curley_sw.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw.gif (1967 bytes)

.......... .
 
Charlie Nguyễn và tâm thức trở về của kẻ sĩ Bắc hà
(nhân đọc: Công Giáo Huyền Thoại & Tội ÁcCông Giáo Trên Bờ Vực Thẳm của Charlie Nguyễn)
  • Nguyễn Văn Hóa

1. Tâm thức trở về giữa dòng của 6 trí thức Âu Mỹ.

Theo dòng lịch sử, Vatican chỉ thực sự hình thành quyền lực Giáo triều (Papacy) khống chế thế giới là vào đầu thế kỷ 20 . Thật vậy, với những cải cách về luật Canon (Giáo luật), cải tiến hệ thống giáo dục tu viện, thành lập một chế độ tu sĩ và giáo lý cho áp dụng cho các giaó hội bản xứ; Vatican thúc bách đẩy mạnh sinh hoạt phụng vụ của giáo dân phải đi lễ thường xuyên hơn. Song song với những cải cách này, Vatican thực hiện một cao trào chống  trí thức (anti-intellectualist). Giáo hoàng Piô X tuyên bố "Khi chúng ta nói là đại diện thiên chúa, chúng ta phải biết vâng lời, chúng ta không được quyền xét đoán, phê phán, không được làm tổn thương chúa Giê-su. Chỉ có hy vọng cho một xã hội  đau yếu, và Giáo hoàng chính là liều thuốc chữa". (1) Lời tuyên bố này manh nha cho một quyền lực chính trị độc tôn kéo dài trong suốt thế kỷ 20.

Nhưng tại sao phải chống-trí-thức? - Những năm sau cùng của thế kỷ 19, một làn sóng các sử gia, học giả về kinh thánh, các triết gia thần học Ki-tô nổ lực khai phá tinh thần Ki tô giáo nguyên thủy trong tinh thần phóng khoáng, đã khai mở một tinh thần sáng tạo mới kế tục dòng tư tưởng từ các triết gia Kant cho đến Hegel. Họ không còn muốn chấp nhận Giáo hội như một cấu trúc kiểu kỹ luật quân sự chung quanh Giáo hoàng; nhưng nó phải là một cấu trúc tôn giáo sinh động hướng tới sự phát triển và có khả năng thay đổi.

Giáo hoàng Piô X cũng như các cố vấn của ông ta đã nổ lực chận đứng những tư tưởng xã hội và thần học Ki tô cải cách mà Piô từng cho là những kẻ phản bội và giả nhân nghĩa. Piô X nói rằng "Những tên Ca tô cấp tiến là những con chó sói khoác áo lông cừu: chính vì vậy một tu sĩ đích thực có nhiệm vụ phải gỡ mặt nạ chúng ra"  { Liberal Catholics are wolves in sheep's clothing, and therefore the true priest is bound to unmask them (2) }.

Nhưng bước qua thời đại của những Giáo hoàng độc tài, bắt đầu từ Benedict XV (1914-22), thấy sự bất lợi trong chính sách đối đầu của Piô XI, Benedict XV kêu gọi đình chỉ chiến dịch săn quỷ - chống bọn tư-tưởng-hiện-đại (anti-Modernist witch-hunt).

Trong khi ấy, thế giới chứng kiến một cuộc cách mạng vô sản lớn lao bùng vỡ ở Nga sô viết; và từ một cảm nhận đặc biệt về cuộc cách mạng tháng Mười này, Giáo hoàng kế vị - Piô XI đã lên án chủ nghĩa Cộng sản là một kẻ thù tệ hại nhất mà Ca tô Âu châu phải đối đầu. Sự kết án này là một dạng thức cấu tạo chính sách của Giáo hoàng Piô XI, và là cái sườn tư tưởng cho Giáo hoàng Piô XII về sau. Ông ra lệnh cho các giáo hội tìm mọi cách chận đứng làn sóng thế tục hóa đời sống (mà ông cho là đã tự mang nhãn hiệu "chủ-nghĩa-tự-do" (Liberalism) ở Âu châu. Ông trói buộc tín đồ trong luật của Chúa Ki tô không phải chỉ áp đặt lên mỗi linh hồn đơn lẻ (cá nhân) mà toàn thể xã hội, dưới sự chăn dắt của giáo hội.

Những nổ lực mang tính chính trị hóa đời sống tôn giáo này, đã tạo thành một hợp đề kế tục cho các giáo hoàng kế vị, và di lụy đến gần một trăm năm sau.

Người ta không ngạc nhiên khi vào năm 1929, một thỏa ước - có tên gọi Lateran Concordat, được ký kết giữa Vatican và chính phủ Ý, xác định tính cách pháp lý mọi quyền lợi của nhà nước Vatican (Papal States) với các nhượng địa, cơ ngơi, đất đai, kèm thêm một số tiền hậu hỉ 1 tỉ Lire trong cổ phần của chính phủ Ý. Đó là một số tiền lớn giữa một khủng hoảng kinh tế thế giới và nạn đói năm 1930, cho phép Piô XI có cuộc sống như một hoàng tử thời Trung cổ .

Qua các dấu hiệu một sự trùng lặp lịch sử thời Pháp đình và Trung cổ của Giáo hội Ca tô La mã, phản đề rộng lớn của giới trí thức Âu Mỹ cuối thập niên 1930, đầu 40 - một làn sóng trí thức Ca tô đã tìm con đường trở về với tinh thần nhân bản mới qua hiện thực cách mạng Vô sản Sô viết - một lối thoát để phá vỡ nguyên trạng từ một tinh thần thần học tăm tối mà họ đã được đào lập từ môi trường giáo dục ấu thời. Đại biểu cho các tầng lớp trí thức này là: Arthur Koestler, Ignazio Silone, Richard Wright, Andre Gide, Louis Fischer, Stephen Spender...

Chủ nghĩa Cộng sản chính là Phúc âm mới cho những tâm thức lạc lõng này. Ignazio Silone (nhà văn Ý) cho rằng: "Tôi không nhận thức chính sách xã hội qua sự trói buộc với lý thuyết riêng biệt nào, mà bằng niềm tin". { I do not conceive socialist policy as tied to any particular theory, but to a faith (3) }.

Trong luận đề về Andre Gide, Ernid Starkie (tiến sĩ Oxford và Sorbonne) "Những kẻ thờ phượng" (Worshipers from Altar), nhận xét:

"Sau những khủng hoảng về chủ nghĩa cá nhân, Gide buộc lòng phải nhận rằng con người không cần Thượng đế" (4) . Đối với Gide, hạnh phúc đích thực là phải biết tạo ra hạnh phúc cho kẻ khác. cái Ngã và sự tư kỷ đánh mất lý tưởng con người siêu vượt. Cảm thức này đã mang cho Gide một phiêu tưởng đến một thứ tình-anh-em đối với những ai đã tìm đến Chủ nghĩa Cộng sản bằng tình yêu { I fell myself the brother only of those who have come to Communism through love (5) }

Cảm thức này là một thăng hóa (sublimation) từ sự bế tắc và thất vọng trong tín điều Ki tô giáo thúc đẩy Gide tìm lối thoát bằng hành động cách mạng cụ thể (praxis) giải phóng khỏi trì trệ của chủ nghĩa cá nhân. Không phải chủ nghĩa Mác, mà chính là Phúc âm - ông đã đến với Chủ nghĩa Cộng sản { It was not through Marx, but through the Gospel, that Gide had reached Communism   (6) }. Trong một phát biểu ở buổi họp của tổ chức L'Union pour la Vérité ở Pháp năm 1935, Gide cho rằng sự hiện hữu của Chủ nghĩa Cộng sản là một sự kiện xã hội tất hữu. Gide nói : "Tôi cho rằng mọi hứa hẹn của Ki tô giáo đã phá sản. Tôi đã từng viết, và tôi tin chắc nếu Ki tô giáo thắng thế, nếu thực sự những lời giáo huấn của chúa Giê su là tràn đầy ý nghĩa, thì ngày hôm nay đã không có vấn đề về Chủ nghĩa Cộng sản. Nó hoàn toàn không phải là vấn nạn xã hội". (7).

Đối với Arthur Koestler (nhà văn Hung gia lợi), niềm tin thì không cần lý lẽ - như một phụ nữ đang yêu, hay một tín đồ đi đến nhà thờ cầu nguyện đều giống nhau. Niềm tin phát triển như một cây mọc, ngọn đâm thẳng lên trời, rễ cắm sâu xuống đất, cứ thế nó phát triển nhờ vào lớp đất màu mỡ.

Koestler cho rằng các quan điểm phân biệt của nhà tâm lý [ lý tưởng không tưởng được nuôi dưỡng từ Huyền thoại học ], các nhà xã hội học [ giữa kẻ có niềm tin truyền thống và nhà cách mạng ] chỉ là một nửa phần của sự thật (half-truth). Để tổng hợp cho một nửa phần sự thật còn lại, là một dấn thân để chống xã hội bất công ( gia nhập đảng Cộng sản! ) [ Xem lý luận của Koestler từ trang 11-17, The God That Failed, sách đd.].

Riêng các nhà văn như Louis Fischer (Mỹ), Richrad Wright (Mỹ), Stephen Spender (Anh) có những động cơ đến với đảng Cộng sản ít "siêu hình" hơn, nhưng cũng mang dạng thức tâm lý phản động lại Phúc âm và thực tế giáo hội.

Richard Crossman, qua lời giới thiệu ( trong The God That Failed ) đã nhận xét  "Sáu nhà trí thức này - trong hành trình tìm đến Chủ nghĩa Cộng sản - rồi lại trở về - cũng như những người tiền bối 130 năm trước đó, đã nhìn Cách mạng Pháp, như một khải thị về một Vương quốc của Thượng đế trên trái đất" ( as a vision of the Kingdom of God on earth ) ; và  "Chủ nghĩa Cộng sản, như một thể cách sống, dù chỉ trong vài năm, đã chụp bắt cái nền tảng nhân cách Ki tô trong Silone và quyến rũ những nhân cách như Gide, Koestler, bộc lộ ra sự khiếm khuyết khủng khiếp của nền dân chủ Âu châu" (8).

Crossman phân tích cụ thể hơn: "Sức mạnh của Giáo hội Ca tô luôn luôn đòi hỏi một hy sinh về ước vọng tự do,  sự kiêu hãnh tinh thần bị lên án là một trọng tội (deadly sin) . Và "một khi sự từ bỏ (tự do) được thiết lập - tư duy, thay vì được tự do hoạt động, trở thành kẻ phục vụ không tra vấn cho mục tiêu cao hơn. Chối từ sự thật là một hành vi phục vụ". (9).

Nhưng những phiêu lưu trí thức của 6 nhà trí thức Âu Mỹ nói trên, như những kẻ chèo thuyền ra giữa dòng sông rồi lại quay về vì không tìm ra bờ đáo ngạn. Những kẻ thiếu nguồn cội. Những kẻ bơ vơ, lạc lõng ở nửa dặm đường. Bởi vậy, theo Crossman, nếu Louis Fischer, Stephen Spender và Andre Gide là những kẻ "đồng hành" (fellow-travelers) thì Silone, Koestler và Richard Wright chẳng bao giờ vượt thoát khỏi ám ảnh cái đích của con đường tìm đến.

2. Tâm thức trở về trọn vẹn của Charlie Nguyễn.

 Trong lúc cả một làn sóng trí thức Âu Mỹ đi tìm con đường giải phóng nọa-lực (inertia) của tín lý Ca tô, thì trên đất nước ta tầng lớp sĩ phu yêu nước cũng đang tìm con đường giải phóng dân tộc dưới một thế lực kềm kẹp hai đầu (Giáo hội truyền giáo Ca tô và thực dân thống trị).

Cái "đầu" Giáo hội  đã thể hiện rõ qua bài hịch "Khởi Nghĩa Thái Nguyên" của Đội Cấn : "Pháp tặc ở Âu Châu, giả lấy danh nghĩa thông thương truyền giáo cướp mất hương hỏa quý hóa của ta" { Thơ Văn Quốc Cấm (viết tắt TVQC), Thái Bạch, trang 423 }. Thủ đoạn "thông thương truyền giáo" này, nếu không có sự tiếp ứng của đám giáo dân vong bản, thì khó lòng thành tựu, cho nên một kẻ sĩ Bắc hà thời đó, cụ Mai Sơn Nguyễn Thượng Hiền đã vạch rõ trong "Giọt lệ biển dâu" (1914) để chia xẻ tâm sự với người bạn nước Hàn (Cao Ly) : "Vậy nên người Pháp nói thời cơ, trước tiên là đem người sang truyền đạo Gia tô, để biết điều thực hư trong nước, kế đem hàng hóa sang bán để đi sâu vào trong dân gian. Sau khi đã rõ hết tình hình họ mới dùng đến chiến tranh, bất kể hòa ước, thế là 36 tỉnh trong nước tôi đều lọt hết vào tay họ". ( TVQC, trang 406).

Không phải đợi tới ngày hôm nay (đầu thế kỷ 21), không phải chỉ có cụ Vương Hồng Sển, mà từ 1914 (và tất nhiên từ hàng thập niên trước đó nữa), một kẻ sĩ Bắc hà vì vận nước, lưu lạc xứ người để thổ lộ tâm can về đại nạn của đạo quân thứ năm (giặc Ca tô La mã) đã viết bài "Tang Thương Lệ Ngữ" nói lên niềm đau xót uất hận này.

Cả một đội ngũ hùng hậu sĩ phu Bắc hà đã thành lập Hà thành Thư xã với Cửu Xương, Cử Soạn, Tú Thiệp, Tú Ta, Cử Khai, Huyện Nam, Ký Tín... sôi sục vận động ý thức dân tộc để cảnh tỉnh lòng dân, để rồi phải bị thực dân đàn áp dã man. Trong "hai mươi năm hồn mộng đi về sông Lô, Núi Tản" đã bộc lộ hào khí ngất trời:

Thanh bảo kiếm muôn năm sẵn có,
đấng anh hùng dùi mài mãi chưa thôi
(Văn tế Cao Thắng, TVQC, tr.290).

Một vài sử gia miền Nam trước 75, dù đang hưởng ơn mưa móc từ chế độ, nhưng cũng có kẻ còn biết giữ gìn tiết tháo, như Phạm Văn Sơn trong Việt Sử Toàn Thư,  nhiều hay ít cũng thấy được mưu đồ của giáo sĩ "viễn chinh" Gia tô, đã đặt vấn đề "Những giáo sĩ đầu tiên trên đất Việt Nam là những ai?" và trả lời: "Họ là những người Bồ đào nha, Tây ban nha... tu sĩ cũng như lái buôn đều tự cho mình là những tên lính tiền phong cảm tử đi mở việc buôn bán với Á châu để làm giầu cho xứ sở mình... Hạt tiêu và linh hồn đó là mục đích của những cuộc mạo hiểm vô cùng táo bạo của họ" ( Phạm văn Sơn "Việt Sử Toàn Thư", tr. 580)

Ròng rã trong vòng hơn hai thế kỷ (giữa lúc quyền lực thống nhất đất nước của Việt Nam bị tan rã do sự tranh dành quyền lợi của ba mặt Chúa phong kiến Mạc-Trịnh-Nguyễn), chiến dịch "hạt tiêu và linh hồn" đã biến niềm kiêu hãnh Thăng Long , trở thành hình ảnh:

Phường bồi bếp ngênh ngang dạo phố,
Áo quần Tây tảng lố thông ngôn
(TVQC, trang 51)

Đó là hình ảnh sĩ nhục cho đất "nghìn năm văn vật", thủ phủ của "Nam Quốc sơn hà, Nam đế cư", là niềm tự hào của đất nước - đã được đánh thức bằng xác định:

Một vùng chính khí lưu hành.
Khoảng trong trời đất, nhật tinh sơn hà
(Hà Thành thất thủ ca, TVQC, trang 55).

Hàng hàng lớp lớp sĩ phu Bắc hà cùng đứng lên đáp lời sông núi: Phan đình Phùng, Nguyễn thiện Thuật, Lương ngọc Quyến, Dương bá Trạc, Lê văn Huân, Phạm tất Đắc, Phạm hồng Thái, Phạm tuấn Tài, Hoàng hoa Thám, Nguyễn mậu Chi, Phạm văn Nghị, Cao Thắng, Hoàng trọng Mậu, Nguyễn thị Giang, Trịnh văn Đạt ( Đội Cấn) ... đã khẳng định "chính khí" của hồn thiêng sông núi:

Đá núi Tản muôn trùng chất ngất, hồn vĩ nhân muôn kiếp chưa tan;
Núi sông Hồng nghìn khoảng mênh mông, máu liệt sĩ nghìn thu khó gột.
(Văn tế chiến sĩ cách mạng Hoàng Trọng Mậu - TVQC, tr. 290).

Bởi "hồn vĩ nhân muôn kiếp chưa tan", nên một thế hệ khác tiếp bước hào khí Thăng Long với Trịnh đình Cửu, Dương hạc Đính, Lê hồng Phong, Hà huy Tập, Phùng chí kiên, Nguyễn Tuân, Ngô gia Tự ... cũng dấn thân hành động, bằng con đường gia nhập tổ chức Kháng chiến Việt Minh (tiền thân của đảng Cộng sản).

Nhưng giữa một trời chất cao lòng yêu nước ấy, vẫn có những kẻ ngày hôm qua vẫn còn là người con  trong lòng đất nước, vì theo cái "Đạo do thám" cho "linh hồn và hạt tiêu" ấy, như Nguyễn Thân, Ngô đình Khả, Vi văn Định, Trần Lục ... đã đổi lòng vì Pháp, vì Chúa để hãm hại những người yêu nước.

Và dù cụ Phan bội Châu đã khôn khéo cảnh giác:

Đạo Gia tô cũng đạo cứu dân
Thấy quân tham nhũng bất nhân,
Dẫu cùng một giáo nhưng thân nỗi gì
(Hải Ngoại Huyết Thư , TVQC, tr.155)

Nhưng cũng bởi dòng máu "Cha nào, Con nấy", một lớp người chắp đuôi "dẫu cho có bụng vì người Pháp" (lời cụ Phan bội Châu) ấy đã không nương tay tàn hại lương dân yêu nước, trong đó có thân phụ của Charlie Nguyễn.

Trong bức thư gởi cho người bạn thân (Nguyễn thanh Giản) { Công Giáo-Huyền Thoại và Tội Ác (viết tắt CG-HTTA), trang 325 }, ông viết:

"Nguyên nhân sự "nổi loạn" của tôi là vào năm 1949, tôi đã chứng kiến thảm cảnh của những người "bên lương" bị cha tôi và các cha xứ cùng quân Ninh Cường hợp tác với Tây tiêu diệt họ. Có người bị đốt cháy như con chó thui ở tiệm "Cầy tơ" nhe răng ghê rợn. Có người bị trói thúc ké để chờ bị giao lên đồn Tây. Có người bị đốt nhà và bị bắn thả trôi sông".

Ám ảnh từ hình ảnh ghê rợn ấy đeo đẳng suốt quãng đời trưởng thành của Charlie, và ngày hôm nay ông mới thực sự phán quyết đúng lương tri của một quan tòa: "Cha tôi và bọn cha Cố mà tôi trước đây hết lòng kính mến thực ra là Việt gian".

Thái độ sống lừng lẫy ấy không phải là "bất hiếu chi tử", vì lòng hiếu tử của Charlie được thể hiện qua lời tâm sự : "Tôi coi mọi bài viết chống Ki tô giáo của tôi là những nén hương lòng của tôi dâng lên hương linh họ". ( CG-HTTA, tr. 326) và nguyện "dùng mạng sống của mình để làm cái giá chuộc tội sát nhân vì cuồng tín của cha tôi", bởi những nạn nhân của thân phụ Charlie và các "cha Cố Việt gian" đều là những dân lành vô tội. ( CG-HTTA, trang 326)

Trong đầu thế kỷ 20, sáu nhà văn Âu Mỹ trong tâm thức đi tìm sự giải phóng con người khỏi những bức bách, tù hãm của tín lý Ki tô bằng Chủ nghĩa Cộng sản, để rồi cũng trở về với bản thể uyên nguyên của con người - lòng nhân ái thế tục. Cũng trong mốc thời gian đó, và trãi dài non một thế kỷ, các thế hệ yêu nước Việt Nam đã mượn Chủ nghĩa Cộng sản để giải phóng dân tộc khỏi tham vọng của "hạt tiêu và linh hồn", rồi đây cũng sẽ trở về với tinh thần uyên nguyên của dân tộc là lòng yêu nước. Và một thế hệ trí thức Gia tô dằn vặt khổ đau tinh thần vì nghiệp chướng của cha ông đã đi theo cái "Đạo" hại nước hại dân cũng sẽ thức tỉnh để trở về với dân tộc.

Qua những tác phẩm tim óc của Charlie Nguyễn, hẳn nhiên đã là dấu ấn của sự trở về. Không huyễn hoặc, không mộng mị, ông "chìm đắm trong một thế giới tâm linh mới". Cái gì thuộc về dân tộc, bỗng trong phút giây chiếm ngự tâm hồn ông - trong đó có cả Hòa Hảo, Cao Đài. Và sự chiếm ngự sâu đậm nhất là Phật tính của dân tộc Việt, Charlie viết : "Trước đó tôi chưa bao giờ vào chùa lạy Phật, không hề thuộc một Kinh Phật nào và không hề quen biết một tu sĩ nào của đạo Phật nhưng tôi không cảm thấy xa lạ với Đức Phật. Trái lại, tôi cảm thấy hình như Ngài đã ở sẵn trong tim tôi từ thuở nào!". { Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm (viết tắt CG-TBVT), trang 201 } Trong hành trang trở về dân tộc ấy, Charlie Nguyễn cưu mang một hoài bảo, như "hình ảnh vị nguyên soái già ngồi mài gươm dưới chân thành, ánh trăng thế kỷ lay động trong giọng thơ chính khí : Thù nước chưa xong đầu đã bạc. Gươm mài bóng nguyệt đã bao lần..." ( Ai đã đặt tên cho dòng sông?, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nghiên Cứu Huế tập 2-2001, tr.233)

Hoài bảo ấy còn trang trãi một ước mơ "Giấc mơ đẹp nhất trong đời tôi chắc chắn phải là giấc mơ  mà trong đó vào thời tôi biến thành Iemitsu" ( CG-TBVT, tr. 121) [ tên một vị tướng Nhật đã mang đại quân dẹp tan nổi loạn của dân Công giáo tại Nagasaki năm 1638, và đã ra lệnh đóng đinh tất cả các giáo sĩ thừa sai và thẳng tay giết sạch 37 ngàn giáo dân một lúc - sđd, tr.13].

3. Từ ước mơ  hoang tưởng  đến những biện pháp khả thi.

Trong thế kỷ 21, nỗi ước mơ làm người hùng của tác giả chỉ là điều hoang tưởng, hơn nữa nó đối nghịch với tinh thần hòa ái, hỷ xả của dân tộc Việt Nam. Ngày trước khi viết "Hải Ngoại Huyết Thư", cụ Phan bội Châu đã cảnh giác họa của tín đồ Gia tô phản quốc, nhưng vẫn giữ lòng kiêm ái để khuyên nhủ toàn dân rằng:

Suy một bụng đồng bào tương ái
Người cùng người ai hại gì nhau
Đã là đồng chủng đồng cừu,
Yêu nhau thì quyết cứu nhau phen này.
( TVQC, tr.105)

Nhưng cứu nhau như thế nào? Ta thử đi sâu vào tấm lòng nhắn gởi của Charlie Nguyễn:

3.1 Hội Đồng Giám Mục Việt Nam phải thoát ly ra khỏi quỹ đạo Vatican.

Cũng như nhiều tác phẩm nghiên cứu về đạo Gia tô La mã (Giao Điểm đã xuất bản), tác giả Charlie đã mổ xẻ khá tường tận về sự hình thành của Giáo hội quyền lực Vatican ngày hôm nay. Trong sáu chương sách của Phần Một, đã cung cấp cho người đọc một số kiến thức cụ thể. Tác giả cũng đã sử dụng phân tâm học để phân tích khá sắc bén về sự hợp tác giữa Piô XII và Hitler : Giáo hoàng Piô XII thật ra là "Hitler trong tâm" hoàn toàn giữ im lặng để thúc đẩy, khích lệ "Hitler trong hành động" tung hoành tiêu diệt Do Thái ( CG-TBVT, trang 128) - mà còn chứng minh một cách hùng hồn rằng các Giáo hoàng chỉ là những kẻ vô thần - những người không có đạo lý và lòng nhân chân thật. Bởi nếu là tôn giáo của bác ái, tình yêu thì đã không cần đến một cơ quan quân sự [Ufficio Central de Vigilanze] trang bị vũ khí cá nhân cực kỳ hiện đại và luôn luôn sẵn sàng nhã đạn bắn chết bất cứ ai khả nghi đến gần giáo hoàng mà không được phép (trang 133). Thực chất quyền lực của Vatican chính là những kẻ dấu mặt (faceless men). Họ là những chuyên viên tráo bài tráo bút ở trong và ngoài Tòa thánh. Đám người dấu mặt này nhào nặn ra quan điểm của giáo hoàng về mọi vấn đề của giáo hội và thế giới sao cho phù hợp với quan điểm của họ. (tr. 135) Thực tế vai trò của giáo hoàng chỉ là kẻ thừa hành, một máy phát biểu, đọc diễn văn và đặt bút ký lên những văn kiện đã được soạn sẵn.  Nói cho đúng thực chất, đó là chính phủ thế tục vô hình (invisible government). Và ở trong một giai đoạn nào đó, khi quyền lực vô hình có sự "hiệp thông" với tâm chất, cá tính đặc biệt của một nhân vật giáo hoàng nào đó, thì giáo hội có thể bước qua những thời kỳ khác nhau: hoặc giáo hoàng sẽ tàn bạo, quỷ quyệt hơn, hoặc thu mình lại, giả vờ phóng khoáng khiêm nhường. Đó là một sân khấu chính trị kéo dài trong hai ngàn năm phát triển Giáo hội Ca tô. Tâm chất, cá tính có thể khác nhau, nhưng trọng tâm của mỗi giáo hoàng vẫn là hướng về "quyền lợi của Cesar", cho nên "John XIII dù cũng có lòng xót thương dân tộc Do Thái đấy, nhưng quyền lực và tham vọng của Vatican vẫn luôn luôn là ưu tiên tối thượng" (tr. 131), và Paul VI dù là kẻ hòa hoãn, thân thiện với Cộng sản, nhưng lại muốn "Giáo hội Công giáo trở lại thời Trung cổ" (tr. 132). Thí dụ khác: với một tâm chất cuồng bạo, Giáo hoàng Piô XII vốn khét tiếng chống Cộng (không phải vì lý tưởng, nhưng xuất phát từ những xung động tâm lý với tinh thần cứu thế của chủ nghĩa Mác) đã từng ủng hộ chính sách của thực dân Pháp; vận động chính phủ Mỹ dội từ 1 đến 6 quả bom nguyên tử xuống Bắc Việt vào năm 1954 để giải vây cho quân đội Pháp ở Điện Biên Phủ, nhằm kéo dài sự đô hộ của thực dân, bảo vệ quyền lợi Giáo hội Ca tô trên đất nước Việt Nam [chú thích của tác giả, tr. 124].

Trên bình diện tâm lý khác, có một sự gặp gỡ "hiệp thông" từ tín lý nhồi sọ giữa giáo dân Ca tô Đức và giáo dân Ca tô Việt, nên "Giáo dân Đức Ca tô cuồng tín đã có người khấn vái Piô XII rằng  "Lạy đức Piô XII là đấng đã yêu nước Đức hết mình, xin hãy cầu cho chúng con". (tr. 128)

Sự kiện đó khác xa với tinh thần của 97% giáo dân Mỹ không còn để ý, quan tâm tới giáo hoàng (thăm dò của tờ Time tháng 8-1987), hoặc là biểu hiện cụ thể khác ở các nhà thờ vùng Bắc Mỹ, Canada người ta không bao giờ thấy có hang đá đức Mẹ Lộ Đức (Lourdes - theo lệnh của Vatican). Ngay tại bảo tàng viện Bronx ở New York, có một hàng triễn lãm tội ác của Piô XII, kèm theo một hàng chữ "Tên đồ tể Quốc xã tại Rome"; trong khi đó Giáo hội Công giáo Việt Nam trước 1975 lại lấy tên ông giáo hoàng này đặt tên cho một chủng viện ở Đà Lạt gọi là Chủng viện Piô XII (tr. 128) - nơi đào tạo những cán bộ tu sĩ truyền giáo cho Vatican.

Vấn đề đặt ra: tại sao có một sự khác biệt lớn lao và sâu xa như vậy giữa giáo dân, Hội đồng Giám mục Mỹ-Canada và Việt? Đó có phải là sự khác biệt về niềm kiêu hãnh quốc gia , ý thức dân tộc giữa họ, hay chúng ta sẽ đồng ý với nhận xét của Charlie Nguyễn : "Sự ngu dốt đần độn của tập thể giáo dân là thành đồng luỹ thép bảo vệ chẳng những giáo hoàng mà là cả Tòa thánh Công giáo La mã, thực chất là sào huyệt lâu đời nhất của bọn khủng bố quốc tế".  (tr.138)

Nếu chúng ta chấp nhận hệ luận này, thì khó lòng phủ nhận hệ luận thứ hai:

"Chỉ khi nào đông đảo giáo dân nhận ra chân tướng thật sự của bọn khủng bố quốc tế cáo già này thì cái sào huyệt của nó là Vatican mới bị huỷ diệt."  (tr.138)

 Và đó là vấn nạn "trùng trùng duyên khởi" của Giáo hội Ca tô Việt Nam, vì  "Vatican luôn luôn tìm cách xâm phạm chủ quyền quốc gia của các nước trên thế giới qua Giáo hội Công giáo bản địa mà ban tham mưu của nó là các Hội đồng Giám mục tại mỗi nước". (tr.171) Vậy để hóa giải duyên khởi oan nghiệp này, chỉ có con đường duy nhất là HĐGM Việt Nam phải thoát ly ra khỏi vòng kiềm tỏa của Vatican mà thôi.

3.2 Giải hoặc bằng con đường giáo dục.

Nhằm vào mục tiêu tạo dựng một tập thể tín đồ chỉ biết vâng lời, tê liệt trí tuệ, Giáo hội Ca tô dùng một kỹ thuật huấn luyện não trạng tín đồ thành những kẻ cuồng tín, sai lệch với chức năng của giáo dục, mà Charlie Nguyễn cho rằng "căn bản của lòng cuồng tín là sự ngu dốt".

Vốn xuất thân từ một gia đình gốc gác công giáo mấy đời, nên tác giả đã có những kinh nghiệm đối chiếu giữa tín lý Phúc âm và thực tế nhồi sọ não trạng giáo dân qua những cuốn sách Kinh nguyện đã được Việt hóa. Đó là đặc trưng trong 5 chương của Phần Hai Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm. Gần nữa cuốn sách là để mổ xẻ về đề tài "sách Kinh Công giáo và tác hại của nó". Tác giả đã phân biệt cho chúng ta thấy sự khác biệt giữa Kinh thánh và Kinh nguyện, hay bản chất đối ngịch giữa Kinh nguyện và Kinh thánh. Qua ngôn ngữ phảng phất niềm uất hận của tác giả, chúng ta sẽ kinh hoàng nhận ra chủ đích của Vatican là buộc tín đồ Ca tô từ trong vô thức đi tới sự phá bỏ đạo lý chữ Hiếu của tổ tiên như   "Lạy Chúa là cha rất nhân từ hơn Cha Mẹ thế gian bội phần" (Kinh Ăn Năn), không khác xa với nội dung Phúc âm "Ai yêu cha mẹ hơn yêu ta thì không xứng đáng với ta" (He that loveth father or mother than me is not worth of me) (trang 267-68). Trong Kinh cầu ông thánh Francisco Xavier có đoạn   "Ông thánh Phan-xi-cô phá tan đạo Bụt thần..." (tr. 275); Kinh cầu cho kẻ Ngoại  "Xin Chúa hãy mở lòng nhân từ Chúa mà che lấy lỗi những kẻ ấy xưa nay đã lạc đàng thờ lạy Bụt thần" (tr.283); Kinh Nhựt khóa "Tôi ước ao cho muôn vàn kẻ ngoại xứ này đặng bỏ Bụt thần Ma quỷ mà trở lại cùng Chúa tôi" (tr.284); Kinh dâng cõi Đông Dương (Việt-Miên-Lào) cho đức Nữ đồng trinh Maria có câu  "... Xin cho cả dân cõi Đông Dương nhớ có máu châu báo của con đức Mẹ đã đổ ra mà cứu chuộc, thảy đều nên một ràn cùng một kẻ chăn" (tr.287).

Qua nội dung của một số Kinh nguyện tiêu biểu nói trên, chúng ta nhận ra hai điều : từ đây chúng ta hiểu tại sao từ các hàng giáo phẩm công giáo luôn luôn cảnh giác giáo dân phải tuyệt đối giữ "bí mật nhà Chúa", vì nếu không những lời Kinh này mà lọt ra ngoài quần chúng người ta sẽ thấy ngay cái gian dối và sự nhồi sọ bất nhân của các kẻ chăn chiên. Thứ hai, người ta sẽ thấy rõ mục đích của nó là nhằm xóa sạch trong đầu óc tín đồ mọi tinh hoa của văn hóa dân tộc ( vốn mang sẵn truyền thống tư tưởng Tam giáo đồng nguyên ) một cách tiệm tiến qua ngôn ngữ (lời Kinh), đánh vào tiềm thức tín đồ (đó là lời Chúa) và bằng hành động (sự siêng năng cần mẫn đọc Kinh). Là chủ nhân tinh thần và hành động của tín đồ, những kẻ chủ chăn sẵn sàng đẩy "dân Công giáo đến phá Chùa cướp đất", và để vùi lấp những hành vi "lục lâm thảo khấu" này, là những bài vè được nhanh chóng tạo ra tiêm chích vào trong não trạng của đám dân nghèo hèn, như bài vè được giáo dân vùng La vang truyền tụng có câu:

"... Chốn này là chốn Chúa bà
Cho nên thần Phật Quỉ Ma kiêng dè..." (tr.183-184)

Đây là chiến thuật xâm lăng và đàn áp văn hóa các dân tộc trên thế giới khá tinh vi của Vatican, qua một tầng lớp cán bộ trung gian được mệnh danh là tu sĩ, và chúng ta chẳng ngạc nhiên chút nào khi tác giả gọi tập thể này là những "tu sĩ Việt gian". Vậy tổ quốc của họ là ai? Tác giả trả lời : "Tổ quốc của chúng là Vatican, thủ đô tổng hợp của Mafia và chủ nghĩa đế quốc La mã. Chúng xấu hổ làm người Việt Nam nên không nhận ra mình là người Dân Việt mà thường tự xưng là Dân Chúa, thực chất chỉ là công dân loại dỏm của Vatican". (tr.16) Hẳn nhiên họ không phải là những người hoạt động thuần tuý về tôn giáo, vì tổ chức của họ là một cấu trúc mang đảng-tính-chính -trị nhằm khuynh loát xã hội và áp đảo mọi thể chế chính trị, nếu cần. Charlie Nguyễn cảnh giác "Điều nguy hiểm là lực lượng chính trị này đồng nhất, đa số là những tim óc bán khai và hung hăng cuồng tín, cho nên kẻ lưu manh quốc tế ở Vatican rất dễ dàng xử dụng họ để tha hồ thao túng lũng đoạn nội bộ nước ta". (tr. 288)

Hiển nhiên là nguy hiểm, nhưng dù với tấm lòng sôi sục, tác giả vẫn còn đủ bình tâm để nhận ra rằng : "Muốn cứu những người công giáo ra khỏi bóng tối tinh thần chỉ có một giải phóng nhân đạo nhất và hữu hiệu nhất là giáo dục họ". (Công Giáo Huyền Thoại và Tội Ác , tr. 45)

Bằng sự sáng suốt, tác giả đã phân ra hai đối tượng:

- Loại thứ nhất là các tu sĩ và tập thể chính trị gia, trí thức Công giáo lưu manh : Đây là thành phần xã hội mà tác giả đã xác định là "kẻ thù nguy hiểm" và "cần phải đấu tranh diệt trừ không thể khoan nhượng". (tr.21)

Mặc dầu qua chứng minh sự kiện, lý luận chú giải, chúng ta thấy sự hợp lý của sự xác định đó, nhưng đem ra thi hành trong thực tế là một điều không tưởng, trừ một chính sách quốc gia cực kỳ sắt máu, hay một biến cố lịch sử cách mạng xã hội đẫm máu. Trong thế kỷ 21, chúng ta khó có thể hình dung đó là một giải pháp khả thi. Trong lịch sử dân tộc, qua các giai đoạn xung khắc quyền lợi "giai cấp" trong xã hội, qua các giai đoạn dân tộc bị phân hóa tàn bạo do thực dân đế quốc, ý thức dân tộc vẫn kiên định không chấp nhận một ý hệ tôn giáo độc tôn man rợ để đưa tới một cuộc chiến tranh tôn giáo đẫm máu. Chỉ có một thành phần thiểu số Ca tô La mã đã lợi dụng thời cơ nắm giữ các guồng máy chính trị, xã hội trong một giai đoạn để lũng đoạn, đầu cơ quyền lực qua cái dù che chở của ngoại nhân, để khi ngoại nhân bị đánh đuổi ra khỏi đất nước thì sự tự tung tự tác đó tan rã. Do đó, một giải pháp hợp lý nhất là những thành phần xã hội "lưu manh" này cần được đặt dưới sự "chế tài" và tuân phục luật pháp quốc gia, biết tôn trọng hiến pháp của đất nước, nếu họ còn muốn được coi là công dân Việt.

- Loại người thứ hai, theo tác giả là tuyệt đại đa số giáo dân, bị thành phần đầu não trên "lừa gạt kích động, bị xô đẩy vào những hoạt động phá hoại đất nước mà họ vô tình không biết". (tr.30) Đối với những người này, chúng tôi hết sức đồng ý với tác giả là "chúng ta cần phải đối xử vì lòng thương yêu chân thành trong tình nghĩa đồng bào". Và dĩ nhiên, biện pháp cụ thể nhất là giáo dục. Nhưng giáo dục, theo tác giả phải như thế nào? Ông viết : "Cần đem lại sự giáo dục tới tận các giáo dân bằng những bằng chứng sự thật được trình bày đơn giản, cụ thể và dễ hiểu". (tr.31)  Theo Charlie,  "không nên quá chú trọng tới các lý thuyết cao xa, như "Thuyết tạo dựng, thuyết Cứu rỗi" chẳng hạn mà nên chú trọng tới các vấn đề thông thường (nêu trong các Kinh nguyện mà giáo dân nào cũng được dạy dỗ và tụng niệm hằng ngày)". (tr.31)

Nhưng dù  cho vấn đề được nêu ra thực tiễn như vậy, nhưng tác giả cũng đã tự mâu thuẫn với mình, khi ở đoạn khác  nhận xét: "Bọn cha Cố công khai ngăn cấm giáo dân không được đọc, nếu đọc thì phải tội... nên bọn chúng đã vô hiệu hóa một cách dễ dàng tác dụng của cả các sách báo này". (tr.31)

Hay "dưới sự lãnh đạo dày dạn kinh nghiệm và vô cùng xảo quyệt của Vatican, các giáo sĩ luôn luôn có sẵn những lối giải thích lươn lẹo để hóa giải các lập luận tấn công giáo lý hay giáo hội". (tr. 31-32)

Ngày nay trên đất nước ta không còn bóng dáng các cha Cố nữa, thế nhưng thế hệ "Cha con, Cha cháu" với sự lệ thuộc và chỉ đạo từ Vatican, họ không làm được chuyện ngăn cấm tương tự hay sao? Có lẽ Charlie Nguyễn chưa từng trãi qua những thao thức ở phía những người được Giáo hội Công giáo VN coi như "kẻ thù" trước đây về một âm mưu sâu độc hơn những cuốn Kinh nguyện (vốn chỉ dành cho giáo dân) rất xa! Hay dù cho những sách báo, tài liệu "đơn giản, cụ thể, dễ hiểu" được phổ biến, thay vì những sách nghiên cứu cao hơn, thì liệu với sự ngăn cấm trên có làm cho hiệu quả khác nhau? Chúng tôi tin là không. Bởi khi một tổ chức chặt chẽ được gắn bó và sống còn nhờ vào sự cuồng tín và sùng bái của giáo dân, thì những trói buộc đầy tính vi hiến, vi luật, phi dân chủ, phi văn hóa luôn luôn là tệ nạn hiện hữu thường trực. Như vậy, một cơ chế pháp lý hữu hiệu của quốc gia vẫn là một giải pháp tối ưu.

Chúng ta từng ý thức về thảm nạn của sự cuồng tín tôn giáo trong lịch sử nhân loại, trong lịch sử dân tộc đấu tranh chống ngoại xâm, chúng ta cũng nên ý thức ngay một "biến cố" mới đang nẩy mầm trong làn sóng uất hận của những người Ca tô phản tỉnh. Charlie Nguyễn tâm sự : "Kẻ dữ hơn ai hết chính là những người Công giáo tỉnh ngộ. Một khi họ nổi giận vì hết chịu đựng nỗi, họ chỉ muốn phá sạch, đốt sạch cái giáo hội đã phỉnh gạt họ". (tr.13)

Nhưng đó không hẳn là cảm tính đột khởi từ những dằn vặt tinh thần, những xúc động qua ngôn ngữ của sách báo nghiên cứu, nó mang một ý thức tiềm tàng từ lý tưởng hành động nũa : "Tôi cố gắng làm việc hết sức mình để góp phần vào công việc "Enlightenment" này càng nhiều bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu, vì tôi sẵn sàng chấp nhận một điều bất hạnh có thể xảy đến cho bản thân, tất cả chỉ vì lòng khát khao yêu mến sự thật". (tr.24)

Những dòng chữ này như một tiếng chuông thức tỉnh lương tâm dân tộc. Những người chống Vatican, chống sự sai lầm của Giáo hội Ca tô Việt Nam không nên đọc nó với tinh thần hả hê, thỏa chí; những kẻ đang lợi dụng giáo hội cho mục đích tư kỷ, dối gạt con chiên cần phải suy nghĩ nhiều hơn nữa. Và một cơ chế chính trị xây dựng trên nền tảng dân tộc biết ý thức trách nhiệm cho sự ổn định xã hội, mang hiệu quả yên vui cho mọi người dân cần có một luật pháp về tôn giáo hữu hiệu, thiết thực, đáp ứng cho quyền lợi tối cao của dân tộc.

Hơn bao giờ hết, các bậc tu sĩ Phật giáo trong tinh thần "Thái bình nghi nỗ lực, Vạn cổ thử giang sơn", cần phải bồi đắp thêm sự tu dưỡng đạo hạnh. Đất nước chúng ta hôm nay cần những vị Quốc sư như Pháp Thuận, Pháp Loa,Vạn Hạnh, Khuông Việt..... khi thế nước lâm nguy thì ra tay phù nước, khi đất nước hòa bình thì biết hòa với hạnh phúc, niềm vui của dân chúng.

Và sau hết, để bảo vệ quyền lợi của đất nước và giáo hội, Hội đồng Giám mục VN, cần ý thức một thế đứng tự độc lập và tự chủ là phải   thoát ra khỏi quỹ đạo Vatican. Được như vậy là một đại hạnh cho dân tộc.

Nguyễn Văn Hóa
24.10.01

Chú thích:

(1) "When we speak of the Vicar of Christ, we must not quibble, we must obey; we must not... evaluate his judgements, criticise his directions, lest we do injury to Jesus Christ himself. Society is sick... the one hope , the one remedy, is the Pope" Eamon Duffy, Saints & Sinners History of the Popes, Yale Univ. Press 1997, tr. 246

(2) Sđd., như trên

(3) The God That Failed, Why 6 great writers reject communism, Richard Crossman chủ biên Nxb. A Bantam @ Fifty - 1951, tr.102

(4, 5) Sđd., các trang 148-149

(6, 7) Sđd., các trang 149, 151 "I consider that on account of its compromises Christianity is bankrupt. I have written, and I believe firmly, that if Christianity had really prevailed and if it had really fullfilled the teaching of Christ, there would today be no question of Communism - there would indeed be no social problem at all"

(8, 9) Sđd., như trên, các trang 3, 6 "There Communism, as a way of life, should, even for a few years, have captured the profoundly Christian personality of Silone and attracted individualists such as Gide and Koestler, reveals a dreadful deficiency in European democracy."  "The strengh of the Catholic Church has always been that it demands sacrifice of that freedom uncomprisingly, and condemns spiritual pride as a deadly sin".

Các sách Việt đã trích dẫn:

- Thi Văn Quốc Cấm (thời Pháp thuộc), Thái Bạch, bản in ở Taiwan.

- Việt Sử Toàn Thư, Phạm Văn Sơn, tái xb. ở hải ngoại.

Mark_03.gif (833 bytes) Về trang nghiên cứu & đối thoại tháng 5-2003

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........