazareth) một cách văn chương và triết lý hơn trong “Sự Cám Dỗ Sau Cùng Của Chúa Giêsu” (The Last Temptation of Christ) : “Họ cùng nằm xuống dưới cây chanh đang nở hoa và bắt đầu quấn với nhau trên mặt đất. Mặt trời lên phủ trên người họ. Một làn gió lạnh thổi tới, những chiếc hoa chanh rơi rụng trên hai thân xác trần truồng.... Rên khe khẽ, Mary Magdalene ôm chặt lấy chàng (Jesus) như keo dính vào nàng” (They lay down under a flowering lemon tree and began to roll on the ground. the sun came and stood above them. A breeze blew; several flowers fell on the two naked bodies.... Purring, Mary Magdalene hugged the man, kept his body glued to hers.   The Last Temptation of Christ, Nikos Kazantzaki).

Chừng hơn thập niên trước đây (1990?), nhà đạo diễn phim Scorsese đã diễn tả lại ngôn ngữ của Nikos Kazantzaki bằng hình ảnh sống động hơn trong cảnh Jesus đắm đuối làm tình với Magdalene dưới căn nhà nghèo nàn trong sa mạc Nazareth (do tài tử William Dafoe đóng vai Jesus) . Qua Kazantzaki và Scorsese, chúng ta thấy Jesus rất thật, rất người, đó là con người rất “dễ thương”, dễ chấp nhận!"

Đúng thế, nếu “cái đó” được sử dụng đúng chức năng của nó, thì chúng ta mới có thể tin được Giêsu đã “nhập thể” đích thị làm người, chúng ta mới thấy Giêsu  thật hơn,  người hơn,   dễ thương hơn và  dễ chấp nhận hơn...

Mark_03.gif (833 bytes) Về trang nghiên cứu & đối thoại tháng 7-2003 

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........