Thank You, Peter Arnett!
Cuộc
đời làm phóng viên chiến trường của Peter Arnett lúc nào cũng đầy sóng
gió. Trong chiến tranh Iraq vừa qua, Peter Arnett bị hãng thông tấn NBC sa
thãi vào ngày 31 tháng Ba, về tội dám lên đài truyền hình Iraq công khai
chỉ trích chiến thuật quân sự của Mỹ. Tuy nhiên chỉ một ngày sau, nhật
báo Daily Mirror ở Anh thâu dụng Ông làm phóng viên chiến trường. Tờ
Mirror quảng cáo là Peter Arnett bị mất việc vì dám nói lên sự thật và
nhật báo Mirror thâu dụng Arnett vì muốn cho độc giả Anh thấy được những
diễn biến thật sự tại Iraq. Không như các phóng viên khác sống chung với
các toán quân Mỹ, nên tầm nhìn có giới hạn, hay các phóng viên cò mồi
của hãng thông tấn Fox của Murdoch, loan tin chiến trường từ các thông
cáo báo chí ở trung tâm hành quân ở Qatar, Arnett và môt số ít phóng viên
khác đã sống tại thủ đô Baghdad như ông đã làm trong cuộc chiến vùng
vịnh thứ Nhất vào năm 1991và chứng kiến những tàn phá của kỹ thuật
vũ khí high tech của Mỹ. Bộ tham mưu của TT Bush (Con) sợ Peter và một số
các phóng viên độc lập khác có thể loan những tin bất lợi cho chiến
tranh “giải phóng Iraq” như Arnett đã gây cho cựu TT Bush (Cha)...
Trong chiến tranh Việt Nam, Peter Arnett và một
số phóng viên Mỹ trẻ khác mà báo chí Mỹ gọi là “Young Lions” như
David Halberstam, Neil Sheehan, nhiếp ảnh viên Eddie Adams và Malcolm Browne đã
khiến cái nhìn cho dân Mỹ về chiến tranh Việt Namđổi khác. Các phóng
viên và nhiếp ảnh gia này sau đó đều được giải thưởng Pulitzer về báo
chi, Khi còn làm phóng viên ở Saigòn, Peter có cảm tình với cuộc tranh đấu
1963 của Phật Giáo. Peter Arnett đã bị mật vụ hành hung gần chùa Kỳ
Viên. Nếu không nhờ các phóng viên Mỹ khác, nhất là David Halberstam, giải
cứu có lẽ ông đã bị nhừ đòn. Không những bị mật vụ Việt Nam hành
hung, mà Arnett còn bị quân cảnh Mỹ chỉa súng vào đầu đuổi đi không
cho tường thuật vụ biểu tình mà trong đó nữ sinh Quách Thị Trang bị cảnh
sát bắn chết. Peter Arnett thuật lại là khi tổng thống Kennedy phái Ðại
Sứ Lodge sang Việt Nam để giải quyết “Vụ Phật Giáo”, khi Lodge vào
tòa Bach Cung để nhận chỉ thị, ông Tân Ðại Sứ thấy trên bàn làm việc
của Kennedy có một tấm ảnh của Thích Quảng Ðức đang tự thiêu. Kennedy
chỉ vào bức ảnh và nói: “Hãy nhìn bức ảnh này. Ông (Lodge) đến Việt
Nam xem chuyện gì đang thực sự xảy
ra. Tôi tin tưởng vào ông. Tôi muốn ông đến đó để xem có cách nào để
chánh phủ (Diệm) cư xử với dân chúng tốt hơn không”. Nếu không nhờ
các phóng viên trẻ có lương tâm, có lẻ “vụ Phật Giáo” đã bị chìm xuồng. Thank you, Peter!
Tuy nhiên nhờ các bài tường thuật về biến
động tết Mậu Thâ mà, Peter Arnett tiếng nổi như cồn. Ông là phóng viên
Mỹ đầu tiên đến chứng kiến trận đánh ở Toà Ðại Sứ Mỹ và quan
trọng nhất là một phóng viên chứng kiến tận mắt mức tàn phá tại
thành phố Bến Tre. Ông đã là tác giả bài báo nhan đề ‘It became
necessary to destroy the town to save it”. Nhan đề này đã gây một tiếng vang
lớn và xuất hiện trên hầu hết các báo trên thế giới lúc bấy giờ. Tổng
thống Johnson đã ra lịnh cho Bộ Tư Lịnh Mỹ ở Việt Nam gởi một phái
đoàn quân sự đến tận Bến Tre để điều tra tông tích của vị Thiếu
Tá Mỹ đã phát biểu ý kiến trên. Johnson cũng đã nhiều lần áp lực
hãng thống tấn Associated Press sa thãi Arnett. Các bài báo của Arnett đã cho
dư luận Mỹ thấy được những tàn phá của chánh sách lùng và diệt của
tướng Westmoreland và là một trong những yếu tố khiến dư luận Mỹ đổi
chiều. Chỉ một thời gian ngắn sau Mậu Thân tướng Westmoreland được triệu
hồi về ngồi chơi xơi nước trong chức vụ Tham Mưu Trưởng Lục Quân
(Kicked upstairs) và cũng chỉ một thời gian sau, TT Johnson tuyên bố không ra
ứng cử Tổng Thống một nhiệm kỳ nữa. Quan trọng nhứt là sự chuyển
hướng của dư luận Mỹ về chiến tranh Việt Nam. Nói như Halberstam, vào năm
1968, dân chúng Mỹ chưa trở thành Bồ Câu, nhưng không còn là những con diều
hâu nữa.
Vì nhắc lại câu nói của Peter Arnett “It
became neccesary to destroy the town to save it” trong bài pháp thoại tại
Riverside Church sau ngày 11 tháng 9 mà Thấy Nhất Hạnh bị ăn đòn hội đồng.
Anh em Giao Ðiểm đã phản ứng qua tác phẩm nhiều người viết, “Bản Chất
Các Phản Ứng Về Bài Giảng Của Thầy Nhất Hạnh”, tôi không còn gì để
nói thêm. Tôi cũng không quan tâm đến đám chống cộng fundamentalists mà
óc não nhiều chất vàng hơn chất xám, nhưng thú thực có hơi buồn bực về
một nhóm sư tử trùng đã hùa theo đám Liên Tôn tố cáo thầy Nhất Hạnh
là “xuyên tạc lịch sử.” Sát giới là sát giới. Không có tuy nhiên,
vì bởi, nhưng mà gí cả. Tôi đã nghe một sa môn đã hô hào diệt những
kẻ ác và nói là diệt kẻ ác không phạm sát giới! Gần đây một sa môn
khác đứng ra hô hào ủng hộ chiến thuật đánh trước của TT Bush. Những
con sư trùng này buổi sáng hô hào chiến tranh, tuyên bố ủng hộ Bush và
hy vọng Mỹ bỏ thêm cluster bomb xuống đầu dân Iraq, buổi chiều về tụng
kinh Pháp Hoa hay Bát Nhã để nhờ “phép Phật nhiệm mầu, để mau ra khỏi
luân hồi!” Thiếu trí tuệ và từ bi, muốn giải thoát cũng giống như muốn
mài ngói thành gương! Không có ai phá được chánh pháp, chỉ có sư tử trùng
mới ăn được sư tử nhục. Những ước vọng của thái Hư Ðại Sư từ
đầu thế kỹ trước cũng như mơ ước của Phong Trào Chấn Hưng Phật Giáo
vào các năm 32 vẫn còn nguyên vẹn là những ước mơ! Cái gọi là chiến
tranh công chính không có trong kho tàng từ ngữ của Ðạo Phật và nhất
là Ðạo Phật không chấp nhận một cuộc thánh chiến của các crusaders. Nếu
không cứu nổi những người trầm luân vì cộng nghiệp, không nên cổ vỏ
và hoan hô những cuộc giết người tập thể. Sau đây là lời của chứng
nhân Peter Arnett tại Bến Tre và khi đọc xong, độc giả thấy rõ ai mới
là người xuyên tạc lịch sử.
Quán Như
It Became Necessary to Destroy
The Town to Save It
Cuộc tổng công kích Tết
Mậu Thân không những chỉ xảy ra ở Sài Gòn mà còn xảy ra ở 36 tỉnh lỵ
và 64 quận lỵ khác. Các du kích Cộng Sản từ rừng sâu và đồng lúa, lẻn
qua các vòng đai của lực lượng phòng thủ của quân đội VNCH, trà trộn
vào các khu đông dân cư. Mới một vài ngày trước đó, viên chỉ huy chiến
dich bình định phát triển Mỹ, Rober Komer, khoe với báo chí là quốc lộ
1, từ Sai Gòn đến vùng phi quân sự (Quảng Trị), biên gìới giữa hai miền
Nam Bắc, đã được khai thông. Khi tôi gặp tướng John Paul Vann (Xin xem The
Bright Shining Lie của Neil Sheenan) ở Biên Hoà một vài ngày sau vụ Mậu
Thân, tướng Vann nói đùa là “quốc lộ đã khai thông nhưng nên cẩn thận
vì các thành phố lớn nhỏ dọc theo quốc lộ vẫn còn nguy hiểm lắm.”
Các bản tường
thuật (của các phóng viên khác) cho biết là các vùng quê bị phá hủy một
cách không tiền khoáng hậu. Nhiếp ành gia Eddie Adams (người đã chụp bức
hình Loan xử tử một tù bình Việt Cộn ở Chợ Lớn) đến viếng các
tình Mỹ Tho và Vĩnh Long ở vùng đồng bằng châu thổ sông Cửu Long, và
trở về với những hình ảnh của các trận đánh. Anh bảo tôi: “Tàn
phá kinh hoàng, ông ơi. Các khu nhà đổ nát vẫn còn bốc khói. Dân chúng
yên lặng và họ nhìn chúng ta, người Mỹ, một cách giận dữ. Họ không
muốn thấy mặt chúng ta ở dưới đó vì bom và trọng pháo nã từ các
tàu chiến.” Tôi muốn thấy tận mắt những cảnh tượng này. Vào ngày 7
tháng Hai, tôi vá một số các phóng viên khác leo lên một chiếc máy bay vận
tải Caribou đến viếng Bến Tre, tỉnh lỵ của tỉnh Kiến Hòa, một thành
phố yên lặng trong hệ thống sông lạch chằng chịt của sông Cửu Long,
mõm đất cuối cùng trước khi ra biển Nam Hải. Kiến Hoà được xem như là
một tỉnh tiêu chuẩn để đo lường sự hữu hiệu của chánh sách chống
du lích của Mỹ cũng như khả nang chiến đấu của chánh phủ. Tôi đã đến
đây vào tháng Giêng trước khi cuộc tổng công kích Mậu Thân bắt đầu.
Chiếc máy
bay vận tải ồn ào cất cánh trong không khí trong lành buổi sáng trong chuyến
bay 20 phút. Tôi để ý thấy phi cơ bay trên một cao độ chừng 600 thước,
có thể dễ dàng là mục tiêu bắn sẻ của các du kích bên dưới. Thông
thường các phi công bay là đà ở ngọn cây hay cao khỏi tầm bắn của
các loại liên thanh. Dick Swan, một phóng ảnh viên của tạp chí Life, buộc dây an toàn của một ghế ngồi cạnh
tôi, làm dấu hiệu đưa dao cắt cổ khi anh nhìn phía dưới từ cửa sổ
phi cơ. Mười phút sau có tiềng nổ lớn
trong ca-bin hành khách. Người phi hành trưởng đứng ngay cửa vào phòng
lái tự nhiên ngã quỵ xuống. Ai cũng nghĩ là ông ta bị trúng đạn. Người
phi công quay đầu ngó lại, lượng giá tình hình trong khi phi cơ sà xuống
thấp một cách nguy hiểm.
Tôi nghĩ
ngay là phi cơ đã bị liệt máy và sắp sữa rớt. Tôi ngó nét mặt của
các bạn đồng nghiệp, người nào người nấy lo sợ ra mặt. Chỉ có
phóng viên Jack Foisie của tờ Los Angeles Times, hói đầu sớm hơn tuổi, la lớn
“Yahoo” mỗi khi vui cũng như gặp nguy hiểm. Tiếng la của anh hòa lẫn với
tiếng động cơ. Nhưng may bay lấy lại được thăng bằng và tiếp tục
bay về hướng Bến Tre. Té ra là viên phi hành trưởng chỉ bị ngất xỉu.
Một vài
chiếc xe jeep đang đậu ở phi đạo gần hàng dừa đã cháy xém ngọn,
đang chờ để đưa chúng tôi vào tỉnh lỵ. Tuy nhiên tôi để các bạn đồng
nghiệp đi trước và một mình đi bộ về phía một tháp kiểm soát thông
lưu bằng gỗ gần phòng đợi phi trường, nơi tôi đã gặp khuôn mặt quen
thuộc của thiếu tá Chester L. Brown, một sĩ quan không quân đã chở tôi
trên chuyến bay thám thính L-19 trong lần thăm viếng trước. Brown đồng ý
chở tôi vào tỉnh lỵ bằng xe jeep riêng. Ông ta cảnh cáo là tôi sẽ bị
sốc trước những gì mà tôi sắp sữa thấy, vì Bến Tre đã bị tàn rụi
và nhiều thường dân bị thiệt mạng. Ông ta nói; “Chỉ tội nghiệp thường
dân. Trong những lúc tranh tối tranh sáng, lộn xộn kinh hoàng như thế này,
họ không biết đâu là bạn, đâu là thù. Họ không biết phải trú ẩn chỗ
nào. Một số vũ khi chúng ta dùng là vũ khí tàn phá một khoảng rộng,
không phải vũ khí nhắm vào những mục tiêu cá nhân đặc biệt nào. Vì vậy
mà họ bị tổn thương.”
Ở ngoại
ô tỉnh lỵ, những hàng dừa tơi tả, ngọn cháy rụi, và các căn nhà tư
nhân cũng như các tiệm buôn cháy nám đen. Khi chúng tôi lái xe qua con đường
về phía khu thương mại chính của thành phố, Thiếu tá Brown nói là ông
dùng con đường này như một dấu mốc để kêu máy bay dội bom vào ban đêm.
Ông nói là đèn đường không bao giờ tắt.
Chúng tôi
đi qua những toà nhà hai hay ba từng, trước đây dùng làm văn phòng, nay chỉ
lại mấy bức tường. Chợ Kiến Hoà trước đây đẹp đẽ, nơi mà tôi
đã mua sầu riêng và khế ba tuần trước đây, nay chỉ còn là đống gạch
vụn. Chúng tôi đến toà hành chánh tỉnh
dọc theo bờ sông nơi mà toán 93 cố vấn quân sự Mỹ đang phòng thủ sau
những bao cát. Tư dinh của vị tỉnh trưởng và trung tâm hành quân chiến
thuật cũng được bảo vệ tương tự qua sân cỏ chung quanh. Từ một bãi
đáp bằng gỗ (dành cho trực thăng), tôi nhìn qua bên kia sông. Các căn nhà
lá trước đây san sát nhau trên con đường chừng 3 cây số, đã bị cháy
thành than. Các căn nhà lụp xụp mà những người cùng đinh cắm dùi ở
phía Tây và phía Bắc thành phố cũng đã trở thành bình địa, chỉ còn
là đống tro vụn bùi nhùi.
Tôi hỏi
viên chỉ huy của toán cố vấn quân sự là có bao nhiêu thường dân bị
thiệt mạng. Ông ta đoán là có từ 500 đến 1 ngàn người. (Tuy nhiên ông
nói tiếp là) “rất khó biết đưọoc con số nạn nhân chính xác, có nhiều
gia đình bị chôn vĩnh viễn dưới đám tro vụn đó”. Tôi gặp viên chỉ huy này trước đây và
tôi thích anh ta, Tôi hỏi ông ta tại sao trong một thành phố có 35 ngàn
dân (Thầy Nhất Hạnh nói sai chi tiết này-300 ngàn dân), mà tại sao số thường
dân thiệt mạng lại quá nhiều như vậy. Ông ta ngó sổ tay của tôi, lắc
đầu và trả lời: “Không một ai trong chúng tôi có thể đế cập đến
chuyện này. Chúng tôi không thể chỉ trích quân đồng minh Việt Nam của
chúng tôi, nhất là trong lúc (hỗn loạn) như thế này.”
Các sĩ quan
đứng quanh cũng phụ họa đồng ý. Tôi
làm một cử chỉ tượng trưng, bỏ viết vào túi áo và bỏ sổ tay vào
túi quần. Tôi nói: “Các anh biết tôi quá rõ. Tôi đã từng xuồng đây
nhiều lần, các anh cứ nói cho tôi biết và hãy tin tôi. Tôi không bao giờ
trích dẫn những gì các anh nói có thể làm thiệt hại đến các anh. Tôi
không bao giờ làm vậy. Phần lớn các sĩ quan trở lại vị trí của họ
nhưng viên chỉ huy ở lại chuyện trò, và trong buổi sáng tôi đã phỏng vấn
được một số sĩ quan khác khi uống cà phê hay đi quanh trong căn cứ với
họ.
Từ đó
tôi đã hình dung ra sự hỗn loạn và thiếu hiệu nằng của hệ thống
phòng thủ tỉnh lỵ. Cũng như ở Sài Gòn, các du kích quân Cộng Sản lén
lút xâm nhập vào thành phố và bất ngờ tấn công vào các quân sĩ trú
phòng vốn thiếu chuẩn bị và chỉ còn lại hơn phân nửa vì phân nửa
kia đã đi nghỉ phép. Quân du kích cộng sản đã kiểm soát được khu dân
cứ và thương mại vào lúc hừng đông. Toà hành chánh, kể cả khu của
các cố vấn Mỹ, và các đồn quân sự của quân đội Việt Nam bị đe dọa
tràn ngập. Các vị chỉ huy quân sự quân trú phòng miễn cuỡng không chịu
phản công. Một vị thiếu tá Mỹ phòng thủ căn cứ cố vấn quân sự Mỹ
cho tôi biết là quyết định dùng hỏa lực mạnh để phản công quân du
kích không phải là một quyết định dễ dàng. Ông nói: “Các quân đội
bạn đang ở đó và chúng tôi chờ đến khi không có chọn lựa nào khác hơn.
Chỉ huy truởng tiểu khu phải kêu máy bay oanh kich căn nhà của một người
láng diềng đã bị quân Cộng sản dùng đó làm nơi trú ẩn. Các vị trí
của chúng tôi bị đe dọa, trung tâm hành chánh sắp sữa bị tràn ngập.
Ðến lúc cần thiết phải phá huỷ thành phố để cứu nó”.
Một viên
đại úy Mỹ nói là lúc đầu Bộ Tư Lịnh quân khu ở Cần Thơ ngần ngại
không chịu ra lịnh dùng hỏa lực mạnh để oanh kích các địa điểm
trong thành phố. Ông nói: “Chúng tôi phải cải nhau với họ nhưng bộ tư
lịnh không thích đề nghị này. Cuối cùng khi chiến thuật này đưọc chấp
thuận, các chiến đấu cơ bay đến thả bom Napalm và các bom hạng nặng,
sau đó tới phiên trực thăng và pháo binh oanh kích.”
Một trung
úy Mỹ chứng kiến vụ oanh kích nói với tôi: “Chỉ có khu cố vấn quân
sự Mỹ, toà hành chánh tỉnh và bịnh viện là không bị oanh kích. Cò các
nơi khác được xem là những khu oanh kích tự do.” Cuối cùng lính Mỹ từ
sư doàn 9 vào Bến Tre và tái chiếm thành phố sau hai ngày chiến đấu.
Khi chúng
tôi lái xe trở lại phi đạo, tôi cũng hứa với thiếu tá Brown như đã hứa
với các sĩ quan khác. Tôi sẽ không trích dẫn những gì mà ông nói có thể
làm hại đến binh nghiệp của ông. Ông ta cám ơn. Không phải tất cả đều
tệ hại. “Ðáng lẽ ra còn có thêm nhiều thường dân vô tội khác bị
chết oan. Tôi nghĩ là tôi đã cứu hàng trăm thường dân vô tội.” Ông kể
với tôi và vào buổi sáng, ông được lịnh hướng dẫn các cuộc oanh
kích. Chính ông đã yêu cầu maý bay ngưng oanh tạc một mục tiêu mà ông
được báo cho biết là có “hàng
ngàn quân cộng sản đang trên đường rút lui về hướng Bắc của thành
phố”. Tuy nhiên khi ông bay chiếc máy bay thám thính là đà trên “mục
tiêu”, ông thấy phần lớn trong đoàn người di tản là phụ nữ và trẻ
con, lếch thếch ôm chăn nệm và các vật dụng trong nhà, tìm cách thoát khỏi
những căn nhà của họ đã bị cháy rụi. Ông nói: “Có thể có một số
du kích quân cộng sản trong đoàn người đó, nhưng phần lớn họ là các
dân tỵ nạn và tôi không thể nào kêu các phi cơ đến dội bom napalm trên
đầu họ được. Cuối cùng tôi gọi (tổng hành dinh) hủy bỏ cuộc oanh
kích đó.
Trong chuyến
bay trở về Sài Gòn, tôi suy nghĩ về những gì đã nghe và thấy ở Bến
Tre. Câu nói: “Ðến lúc cần thiết phải phá huỷ thành phố để cứu vãn
nó” đưọc ghi trong sổ tay của tôi, phản ảnh mối nan giải chủ yếu
trong trận Mậu Thân. Chánh quyền không những phải chiến thắng du kích
quân Cộng sản, mà còn phải bảo vệ dân chúng. Tại văn phòng của cơ
quan AP, tôi ngồi trước máy đánh chữ hàng giờ, cuối cùng tôi bắt đầu:
“Ðến thời điểm nào thì anh dùng các loại súng nặng và các phi cơ chiến
đấu để oanh tạc các con đưòng trong thành phố của mình? Khi nào thì việc
gây thương vong cho thường dân vô tội không còn là một vấn đề quan trọng
miễn là đánh bai được kẻ thù? Câu hỏi này đã được trả lời một
vài giờ sau của trận đánh Bến Tre, một thành phố lặng lẽ bên bờ
sông Mekong với 35 ngàn dân (Thầy Nhất Hạnh lỡ lời nói là 300,000 dân) Một
viên thiếu tá Mỹ nói là: “đã đến lúc cần thiết phải phá hủy
thành phố đẻ cứu vãn nó.” Các cuộc oanh kích hủy diệt thành phố
này kéo dài 50 tiếng dồng hồ.
Tôi viết một
bản tin 8 trang đến 3 giờ sáng và cho một người phụ trách telex và sau họ
chuyển trực tiếp bản tin này cho văn phòng quôc ngoại của AP ở New York.
Sau đó tôi nằm xuống ngủ ngay trên một giường nhỏ trong văn phòng của
người phóng viên trưởng,Tuckman, cho đến khi anh ta vào làm việc buổi
sáng. Vào chiều hôm đó Tuckman nhận được một cú điện thoại từ một
nhân viên phòng Thông Tin Mỹ, yêu cầu tôi cho biết tông tích của người
Thiếu Tá đã bình phẩm câu trên, mà tôi đã nhấn mạnh trong bài báo. Dĩ
nhiên là tôi bác bỏ lời yêu cầu này ngay tức khắc, vì từ trước đến
nay tôi vẫn bảo vệ tông tích của những người đưa tin, đứng theo như
yêu cầu của họ.
Ðây là dấu
hiệu đầu tiên cho thấy câu chuyện của tôi sẽ còn gây ra nhiều tranh luận.
Ngày hôm sau, văn phòng phụ trách phóng viên ở ngoại quốc cho tôi biết
là câu nói do tôi trích dẫn đã vang dội đến báo chí Anh, đến Seoul, Nam
Hàn và trở thành một đề tài cho các mục bình luận trên báo chí Mỹ.
Một người
thư ký của Barry Zorthian (Trưởng Phòng Thông Tin Mỹ ở Sài Gòn) nói là
trong các điện tín nhận được, Tổng Thống Johnson yêu cầu tìm ra tông
tích của người Thiếu Tá nói câu đó. Một vài ngày sau một phóng viên của
tờ Wall Street Journal, Peter Kann, nói với tôi là anh ta thấy một máy bay chở
đầy các sĩ quan cao cấp Mỹ đã đáp xuống Bến Tre khi anh tới đó săn
tin, đòi hỏi tên của vị thiếu tá kia.
Ít nhất
các viên chức chỉ huy quân sự tin là viên Thiếu Tá bình luận như trên
có thật. Một vài phóng viên đồng nghiệp của tôi tỏ ý nghi ngở câu
bình phẩm này. Phóng viên Bill Touhy của tờ Los Angeles Times sau khi viếng Bến
Tre, viết là có nhiều người nghi ngờ câu bình luận có thể trơn tru như
thế và mỉa mai dẫn một câu nói của một cố vấn dân sự Mỹ nói câu
này “văn hoa’ hơn là một câu phát biểu tại chỗ của một sĩ quan
trong lúc dầu sôi lửa bỏng . Tuy nhiên cơ quan thông tấn AP không hề tỏ
ý nghi ngờ gì vế câu trích dẫn của tôi.
Một vài
tuàn lễ sau đó, tôi trở lại Bến Tre và thấy không có gì thay đổi mấy.
Thành phố vẫn còn hoang tàn đổ nát. Có ít người nào chịu để cho phóng
viên trích dẫn đích danh. Một vài sĩ
quan mà tôi đã trò chuyện trước đây, lo lắng hỏi là có ngưòi nào
trong nhóm họ chịu trách nhiệm về lời phê bình nổi tiếng mà tôi đã
trích dẫn không, tuy nhiên tất cả đều nói lời phê bình đó diễn tả
đúng cảm tưởng của họ lúc đó. Họ nói là lời phê bình đó đã trở
thành tiếng xấu trong hàng ngũ quân đội và cuộc đời binh nghiệp của họ
kể như tàn nếu tông tích của họ bị tiết lộ.
Nhà bỉnh
bút Joseph Alsop nhảy vào chỉ trích lời phê bình mà tôi trích dẫn về trận
đánh ở Bến Tre. Ðiều này không có gì đáng ngạc nhiên vì ông này
không bỏ lở một cơ hội nào để chỉ trích đám phóng viên Mỹ đang
săn tin ở Sài Gòn. Ông ta nói chúng tôi ở trong thế gân gà, nuốt cũng không
xong mà nhả cũng không xong. Nếu Mỹ thua chúng tôi sẽ phạm tội là đã
đồng lõa với kẻ thù. Còn nếu Mỹ thắng, thì chúng tôi bị chế nhạo
là ngu xuẩn.
Quan điểm
của Alsop về một trận chiến mà y chỉ thỉnh thoảng đến thăm và lần
nào cũng tháp tùng với các viên chức dân sự hay quân sự cao cấp, khác với
những bản tin của chúng tôi, nên không ai thèm để ý đến ông ta. Tôi gặp
Alsop trong một bữa ăn tối do Ðại Sứ Ellsworth Bunker khoản đãi một vài
phóng viên Mỹ. Bunker mới được bổ nhiệm vào một năm trước đó. Nhà bỉnh bút này cũng được mời và y
ngồi nhắp rượu chát, không có vẻ gì là hào hứng.
Sau khi tôi
đưa vài nhận xét về tình hình quân sự, Alsop ngó tôi từ phía bên kia
bàn và nói: “Thì ra anh là phóng viên đã bịa đặt ra lời phê bình thời
danh đó, phải không?” Tôi không quen với những thủ tục đối xử với
thượng khách trong giới trưởng giả của Alsop, nhưng tôi biết tôi phải
làn gì. Một lời chỉ trích trực tiếp cần một sự trả đũa trực tiếp,
như tôi đã học được từ thuở bé. Tôi kéo ghế đứng dậy, đi vòng
qua phía nên kia bàn, bàn tay phải nắm chặt, đe dọa. Tôi nghe tiếng cuời
phụ hoạ của các quan khách trong tiệc.
Alsop đứng
dậy không vững. Có lẽ ý đã thấy được nét giận dữ trong mắt tôi.
Trước khi tôi còn chưa quyết định có nên đấm Alsop một quả hay không,
Ðại Sứ Bunker đứng chắn ngang giữa hai người. Ông ta nắm vai tôi chận
lại và ra lịnh: “Peter trở lại ngồi lại chỗ cũ.” Và ông quay qua
Alsop và nói: “Và Joe, suỵt suỵt, im miệng lại.”
Tổng thống
Johnson bổ nhiệm tướng Westmoreland làm tư lịnh lục quân vào ngày 23
Tháng Ba, 7 tuần lễ sau trận Mậu Thân. Không có người nào ngu ngốc đến
nỗi nghĩ đây là một vụ tăng chức.Một tờ báo do người Việt làm chủ,
tờ Saigon News, đặt một nhan đề: “Westmoreland Bị Ðá Lên Lầu Ngồi Chơi
Xơi Nước” và không ai không đồng ý là ông tướng này rời bỏ chiến
trường chẳng chút vinh quang nào và còn chịu nhiều trách nhiệm cho những
gì đã xảy ra. Chỉ chín ngày trước
đó, ngày 14 tháng Ba, số lính Mỹ thương vong ở Việt Nam đã lên quá con
số 20 ngàn. Có 3,500 trực thăng và máy bay khác vị rớt. Các sĩ quan trong
bộ tham mưu của tướng này có vẻ tán đồng khi Westmoreland bị triệu hồi.
Các sĩ quan đánh giá người kế vị, Tướng Creighton D. Abrams, nguyên chỉ
huy thiết giáp, là một chiến thuật gia tài giỏi. Một Ðại Tá làm tôi
ngạc nhiên khi nghe ông nói: “vị chỉ huy này đáng lẽ được phái tới
đây từ lâu!” Chính vị Ðại tá này đã hết lời ca ngợi Westmoreland trong hai năm trước đây.
Gallagher
(giám đốc AP ở New York) yêu cầu tôi và một phóng viên đồng nghiệp,
Faas, lượng giá về tình hình Việt Nam và đọc một diễn văn trong cuộc
họp thường niên của các giám đốc thuộc hội đồng quản trị của hãng
thông tấn AP tại New York vào tháng Tư. Tôi cũng mong được trở về đó.
Tôi không thấy dấu hiệu là ý kiến của quân chúng Mỹ về chiến tranh
Việt nam đã đổi vì tôi bù đầu với công việc hàng ngày của một
phóng viên, nhưng tôi biết những cuộc biểu tình phản chiến đã xảy ra
ở các thành phố Mỹ. Gallagher cũng làm tôi ngạc nhiên khi ông ta hỏi ý
kiến tôi về đứa con trai của ông muốn chạy qua Gia Nã Ðại để trốn
quân dịch.
Vào ngày trước
khi tôi trở về New York, Tổng Thống Johnson tuyên bố là ông sẽ không ra
ứng cử nhiệm kỳ tới. Tổng Thống cũng ra lịnh ngưng tất cả những hoạt
động của hải và không quân tại Miền Bắc trong nổ lực chấm dứt chiến
tranh. Các giám đốc điều hành hãng thông tấn AP tin là chiến tranh đã đến
hối chấm dứt. Tuy nhiên phong trào phản chiến không giảm xuống một
chút nào, như tôi và Horst (một đồng nghiệp AP của Arnett tại văn phòng
Sài Gòn) đã chứng kiến một cuộc biểu tình phản chiến tại Central
Park. Tại Sheep Meadows, hàng ngàn những người phản chiến khác mang các biểu
ngữ: “Hell, no, we won’t go!” (Không, không, chúng ta không đi!), “Peace
Now” (Hoà bình ngay bây giờ!) hay “Hey, hey! LBJ (đọc là Jay cho có vần)
how many kids have you killed today” ( Bớ LB Jay (Johnson), hôm nay ông giết bao
nhiều trẻ con rồi?)
Horst để
ý là các người biểu tình mang những bức ảnh được rọi lớn của hãng
AP chụp từ Việt Nam, kể cả tấm ảnh tướng Loan xử tử một du kích
quân Cộng sản ở Chợ Lớn, do Eddie Adams chụp. Ðiều làm tôi ngạc nhiên
là có nhiều thanh niên chống quân dịch đã mang cờ Việt Cộng (MTGP) qua
công viên. Trong những năm làm phóng viên ở Việt Nam, tôi không hề thấy
cờ Việt Cộng tung bay một cách tự do như thế mà chỉ thấy những lá cờ
do các lính Mỹ tịch thu làm kỹ niệm hay được treo trên xe thiết giáp,
hay trên ba lô của các lính Mỹ. Những trên đất Mỹ, lá cờ có mặt
trong các cuộc biểu tình!
Thượng nghị
sĩ Harry Byrd thuộc tiểu bang Virginia, một đảng viên Dân Chủ cánh bảo thủ,
là một thành viên của hội đồng quản trị hãng thông tấn AP. Ông yêu cầu
tôi ra điều trần trước Tiểu Ban Quân Sự Thượng Viện. Tôi không muốn
liên hệ công khai đến các cuộc thảo luận về chiến tranh, nên tôi từ
chối. Ngay sau đó, tôi nhận được một điện tín của Thượng Nghị Sĩ
Robert Kennedy, người đang vận động tranh cử Tổng Thống sơ khởi, yêu cầu
tôi thuyết trình cho ông nghe về chiến tranh. Tôi thấy tự ái thỏa mãn
và muốn đáp ứng lời yêu cầu này, vì tôi nghĩ là tôi có thể tin vào sự
kín đáo của ông.
Gallagher cứu
xét lời yêu cầu của tôi một cách thích thú, nhưng ông từ chối. Ông
nói: “Cậu từ chối không chịu làm ân huệ cho một thành viên của ban
quản trị AP trong khi cậu hy vọng là tôi sẽ chấp nhận lời yêu cầu
này?”
Buổi chiều
trước khi tôi sắp sữa trở lại Việt Nam, tôi đi bộ từ khách sạn
Americana tới khu trung tâm Mahattan và xuống Broadway, Tôi nghe một người bán
báo rao hàng: “Giết nhau ở Sài Gòn! Giết nhau ở Sài Gòn! Mại vô, mại
vô!” Tôi bưóc tới và ông đưa tôi một tờ New York Daily Times. Trên trang
đầu có một bức ảnh rùng rợn của những thây nguời đang được phủ
vải nằm bên cạnh một chiéc xe Jeep. Một trong những nạn nhân là một đồng
nghiệp cũ của tôi, anh John Cantwell. Anh ta vừa mới thôi việc với hãng
thông tấn AP và qua làm cho tờ tạp chí Time một năm trước đây. Anh và 3
phóng viên khác bị Việt Cộng phục kích và giết chết trên một đường
phố ở Chợ Lớn.
Tôi bị khủng
hoảng tinh thần. Những phóng viên này còn rất trẻ và nhiệt thành. Tôi
nghĩ đến bản thân. Tôi là một người chồng có một người vợ hoàn
toàn tin tưởng chống và cha của 2 đứa con còn nhỏ. Tôi sắp sữa trở lại
chiến trường. Keith Fuller, giám đốc nhân viên của hãng thông tấn AP, cho
tôi biết là Tổng Thống Johnson lại muốn trù dập tôi. Tồng Thống mời
viên giám đốc điều hành AP vào văn phòng Tổng Thống vào tháng Ba ăn
trưa. Sai khi đã đãi khách bằng Hamburger và sữa, Tổng Thống Johnson nói
là ông sắp sữa triệu hồi Barry Zorthian, giám đốc phòng thông tin Mỹ ở
Việt Nam, vì y đã ở Việt Nam khá lâu rồi. Johnson sau đó hỏi Fuller: “Còn
thằng cha phóng viên Úc Pete Arnett cũng làm việc ở Việt Nam khá lâu rồi,
phải không?”
Sáng hôm
sau, tôi lên chuyến máy bay Pan Am bay thẳng về Sài Gòn.
(Chuyển ngữ để “put the
record straight” với các con sư tử trùng khi nghe Peter Arnett lại bị rắc rối
khi săn tin trong chiến trường Ira. Ðiều nay không có gì là lạ! Ông đã từng
bị rắc rối với Johnson trong chiến tranh Việt Nam và Bush Cha trong chiến
tranh vùng Vịnh lần thứ nhất)
Về
trang Nghiên cứu & đối thoại tháng 6-2003
Home | Top Page | Về trang mục lục