-
Năm Mùi nói chuyện
Dê và … Chó
Tý, sửu, dần, mẹo, thìn, tỵ, ngọ,
mùi … Năm nay đánh dấu năm thứ tám trong chu kỳ 12 năm theo cách đếm cổ
truyền 12 chi của người Á châu chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc, kể
cả người Việt Nam chúng ta. Ở Việt
Nam, chúng ta quen gắn liền năm thứ tám với con dê, nhưng cũng có người
Trung Quốc cho rằng con trừu (cừu) mới là một biểu tượng cho năm thứ
tám. Thực ra, hai con vật này có nhiều
điểm giống nhau, nhưng cũng khác nhau về các đặc tính cơ bản. Nhưng ở đây, chúng ta đã quá quen với
con dê là năm mùi, vậy thì chúng ta sẽ bàn về con dê vậy.
Phải thú nhận rằng người viết đôi khi cảm thấy ngại ngùng khi
viết về 12 con vật mỗi khi Tết đến, vì nói cho cùng đó là một việc
làm mang tính chu kỳ, và dễ dẫn đến sự nhàm chán. Thì cũng là những đặc tính của con vật,
biểu tượng, lịch sử tiến hóa, v.v… làm đầu đề cho từng con vật
như một công thức thì quả là nhàm. Thế
nhưng năm nay thì khác. Con dê, theo người
viết có vài điều thú vị và đặc biệt hơn những con vật khác mà có
thể chúng ta chưa từng biết qua. Thành
ra, nhu cầu cho một bài về con dê vẫn có đấy.
Dê và chó là hai con vật gắn liền với văn minh nông nghiệp,
vì thế năm nay người viết sẽ bàn luôn một vài phát hiện quan trọng về
loài chó và có thể có ý nghĩa lớn đến văn minh Đông Nam Á.
Nói đến dê, ai trong chúng ta cũng nghĩ ngay đến một đặc tính
chung của người đàn ông: dê. Nhưng
“dê” là gì? Từ điển Tiếng Việt
định nghĩa dê là “đa dâm”. Theo
tôi, định nghĩa này không chính xác so với thực tế. Dê có lẽ nên được hiểu là những
hành vi ve vãn nhằm mục đích thu hút, khêu gợi, và tán tỉnh người khác
phái. Đàn ông và phụ nữ,
không ít thì nhiều, đều có những hành vi này.
Hiểu theo nghĩa này thì chữ “dê” không nên chỉ tính đàn ông,
mà còn là tính phụ nữ. Dê vì thế
không nên hiểu là một hành vi xấu, mà là một hành vi cần thiết cho sự
sinh tồn của con người.
Nhưng theo tử vi tiên đoán thì những người cầm tinh con dê chẳng
có đặc tính nào dính dáng gì đến đặc tính “dê” như trên cả. Thật vậy, tử vi cho biết những người
sinh năm mùi nói chung là những người có nhiều nghệ-sĩ-tính trong người. Họ là những người yêu văn học, nghệ
thuật, có năng khiếu làm thơ, viết văn, và hội họa. Người cầm tinh con dê, do đó, có thể
là người lịch thiêp và duyên dáng. Và
trong nhiều trường hợp, họ dùng cái duyên dáng để đạt được những
gì mà họ mong muốn. Họ là những người
không thích gây hấn, dù có thể nói nhiều về chiến tranh. Trong văn học Việt Nam, những tác gia nổi
tiếng sau đây sinh năm mùi: Phạm Nguyễn Du (1739 – 1786; nhà văn), Phan Huy
Ích (1751 – 1822; nhà văn, con rể Ngô Thì Sĩ và cháu Phan Huy Cận), Nguyễn
Khuyến (1835 – 1909; quan chức, nhà thơ), Phan Đình Phùng (1847 – 1895; nhà
thơ, chí sĩ), v.v… Trong những
người nổi tiếng ở Tây phương sinh năm mùi có thể kể đến Kevin
Costner, Robert De Niro, Bruce Willis, Mel Gibson, Nicole Kidman, Goldie Hawn (tài tử
điện ảnh); Paul McCartney, Celine Dion (ca sĩ); Greg Norman (tay chơi golf); Bill
Gates (Chủ tịch công ty Microsoft); Boris Yeltsin (chính khách) …
Nhưng theo tử vi Tây phương
(thường được gọi là tử vi Babylonians), dê là một biểu tượng cho khả
năng sinh sản dồi dào của đàn ông, và nguồn sinh lực bất tận của đàn
bà, và có ký hiệu Capricorn. Capricorn
là một vật thể có hình dáng của dê và cá.
Theo các từ điển về biểu tượng, lưỡng tính này là một truyền
thống chia vũ trụ thành hai mặt đối nghịch nhau, như đất và nước.
Theo định nghĩa khoa học, dê và cừu là những động vật thuộc dòng
họ ruminants, thức loài ăn nhai; sừng rỗng, cong quặp về phía sau; dưới
cầm có một túm lông làm thành râu. Tiếng
Việt chúng ta không có danh từ riêng để phân biệt rõ ràng từng loại
dê, nhưng tiếng Anh phân biệt dê cái (doe), thường có sừng nhỏ hơn dê
đực (buck hay goat), hay dê con (kids). Dê
và cừu có tên khoa học là “Caprini”, và từ đó mà chúng ta có một
tên khác cho dê, caprine. Dê tuy
cùng họ với cừu, nhưng chúng khác nhau: đuôi dê ngắn hơn, và sừng rỗng
hơn nhưng dài hơn và hướng lên trời; còn sừng cừu thì xoáng theo vòng
xoay. Dê có râu, cừu không có râu. Dê, nhất là dê đực, có mùi “mạnh”
và mùi này thường rất nồng trong mùa hứng tình.
Một đặc tính đáng chú ý của dê là bao tử dê có đến bốn
ngăn! Ngăn thứ nhất (rumen) là chỗ
chứa men để phân hủy thức ăn; ngăn thứ hai (reticulum) là nơi lọc ra những
cặn bã mà dê “ăn nhầm”; ngăn thứ ba (omasum) là nơi thải nước; và
ngăn thứ tư (abomasum) là nơi xử lý các thức ăn. Có lẽ vì cái bao tử đặc biệt này mà
dê có thể ăn hầu như bất cứ cây cỏ nào.
Dê thích cỏ, lá, cành con, và trái cây.
Chúng ăn những loại cây đắng, cây trồng trong sa mạc. Chúng thậm chí ăn vặt những mảnh cây
khô, dây thừng, và bông dệt vải.
Chúng là những sinh vật lanh lợi, có khả năng bay nhảy từ miếng
đá này sang miếng đá nọ, và đáp xuống với hai chân trước một cách
thoải mái. Sở dĩ dê có khả năng
như thế là vì chúng có cặp chân rất cứng cáp, được cấu trúc có thể
chịu đựng một lực lớn. Do đó,
dê rất ít khi nào bị gãy xương, và vì đặc tính này mà nhiều nhà
nghiên cứu xương trong y khoa đã dùng dê làm mô hình nghiên cứu cho bệnh
loãng xương (osteoporosis).
Có thể nói dê là một con vật gắn liền với văn hóa đồi núi. Phần lớn dê sống trong môi trường đồi
có nhiều cỏ. Chúng thường sinh sản
vào mùa thu, nhưng cũng có giống sinh sản quanh năm. Thời gian thai nghén của dê chỉ [trung
bình] 145 ngày, tức chỉ khoảng 5 tháng. Chúng
thường sinh đôi, nhưng sinh ba cũng không phải là hiếm. Sau khi sinh vài phút, dê con có thể đứng
và di chuyển theo đàn ngay.
Về tính tình, dê là con vật bình tỉnh, không có tính hốt hoảng
và không phàn nàn nếu phải sống cùng đám đông. Dê có vẻ tuân theo trật tự xã hội,
luôn tuân theo mệnh lệnh của người dẫn đầu, một đặc tính mà con người
rất thích để thuần hóa. Dê cũng là
con vật dễ nuôi (chúng có thể dùng cỏ hay cả cây khô) và không khó
tính khi chọn bạn trai / gái.
Nói chung dê là một con vật sống động, thú vị, và huyền bí hơn
con cừu. Trong quá khứ nhiều huyền
thoại, hay nói đúng hơn là hiểu lầm, về loài dê. Có người từng cho rằng dê thở qua cái
sừng, còn một số người khác thì tin rằng dê thở bằng lỗ tai!
Dê đóng một vai trò tương đối phong phú trong văn học và các câu
truyện cổ tích Tây phương. Nói
chung, trong phần lớn các truyện, dê là biểu tượng của sự lịch thiệp,
khoái cảm, “đại diện” cho nam tính và năng lực sáng tạo, trong khi đó
dê cái tượng trưng cho nữ tính và sinh lực.
Trong văn học Việt Nam, dê không được phổ biến như rắn, rồng,
hay trâu. Nhưng trong kho tàng truyện cổ
tích Việt Nam, có một truyện về một người con trai có khuôn mặt xấu
xí tên là Dàng và con dê. Dàng mồ
côi cả cha lẫn mẹ từ lúc còn bé, lớn lên trong nghèo hèn, phải chăn trâu
cho người ta để sống qua ngày. Một
ngày nọ, Dàng được một ông cụ, thấy chàng ta chịu khó làm việc, hứa
sẽ sửa sắc đẹp cho chàng để đi cưới vợ.
Ông cụ sai Dàng đi mua một con dê đực lông dài, râu dài, và sừng
cong về để ông sửa mặt cho Dàng. Ông
hy sinh con dê, lấy nguyên vẹn bộ da, còn cả móng, tai, chòm râu, và đôi
sừng. Ông bảo Dàng dồn cỏ vào tấm
da và phơi nắng đúng 100 ngày; sau đó lấy hết cỏ ra, rồi ông bào Dàng
chui vào tấm da ấy. Dàng lững thững
đi bằng bốn chân dạo chung quanh làng, và tìm một hang đá gần đồi cỏ
của nhà vua để sống qua ngày. Một
buổi sáng nọ, công chúa lùa đàn dê lên đồi cho ăn cỏ, Dàng ở trong chạy
ra đón đàn dê; thấy con dê đực xinh đẹp, đàn dê của công chúa quấn
quích chung quanh và theo dê đực đi ăn cỏ.
Chiều xuống, dê đực dẫn đàn dê về trước mặt công chúa để nàng
dẫn về chuồng. Sau nhiều ngày như
thế, công chúa để ý và nghi ngờ rằng dê đực xinh đẹp kia là con người,
và trong một dịp tình cờ, hai người đã giáp mặt nhau, yêu nhau, và … cưới
nhau.
Trong tôn giáo, dê và cừu là hai con vật được nhắc đến khá nhiều
và nổi bật. Trong Kinh Thánh Ki-tô
giáo, dê được nhắc đi nhắc lại hơn trăm lần, và cừu được nhắc đến
hơn 5000 lần. Chúng ta biết rằng ông
Abraham là tổ của ba tôn giáo thờ thiên chúa (Ki-tô giáo, Hồi giáo, và Do
Thái giáo), và cháu của ông là Job làm chủ một đàn cừu lên đến hơn
10,000 con. Có lẽ xuất phát từ văn hóa
du mục này mà những người lãnh đạo ba tôn giáo trên thường được ví
như nhưng con chiên, tức cừu non. Jesus
Christ cũng được đề cập đến như là một con chiên của Đức Chúa Trời.
Việc sử dụng dê làm vật tế thần để chuộc tội cho cả một cộng
đồng là một tục lệ phổ biến có từ thời Babylon cổ và được lưu
truyền cho đến ngày nay. Thật vậy,
theo tục lệ xưa của ba tôn giáo này, người ta thường hay giết dê để
làm vật hy sinh thờ Thiên Chúa. Danh từ
“scapegoat” (ghép từ hai chữ tiếng Anh, escape = vượt trốn, và goat =
dê) xuất phát từ tên gọi của một buổi lễ Hebrew (Yom Kippur), khi một
con dê được thả vào rừng và do đó mang theo tội lỗi của người đời. Trong Ki-tô giáo, scapegoat được dùng làm
biểu tượng của Chúa Jesus Christ chịu đau khổ để chuộc tội cho chúng
sinh trên thế giới.
Nhưng dê cũng là biểu tượng của một sự xấu xa. Chẳng hạn như khi đầu của con người
được minh hoạ bằng đầu dê là một biểu trưng cho một người xấu xa,
đê tiện. Trong kinh thánh Hebrew (Do
Thái), con dê sa'ir, được mô tả như là một người dâm dục trong Cựu Ước
(Isaiah 13: 21 và 34:14). Trong Ki-tô
giáo, dê có khi cũng là biểu tượng của sự dâm đãng, nhục dục, độc
ác, và là con vật đáng ghét, trong khi con cừu tượng trưng cho người cần
được cứu rỗi.
Trong Phật giáo, dê được đối xử nhân đạo hơn. Theo truyền thuyết, một hôm vài đệ tử
của Phật hỏi ông rằng có nên giết dê hay cừu để làm tiệc tiển
đưa người thân hay không; Phật trả lời dứt khoát: không. Ông kể một câu chuyện như sau: Ngày xưa
khi Brahmadatta còn ngự trị ở Varanasi, một giáo sĩ Bà-la-môn muốn hy sinh
một con dê để làm lễ cho người chết, ông ra lệnh cho đệ tử mang con
dê xuống bờ sông, tắm rửa nó, chải lông cho nó, quấn vào cổ một
vòng hoa, cho nó ăn thóc, và mang lại cho ông.
Trong khi các đệ tử lo chăm sóc con dê, bổng dưng nó cười lớn lên
rồi khóc thảm thiết. Các đệ tử hỏi
tại sao con dê lúc thì cười và lúc lại khóc, nó trả lời rằng hãy đem
nó về cho ông giáo sĩ. Nhóm đệ tử
đem con dê về trại cho ông giáo sĩ và tường thuật lại những hành vi lạ
lùng của con dê lúc ở bờ sông cho ông nghe.
Ông giáo sĩ lặp lại câu hỏi mà các đệ tử ông hỏi lúc còn ở
bờ sông, thì con dê trả lời rằng: “Ngày xưa tôi cũng là một giáo sĩ,
dạy kinh Vedas như ông. Tôi cũng hy
sinh dê để làm lễ cho người chết. Bởi
vì giết chết một con dê mà cái đầu của tôi đã bị cắt 499 lần. Tôi cười lớn khi tôi nhận ra rằng đây
là lần cuối cùng tôi đầu thai như một con thú để chịu hy sinh. Hôm nay, tôi sẽ được giải phóng khỏi
kiếp con thú. Nhưng tôi khóc vì biết
rằng khi ông giết tôi, ông cũng sẽ bị cắt đầu 500 lần. Tôi khóc cho ông là thế.” Nghe thế, ông giáo sĩ nói ông sẽ không
giết con dê, nhưng nó nói dù ông giết hay không giết nó thì nó cũng không
thoát khỏi cái chết ngày hôm nay. Ông
giáo sĩ hứa là sẽ bảo vệ cho nó tới cùng, nhưng con dê nói ông không
hiểu đâu vì ma lực rất mạnh. Ông
giáo sĩ thả con dê, nó bắt đầu vươn cổ cao lên tận ngọn cây gần một
hòn đá, và ngay lúc đó, một tia chớp chẻ hòn đá làm hai và cắt cổ
con dê. Phật dùng câu chuyện để lý
giải về thuyết luân hồi và khuyên con người không nên sát sinh.
Dê xuất phát từ đâu? Cũng
như trường hợp của cừu, tổ tiên của dê cho đến nay vẫn còn nằm
trong vòng nghi vấn, vì chưa ai biết đích xác tiền thân của dê là con vật
gì. Hài cốt của dê từng được phát
hiện tại các khu khảo cổ học thuộc vùng Tây Á như Jericho, Choga, Mami,
Djeitun và Cayonu. Dựa vào những hài cốt
này, các nhà khoa học ước đoán rằng thời
gian mà dê được thuần hóa xảy ra vào khoảng 6000 đến 7000 năm trước Công
nguyên. Nhưng theo một quan điểm “chính
thống”, những con dê đầu tiên sống trong vùng đồi núi ở Á châu, và
sau này bành trướng sang Bắc Mỹ, và Nam Âu châu. Đó là những kiến thức đã được đi vào
sách giáo khoa và từ điển bách khoa. Tuy
nhiên, theo một nghiên cứu khoa học mới đây gây chấn động giới nghiên
cứu súc vật thì dê là một con vật được thuần hóa ít nhất là 10,000
năm trước đây ở vùng núi Zagros thuộc Iran ngày nay [1]. Nghiên cứu này cho thấy vào thời đó
dân làng đã từng thử nghiệm nhiều cách thức khác nhau để gây giống
dê và sử dụng dê trong chăn nuôi.
Chuyện nọ xọ chuyện kia. Bây
giờ nói về chó. Tôi vẫn nằm mơ là thay vì dê có nguồn gốc từ Iran, tại
sao nó không xuất phát từ Đông Á, hay cụ thể hơn là Đông Nam Á? Chó và dê được xem là hai con vật đầu
tiên được con người thuần hóa trong văn minh nông nghiệp. Cũng như trường hợp dê, đã từ lâu, giới khoa học vẫn cho rằng
quê hương nguyên thủy của chó là ở Trung Đông, vì người ta tin rằng đây
là nơi phát triển nền nông nghiệp đầu tiên trên thế giới. Và những kiến thức như thế đã đi vào
sách giáo khoa trong đại học và trung học.
Thế nhưng, trong thời gian gần đây, nhiều nghiên cứu cho thấy hiểu
biết trên là không đúng. Ngày nay,
chúng ta biết rằng Đông Nam Á là một trung tâm văn minh của con người thời
tiền sử [2], và văn hóa Hòa Bình là một bộ phận quan trọng trong nền văn
minh Đông Nam Á. Chúng ta cũng biết rằng
quê hương nguyên
thủy của cây lúa rất có thể là ở chung quanh vùng Đông Dương - Mã Lai
- Miến Điện, vì ở đây khí hậu nhiệt đới là môi trường thuận lợi
cho việc canh tác nông nghiệp, và văn minh Hòa Bình là nền văn minh nông
nghiệp đầu tiên trên thế giới, khoảng 15,000 năm trước dương lịch
[3]. Vài ngàn năm trước Công nguyên,
cư dân Đông Nam Á đã đưa cây lúa đến vùng Đông Á và Tây Á [4].
Ngoài kĩ thuật trồng lúa và cây trái, một thành tựu đáng kể
khác của người Hòa Bình là thuần hóa một số gia súc như trâu, chó, lợn,
gà, v.v… Đông Nam Á đóng vai trò rất lớn trong việc phổ biến các gia
súc này. Trong cuốn “Origin of species”,
C. Darwin cũng từng khẳng định rằng tất cả các giống gà nuôi trên thế
giới đều có nguồn gốc từ gà hoang ở Đông Nam Á. Thành ra, trong một bài viết cho Tập san
National Geographic, W. G. Solheim II viết, “Có những miếng thịt bò được
chôn chung trong những ngôi mộ ở Non Nok Tha.
Chúng được xem như thịt của một loài bò bướu (bos indicus). Như thế đây là nơi sớm nhất trên trái
đất biết chăn nuôi gia súc ở Đông Á” [3]. Có ít nhất là hai nghiên cứu
qui mô về nguồn gốc người Trung Quốc ngày nay, và họ đi đến kết luật
rằng tổ tiên của người Trung Quốc là người Đông Nam Á di dân lên
phía Bắc [5].
Vài tuần trước đây, qua kết quả phân tích DNA trong xương chó cổ
truy tìm từ Mễ Tây Cơ, Bolivia và Peru, các nhà nghiên cứu cho rằng tất cả
các loại chó du nhập vào Mỹ châu trước thời Columbus [phát hiện Mỹ
châu] đều bắt nguồn từ các giống chó Âu-Á (Eurasian). Ngoài ra, các nhà nghiên cứu còn khẳng
định rằng tổ tiên của chó nuôi trong nhà hiện nay là loài chó sói cũng
ở vùng Đông Á, bởi vì phân tích DNA cho thấy chỉ số đa dạng di truyền
trong các loài chó ở Đông Á cao hơn nhiều so với chỉ số trong loài chó
ở Âu châu [6-7].
Dựa vào phân tích mitochondrial DNA (sưu tầm từ lông của 654 chó), một
chất liệu di truyền có lợi điểm hơn DNA [8], các nhà khoa học tại
Hoàng gia Học viện Công nghệ ở Stockholm (Royal Institute of Technology in
Stockholm) ước đoán rằng thời điểm mà chó được thuần hóa vào khoảng
15,000 năm đến 40,000 năm về trước. Thời
điểm 40,000 năm dựa theo giả định rằng tất cả loài chó được thuần
hóa từ một con chó sói duy nhất, và rõ ràng là giả định này khó mà chấp
nhận được, cho nên các nhà khoa học chọn con số 15,000 năm là đáng tin
cậy và có cơ sở nhất.
Như đề cập trên, thời điểm phát triển nông nghiệp được ước
đoán qua nghiên cứu của W. G. Solheim II (15,000 năm) trùng hợp với thời
điểm thuần hóa loài chó mà các công trình nghiên cứu này ước đoán. Tất cả các dữ kiện trên đây cho thấy
chó gia dụng ngày nay ở Mỹ có thể xuất phát từ Đông Nam Á.
Do đó, có thể giả thuyết năm mơ dê xuất phát từ Trung Đông là một
giả thuyết cần được xét lại. Người
viết bài này không ngạc nhiên nếu một nghiên cứu dựa vào phân tích DNA
trong tương lai cho thấy dê xuất phát từ Đông Á hay cụ thể hơn là Đông
Nam Á.
Một mô hình có thể phát triển dựa theo ý của Stephen Oppenheimer [2]
như sau: khoảng 8000 năm về trước, do nạn Đại hồng thủy làm chìm đắm
lục địa Đông Nam Á, cư dân phải di tản đi các vùng đất khác để sống. Họ chính là những người gầy dựng nên
nền văn hóa Tân Đồ Đá của Trung Quốc, Ấn Độ, Lưỡng Hà, Ai Cập và
vùng đông Địa Trung hải, và do đó, họ là những người cha đẻ và vun
đắp các nền văn minh vĩ đại ở phương Tây.
Nếu mô hình này đúng, và cùng với các dữ kiện thực từ nghiên cứu
khoa học gần đây, thì nguồn gốc gia súc như chó và dê, ở Mỹ châu hay
Âu châu hiện nay xuất phát từ Đông Nam Á tưởng không phải là một giả
thuyết quá xa hoa. Giả thuyết thôi
nhé! J
Tài liệu tham khảo:
[1] Zeder MA, Hesse B. The initial domestication of goats (capra hircus)
in the Zagros Mountains 10000 years ago. Science
2000; số 287, trang 2254-2257.
[2] Xem Eden in the East: the Drowned Continent of Southeast
Asia, của Stephen Oppenheimer, Nhà xuất bản Phoenix (London), 1998.
[3]
W. G. Solheim II. New light on
a forgotten past. National Geographic, Volume
139, Number 3, 1971. Trích đoạn trong bài
viết quan trọng này, “Theo truyền thống, người ta cho rằng trong thời
kỳ tiền sử, kỹ thuật miền Đông Nam Á là kết quả của những làn
sóng di dân từ phương Bắc mang đến. Riêng
tôi cho rằng văn hóa nguyên thủy thời đồ đá mới Ngưỡng Thiều
(Yangshao) ở Trung Quốc mà người ta biết đến chính là kết quả của một
nền văn hóa tiền Hòa Bình đã di chuyển từ miền bắc Đông Nam Á lên
phía bắc vào khoảng 6000 hay 7000 năm trước Công nguyên.”
[…]
“Văn hóa Long sơn
(Lungshan) vẫn được xem là phát triển từ Ngưỡng Thiều, […] thực ra là
đã [được] khai sinh ở Nam Trung Quốc và di chuyển lên phía Bắc. Cả hai nền văn hóa này đều bắt nguồn
từ gốc văn hóa Hòa Bình.”
[4]
Chesnov Ja. V. Dân tộc học
lịch sử các nước Đông Nam Á. 1976. (Trích
dẫn theo Trần Ngọc Thêm, “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam”, Nhà xuất
bản Thành phố Hồ Chí Minh, 2001.
[5] J. Y. Chu và đồng nghiệp, Genetic relationship of populations in China, Proc.
Natl. Acad. Sci, USA 1998; 95:11763-11768; Bing Su và đồng nghiệp, Y-chromosome evidence for a northward migration of
modern humans into eastern Asia during the last Ice Age, American Journal of Human Genetics, 1999, 65:
1718-1724; và bài tóm lược của Nguyễn Văn Tuấn, “Cần đặt lại vấn
đề nguồn gốc dân tộc Việt Nam”, Thế Kỷ 21, số tháng 7, năm 2002.
[6] Peter Savolainen, Ya-ping
Zhang, Jing Luo, Joakim Lundeberg, and Thomas Leitner. Genetic Evidence for an East Asian
Origin of Domestic Dogs. Science Nov
22 2002: trang 1610-1613.
[7] Jennifer A.
Leonard, Robert K. Wayne, Jane Wheeler, Rẳl Valadez, Sonia Guill鮬 and Carles VilAncient DNA Evidence for Old World Origin of New
World Dogs. Science Nov 22 2002: trang
1613-1616
[8] Không như DNA nằm trong nhân của
tế bào, Mitochondrial DNA (mtDNA) nằm ngoài nhân của tế bào. MtDNA chỉ lưu truyền trong giống cái (ví
dụ như từ mẹ sang con gái) do đó chúng rất có ích trong việc trùy tìm
những mối quan hệ di truyền giữa các nhóm sinh vật. Tuy nhiên, mtDNA có hai nhược điểm: (i)
mtDNA có nhiễm sắc rất nhỏ, chỉ khoảng 16500 mẫu tự (tức chỉ khoảng
16 kilobases); và (ii) sự phân phối của các mẫu tự cũng không đồng đều. Những nhược điểm này chỉ ảnh hưởng
đến nghiên cứu bệnh tật, nhưng không mấy ảnh hưởng đến việc truy tìm
nguồn gốc của một sinh vật.
Home | Go top page |
Về trang mục lục