curley_sw_03.gif (1967 bytes)   Nghiên Cứu và Đối Thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw_03.gif (1967 bytes)

.......... .


Việt Nam của Bush (*)

John Pilger

Tổng thống Bush: Quý vị biết không, tôi thật sự mệt mỏi về những lời đàm tiếu tại sao tôi trốn tránh ‘nghĩa vụ’ quân sự trong cuộc chiến tranh bất thường ở VN. Đó là lý do tôi đang mở một cuộc chiến tranh theo ý tôi đấy mà.  Photo by web ‘Political Strike’, Giaođiểm’s caption

 -----------------------------------------------------------------------------------------

 

        Mấy ngày gần đây, chúng ta thấy những đặc điểm của hai “chiến thắng vĩ đại”, hay “great victories”, của Mĩ và Anh từ ngày 11 tháng 9 năm 2001 đang dần dần trở nên rõ ràng hơn.  Ở Afghanistan, chế độ của Hamid Karzai hầu như không kiểm soát một đồng bạc nào, không có quyền lực gì cụ thể, và chắc chắn sẽ sụp đổ nếu không có súng đạn của Mĩ kè kè yểm trợ.  Al-Qaeda chưa bị đánh bại, và nhóm Taliban đang xuất hiện.  Bất kể những màn trình diễn về cải thiện xã hội hay kinh tế trên màn ảnh ti-vi đẹp đẽ như thế nào, tình hình vẫn còn cực kì phức tạp, nhất là đối với phụ nữ và trẻ con.  Người phụ nữ đầu tiên trong Nội các của Karzai, Bác sĩ Sima Samar, đã bị bắt buộc từ chức, và nay đang lo sợ cho tính mạng của bà.  Đội cận vệ vũ trang tuần gác văn phòng của bà 24 giờ trong ngày.  Giết người, hãm hiếp, lạm dụng trẻ con là những tội phạm xảy ra hàng ngày mà phần lớn thủ phạm là đội quân tư nhân và cũng là đồng minh của Washington, những người đã cung cấp cho đội quân này và thủ lãnh của họ hàng triệu Mĩ kim để mua lấy sự ổn định.

 

        Ở căn cứ không quân Bagram, một đại tá người Mĩ cho tôi biết rằng đối với ông bất cứ vùng nào ngoài căn cứ này là vùng của chiến tranh.  Lính Mĩ bị bắn tỉa hàng ngày.  Khi tôi nói “Nhưng các ông đến đây để giải phóng người Afghanistan mà”, thì ông đại tá cười to lên.  

 

        Tôi rất ít khi nào thấy lính Mĩ trên đường phố Afghanistan.  Họ thường hộ tống các quan chức cao cấp Mĩ trong các xe bọc thép, cửa kính đen, súng tự động trước và sau xe, và được chạy với tốc độ cao.  Ngay cả căn cứ không quân Bagram cũng được xem là bất an cho ngài Bộ trưởng quốc phòng, Donald Rumsfeld, trong một chuyến ghé thăm chớp nhoáng gần đây.  Lính Mĩ trở nên hồi hộp đến độ họ nhầm lẫn và bắn chết 4 lính của chính phủ ngay tại trung tâm thành phố Kabul vài tuần trước đây.  Cái chết của 4 người lính này làm cho dân chúng thành phố phẫn nộ, xuống đường biểu tình chống Mĩ trong suốt một tuần lễ liền.

 

        Ngày tôi rời Kabul, một chiếc xe chứa bom nổ tung trên đường đến phi trường, giết chết 4 lính Đức, thành viên của lực lượng bảo an, ISAF.  Chiếc xe chở lính Đức vỡ từng mãnh vụn tung tóe trên không; thịt da bay tứ tung bên cạnh lề đường.  Khi lính Anh đến để điều tra và ngăn chận lưu thông toàn bộ vùng, người dân hai bên đường hờ hững đứng nhìn mà chẳng nói lời nào, một cảnh tượng giống như mô tả trong sách vở vào thế kỉ 19, khi Anh vẫn còn chiếm đóng Afghanistan.

 

        Ở Iraq, ngoài những hoạt cảnh “chiến thắng vĩ đại” (hay “great victory”), còn có hai bí mật khác.  Bí mật thứ nhất là bọn “khủng bố” càng ngày càng tỏ ra bao vây lực lượng vũ trang Mĩ đang chiếm đóng trên đất Iraq, và hành động kháng cự này được dân Iraq ủng hộ, trái ngược lại với những huyền thoại gọi là “giải phóng” mà giới truyền thông Mĩ hay nói đến (muốn biết thêm chi tiết, có thể xem bài tường thuật chi tiết của Jonathan Steele trên tờ Guardian số ra ngày 19 tháng Ba năm 2003, www.guardian.co.uk ).  Bí mật thứ hai là qui mô giết người của liên quân Anh Mĩ thực hiện ở Iraq, một tắm máu mà ông Bush và Blair luôn luôn từ chối hay không muốn biết đến.

 

        Tình hình ở Việt Nam khoảng 30-40 năm về trước thường được đem ra so sánh và tôi không muốn làm thêm một so sánh mới.  Tuy nhiên, sự giống nhau quả là nổi bật: chẳng hạn như sự tái xuất hiện những cụm từ như “sa lầy” (sucked into a quagmire).  Điều này cho chúng ta thấy một lần nữa, người Mĩ là nạn nhân, chứ không phải là người xâm lăng: một màn kịch Hollywood về một cuộc ăn cướp đi sai kế hoạch!  Kể từ ngày bức tượng của Saddam Hussein  bị giật sập khoảng 3 tháng trước đây, nhiều lính Mĩ bị giết hơn là trong lúc còn giao chiến.  Mười người đã bỏ mạng, và 25 người bị thương trong các đợt tấn công du kích xảy ra hàng ngày ở Iraq.

 

        Chính phủ Mĩ gọi những tấn công du kích này là do “tàn dư trung thành với Saddam Hussein” và thành viên đảng Ba'athist thực hiện, cũng giống như họ từng gán cho những du kích thời chiến tranh Việt Nam là “Cộng sản”.  Gần đây, ở Falluja, một tỉnh miền nam Iraq và là thành trì của giáo phái Sunni, tức chẳng có ai trung thành với đảng Ba'athist của Hussein, nhưng hành động tàn bạo của quân chiếm đóng (như bắn vào đám đông) là động cơ làm cho dân địa phương nổi dậy chống liên quân Anh Mĩ.  Xe tăng Mĩ bắn chết cả gia đình của một người chăn cừu, y chang như máy bay Mĩ giết chết cả gia đình một người chăn cừu khác vào thời “Vùng cấm bay” khoảng 4 năm về trước. 

 

        Ngày 12 tháng 6 năm 2003, một lực lượng Mĩ tấn công vào một mục tiêu được mô tả là “căn cứ khủng bố” ở phía Bắc Baghdad làm cho 100 người chết (theo báo cáo của một phát ngôn viên người Mĩ).   Danh từ “Khủng bố” hay “Terrorist" ngày nay trở nên quan trọng, bởi vì nó hàm ý liên đới với những nhóm như al-Qaeda, những kẻ đang ra sức tấn công giải phóng quân, và qua đó làm cho người ta liên đới đến biến cố 9/11.  Đó là một tuyên truyền được sản xuất để tranh thủ sự ủng hộ của quần chúng.

 

        Trong cuộc tấn công trên, hơn 400 tù binh bị bắt giam.  Phần lớn những người này hiện đang bị đưa về giam trong các trại giam tại phi trường Baghdad, một trại tập trung giống như các trại ở Bagram (Afghanistan).  Ở Afghanistan, người Mĩ bắt ngay cả tài xế taxi và gửi đi mất tích qua trại giam Bagram.  Cũng giống như các hung thần trong chế độ Pinochet ở Chile ngày xưa, bất cứ ai được xem là kẻ thù đều cho đi biệt tâm tích.

 

        “Truy tìm và thủ tiêu” hay “Search and destroy”, một thủ đoạn quân sự từ thời chiến tranh Việt Nam đang được đem ra dùng lại.  Ở những vùng đồng bằng khô cằn thuộc miền Nam Afghanistan, làng Niazi Qala đã bị xóa tên trên bản đồ.  Không quân và lục quân Mĩ quét sạch cả làng trước đêm 30 tháng 12 năm 2001, giết hầu hết những khách đến dự một đám cưới ở đó.  Dân làng cho tôi biết phụ nữ và trẻ em chạy thục mạng đến một cái giếng đã khô cạn từ lâu để tìm chỗ tránh né bom đạn, nhưng trước khi đến nơi trú ẩn, họ bị bắn chết gần hết.  Sau 2 giờ liền, máy bay Mĩ rời làng.  Theo một điều tra của Liên hiệp quốc, trong cuộc hành quân này, lính Mĩ giết chết 52 người, kể cả 25 trẻ em.  Khi được hỏi về hành động này, một phát ngôn viên của Pentagon cho biết “Chúng tôi cho rằng đó là một mục tiêu quân sự”, nghe sao quá quen tai, giống như là câu trả lời cho cuộc tàn sát ở Mỹ Lai 35 năm về trước.

 

        Nhắm vào các mục tiêu dân sự là một đề tài cấm kị trong giới truyền thông Tây phương.  “Những con quái vật có bằng cấp phạm tôi đó, chúng tôi không bao giờ làm thế,”  đó là khẩu hiệu của họ.  Cuộc chiến vùng Vịnh lần thứ nhất (1991) làm chết 200.000 người Iraq (theo ước tính của Medical Education Trust ở London).  Trong cuộc chiến lần này, theo ước tính của một nhóm có tên là Iraq Body Count, gồm các nhà nghiên cứu và giáo sư đại học Anh và Mĩ, có khoảng 10.000 thường dân chết, kể cả 2.356 người bỏ mạng vì bom đạn ở thành phố Baghdad.  Và, đây là một con số cực kì bảo thủ. 

 

        Ở Afghanistan, một cuộc tàn sát tương tự cũng đã xảy ra.  Vào tháng 5 năm ngoái, Jonathan Steele (một kí giả của tờ The Guardian) dựa vào các con số báo cáo trên báo chí, ước tính rằng có khoảng 20.000 người Afghanistan chết vì bom đạn của Mĩ.

 

        Những hậu quả bị che dấu này không có gì là mới cả.   Một nghiên cứu gần đây do Trường Đại học Columbia (New York) cho thấy con số dioxin do lính Mĩ xịt ở Việt Nam trong thời chiến cao gấp 4 lần so với những gì mà Pentagon từng báo cáo.  Trong một chiến dịch mà ban đầu họ gọi là “Operation Hades” (Chiến dịch âm phủ), nhưng sau này họ đổi thành một danh từ nghe mĩ miều hơn, “Operation Ranch Hand”, lính Mĩ đã bay hơn 10.000 phi vụ và hủy diệt gần phân nửa rừng ở Nam Việt Nam, và vô số nạn nhân.  Chiến dịch này là một hành động quỉ quyệt nhất, và có lẽ là một hành động sử dụng vũ khí hóa học tàn phá hàng loạt lớn nhất từ trước đến nay.  Ngày nay, nhiều trẻ em Việt Nam được sinh ra với dị tật bẩm sinh, có thể là một hậu quả trực tiếp của dioxin của Mĩ.

 

        Trong chiến tranh vùng Vịnh, việc sử dụng đầu đạn được áo uranium với độ phóng xạ tương đối thấp (còn gọi là depleted uranium, hay DU) gợi cho chúng ta một kí ức về độc chất màu da cam và dioxin ở Việt Nam trước đây.  Trong cuộc chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất, lính Mĩ và Anh dùng 350 tấn DU.  Theo như các chuyên gia thuộc trung tâm Atomic Energy Authority (Anh), chỉ cần 50 tấn DU, nếu hít vào hay tiêu hóa, có thể làm cho 500.000 người chết.  Phần lớn nạn nhân sống ở miền Nam Iraq.  Trong cuộc chiến vừa qua, các cơ quan nguyên tử thế giới ước đoán rằng Mĩ đã sử dụng khoảng 2.000 tấn DU.

 

        Trong một loạt bài tường thuật đăng trên tờ The Christian Science Monitor, kí giả Scott Peterson mô tả những viên đạn áo DU tìm thấy trên đường phố Baghdad và nhiều chiếc xe tăng bị nhiễm phóng xạ, nơi mà trẻ con lấy làm đồ chơi.  Tuy muộn, nhưng cũng có một số biển hiệu bằng tiếng Ả Rập với hàng chữ "Danger - Get away from this area" (Nguy hiểm – Hãy rời khỏi nơi đây).  Trong khi đó, ở Afghanistan, cơ quan nghiên cứu uranium trong y khoa (Uranium Medical Research Centre) ở Canada từng tiến hành hai nghiên cứu về tác hại của DU trong cộng đồng, và kết quả họ mô tả là “shocking”.  Theo báo cáo của cơ quan này, ở mỗi hố bom được điều tra đều có người bị bệnh được xem là liên quan đến phóng xạ uranium. 

 

        Các nhóm cứu trợ ở Iraq được cung cấp một bản đồ chỉ rõ những địa điểm bị ảnh hưởng phóng xạ uranium, hay những nơi bị bỏ bom chùm (cluster bombs) vẫn chưa nổ.  Những trái bom này nằm yên đó cho đến ngày trẻ em vô tình đụng vào chúng và chết chóc sẽ xảy ra.

 

        Trong trung tâm thành phố Kabul ở Afghanistan, tôi tìm thấy hai bản hiệu xơ xác cảnh cáo dân chúng rằng những mảnh gạch đá vụn trong nhà, hay trên đường phố có thể chứa những trái bom chùm chưa nổ “made in USA”.  Ai đọc những bản hiệu này?  Trẻ em?  Cài ngày mà tôi nhìn các trẻ em nhảy cò cò qua những nơi có thể là những cánh đồng mìn, tôi thấy Tony Blair xuất hiện trên đài CNN trong khách sạn tôi tạm trú.  Ông ta đang ở Iraq, ngay tại thành phố Basra, dơ tay bồng một em bé trong một ngôi trường được sơn phết lại chỉ để cho chuyến viếng thăm của ông ta có tính trang trọng, và nơi mà buổi ăn trưa thịnh soạn được nấu nướng để vinh danh ông, trong bối cảnh điện nước và thực phẩm thiếu thốn vì sự chiếm đóng của quân đội Anh.

 

        Tôi từng tường thuật và quay phim ở Basra ba năm trước đây, nơi mà tôi cho thế giới thấy hàng trăm trẻ em bị bệnh và chết vì thiếu thuốc men.  Tony Blair và đồng nghiệp của ông là những người ngăn chận không cho Iraq nhập cảng thuốc vì họ cho rằng Iraq có thể dùng thuốc để sản xuất vũ khí hóa học.   Ấy thế mà hôm nay, Tony Blair xuất hiện với cái áo sơ mi hở ngực, với nụ cười rạng rỡ, và nựng nịu một em bé để thu hình.

 

        Khi tôi về lại London, tôi đọc cuốn "After Lunch" (Sau bữa ăn trưa), của Harold Pinter, cuốn sách nằm trong một sưu tập viết về chiến tranh của tác giả do Nhà xuất bản Faber & Faber ấn hành.   Sách có đoạn viết: “Và, sau buổi trưa, các sinh vật ăn mặc bảnh bao đến để ngửi những xác tử thi, và ăn cơm trưa.  Thế rồi những sinh vật ăn diện bảnh bao này bóc trái lê mập ú từ đống tro tàn.   Họ khuấy đĩa xúp với cái xương.   Sau buổi ăn trưa, họ thơ thẩn dạo quanh phòng với li rượu đỏ Claret trong cái sọ người.”

 

(*) Nguyễn Văn lược dịch từ bài viết “Bush’s Vietnam” của John Pilger, đăng trên tờ New Statesman, số ra ngày 22 tháng 6 năm 2003.  John Pilger vừa đoạt giải Sophie (Sophie Prize), một giải thưởng cao quí trong lĩnh vực môi trường và phát triển do Na Uy trao tặng.  Ngoài ra, Pilger còn được tặng danh hiệu “Nhân vận truyền thông trong năm” (Media Personality of the Year) trong buổi trao giải thưởng EMMA hôm 30/5/2003.  Trong buổi lễ trao giải EMMA, người xét giải nhận xét: “John Pilger đi xa ngàn dặm để đem đến cho chúng ta một sự thật khác.”

 

Mark_03.gif (833 bytes)  Về trang Nghiên cứu & đối thoại tháng 7-2003

Home  |  Top Page | Về trang mục lục

© Thư từ và bài viết cho mục này, xin gởi attachment về email: giaodiem@giaodiem.net

. ..........