- GIÊ-SU NHƯ LÀ ĐẤNG “CỨU
THẾ”:
- MỘT HÌNH ẢNH CẦN PHẢI DẸP
BỎ
Người dịch: Trần
Chung Ngọc
Vài Lời Nói Đầu Của người Dịch:
Tôi
vừa đọc bài của Minh Nghị trên trang nhà Giao Điểm, phê bình Nguyễn Huệ
Nhật, một “tu sĩ Phật Giáo” (sic) từ bỏ thân phận làm người, tự
tu, tự chứng, để làm một con cừu (con chiên) Tin Lành, giới chăn chiên dạy
sao nghe vậy rồi nhắc lại như vậy, dắt đi đâu đi đó. Nguyễn Huệ Nhật
đã bỏ “Kinh Đức Tin” (Kinh Phật thuyết cho người dân Kalama) để theo
“Kinh Tin Kính” của Ki Tô Giáo. Mừng cho ông Nguyễn Huệ Nhật đã có một
bước nhảy vọt trên con đường thăng tiến tâm linh. Nguyễn Huệ Nhật muốn đi đường tắt:
sự tu tập trong Phật Giáo khó khăn quá, chi bằng chỉ cần tin vào vai trò
“cứu thế” của Giê-su là mọi vấn đề cá nhân sẽ được giải quyết. Đây là quyền tự do của Nguyễn Huệ Nhật,
và tôi mừng cho ông ta đã kiếm được cái “bánh cứu rỗi” ở trên trời
(Mục sư Ernie Bringas gọi sự “cứu rỗi” của Giê-su là “A Pie in the
Sky”). Tôi cũng mừng cho Phật Giáo
đã mất đi một “tu sĩ” như Nguyễn Huệ Nhật.
Nhưng thực chất vai trò
“cứu thế” của Giê-su mà Nguyễn Huệ Nhật tin và hết lời ca tụng,
quảng cáo, ra sao? Bản dịch sau đây
sẽ làm sáng tỏ vấn đề. Chúng ta
đã đọc bài “Huyền Thoại Cứu Rỗi” của Linh mục James Kavanaugh. Bây giờ tôi xin cống hiến quý độc giả
bản dịch bài “Giê-su Như Là Đấng Cứu
Thế: Một Hình Ảnh Cần Phải Dẹp Bỏ” (Jesus As Rescuer: An Image That Has
To Go) của Giám mục Tin Lành John Shelby Spong.
Bài dịch này tuyệt đối không phải để phê bình hay mở mang đầu
óc của Nguyễn Huệ Nhật. Đây là một
chuyện cực kỳ vô ích. Mục đích của
bài dịch này là để phổ biến cùng đại chúng những tư tưởng tiến bộ
nghĩ lại (rethinks) của một giám mục về cốt tủy đức tin trong Ki Tô
Giáo: Vai trò “cứu thế” của Giê-su.
Nếu Linh mục James
Kavanaugh là một nhân vật đặc biệt trong Ca Tô Giáo Rô Ma thì Giám mục John Shelby Spong cũng là một nhân vật rất
đặc biệt trong hệ Tân Giáo (Episcopal hay Anglican) của Tin Lành. Giám mục John Shelby Spong hiện vẫn là
Giám mục ở Newark, bang New Jersey, Hoa Kỳ. Ông
ta là một Giám mục nổi tiếng nhất ở Mỹ vì đã xuất hiện trên TV nhiều
lần để trình bày những quan điểm của ông ta trong những tác phẩm
nghiên cứu với trình độ trí thức cao về Thánh Kinh và lịch sử Ki Tô
Giáo, qua những cuốn sách trong đó ông trình bày sự suy nghĩ lại (rethink)
của ông, nhân danh là một Giám Mục (A Bishop rethinks...) về những vấn nạn
trong Ki Tô Giáo như “Sống Trong tội lỗi?”
(Living in Sin?), “Sự Sống Lại (của Giê-su):
Huyền Thoại Hay Sự Thực?” (Resurrection: Myth or Reality?), “(Giê-su) Sinh Ra Từ Một Người Đàn Bà”
(Born Of A Woman), “Tại Sao Ki Tô Giáo Phải
Thay Đổi Hay Chết” (Why Christianity Must Change or Die), “Một Ki Tô Giáo Mới Cho Một Thế Giới Mới”
(A New Christianity For a New World) v..v...
Đây là bản dịch chương
6: “Giê-su Như Là Đấng Cứu Thế: Một
Hình Ảnh Cần Phải Dẹp Bỏ” (Jesus As Rescuer: An Image That Has To Go)
trong cuốn “Tại Sao Ki Tô Giáo Phải Thay
Đổi Hay Chết” (Why Christianity Must Change or Die), xuất bản năm 1998, từ
trang 83 đến trang 99, tôi tự ý bỏ bớt vài đoạn nhỏ hơi xa đề. Có thể nói, bài này bổ túc cho bài “Huyền
Thoại “Cứu Rỗi”” (The Salvation Myth) của Linh mục James Kavanaugh, đã
được đưa lên trang nhà Giao Điểm gần đây.
Nếu Linh mục Kavanaugh so sánh huyền thoại “cứu rỗi” của Ki Tô
Giáo với những tục lệ tế thần trong dân gian và kết luận đó là một
câu chuyện độc ác không thể tưởng tượng
được của thời bán khai (It is a primitive tale of unbelievable cruelty)
và không đi vào chi tiết về nguồn gốc của huyền thoại này thì trái lại,
Giám mục John Shelby Spong đã dựa vào chính Thánh Kinh Ki Tô Giáo và cho
chúng ta một phân tích khá đầy đủ về nguồn gốc của huyền thoại đã
dựng Giê-su lên như là một đấng cứu thế, một vai trò mà Giám mục
Spong nghĩ cần phải dẹp bỏ trong thời đại này trước sự tiến bộ trí
thức của nhân loại và trước những bằng chứng khoa học bất khả phủ
bác..
Tại sao một Giám mục lại
đề nghị phải dẹp bỏ huyền thoại “cứu thế” trong Ki Tô Giáo? Bởi vì, huyền thoại này được xây dựng
từ huyền thoại “sáng thế” trong Cựu Ước, nhưng với kiến thức của
nhân loại ngày nay về vũ trụ, nhân sinh, đọc chương “Sáng Thế” trong
Thánh Kinh về nguyên do con người cần đến sự “cứu rỗi” của Giê-su
qua huyền thoại Adam và Eve với “tội tổ tông”, không một người trí
thức nào mà không phì cười vì những chuyện hoang đường, mâu thuẫn, phản
khoa học, phi lý trí v..v.. trong đó.
- Xin
mời quý độc giả hãy thưởng thức một bài phân tích và nhận định về
nguồn gốc vai trò cứu thế của Giê-su của một vị giám mục lừng danh
và hi vọng qua bài này có thể nhận ra tất cả những sự thật đàng sau
nền thần học của Ki Tô Giáo, một nền thần học đã dựng lên vai trò
“cứu thế” của Giê-su, và cứ tự nhiên cười cho thỏa thích, nếu muốn.
-
Đôi khi, cái cây chết cần
phải đào xới lên và vứt bỏ nó đi để lấy chỗ cho cây mới có cơ hội
mọc lên. Đối với câu chuyện về
Giê-su, hành động trên (đào xới lên và vứt bỏ) thật là tối cần thiết
và cấp bách (vital and urgent). Không
có bất cứ một hình ảnh nào dùng để giải thích về nhân vật Giê-su đáng được tồn tại. Hình ảnh hiển nhiên nhất để loại bỏ
trong đầu óc tôi có lẽ cũng là cái hình ảnh cổ xưa nhất về mọi diễn
giải về Giê-su. Đó là cái hình ảnh
của Giê-su như là “đấng thần linh cứu thế” (the divine rescuer).
Cái hình ảnh này đến với
chúng ta dưới hai dạng. Thứ nhất,
nó xuất hiện trong lối nói cường điệu hoa mỹ (rhetoric) của những nhà
truyền giáo truyền thống mà đối với họ, vì giới hạn của thời giờ
trong những bài giảng đạo, một vài hình ảnh (về Giê-su) đã trở thành
tất cả và cốt yếu. [Đây chính là xảo thuật trích dẫn vụn vặt
Thánh Kinh để truyền đạo. TCN] Trong
những nhịp độ nói năng trơn tru từ bờ môi của những người truyền
giáo, chúng ta thường nghe được những lời quen thuộc: “Giê-su chết cho
tội lỗi của chúng ta. Ông ta đã đổ
những giọt máu quý báu trên thập giá ở Calvary để cho chúng ta được
“cứu”. Chúng ta đã được rửa sạch
trong máu của con chiên Giê-su (Lamb). Với
sự hi sinh của Giê-su, chúng ta đã được “cứu”. Tì vết nguyên tội (hay “tội tổ tông”)
trên linh hồn của chúng ta đã được tẩy sạch”. Thật vậy, chúng ta đã nghe những lời như
trên hàng ngàn lần.
Thứ nhì, qua nhiều thời
đại, đã có những luận điệu hùng biện khoa trương của nền thần học
Ki Tô Giáo. Những tư tưởng gia Ki Tô
Giáo, trong tầm nhìn thế giới mà họ hiểu, đã mất nhiều thế kỷ để
đưa ra cái gọi là “thần học của cây thập giá” (The theology of the
cross) như là một yếu tố quan trọng trong câu chuyện về Giê-su. Quá trình này đưa đến nhiều diễn giải
khác nhau xung quanh giáo lý chính yếu của Ki Tô Giáo: Giáo lý chuộc tội
(The doctrine of atonement). Giáo lý này
tin là thật những điều thuộc một quan điểm đặc biệt về ý nghĩa của
sự sáng tạo, về sự sa ngã của con người xuống cái gọi là nguyên tội,
và nhiệm vụ cứu chuộc của Giê-su, với kết quả là sự lấy lại tình
thương của Thần Cha đối với con người.
Những từ ngữ như “nguyên
tội” (hay “tội tổ tông”) và “chuộc tội” đã được phổ biến
trong những xứ Ki Tô Giáo từ lâu đến độ chúng đạt đến địa vị
như là một thần chú thiêng liêng (a sacred mantra). Điều này có nghĩa là nó không thể bị
chất vấn, và cấu trúc căn bản của nó không cần phải giải thích gì
thêm. Trong ánh sáng của những kiến
thức mới, nó chỉ cần phải điều chỉnh lại (adjusted), chứ không bao giờ
phải xét lại (reconsidered). Tuy
nhiên, nếu xét kỹ, những quan niệm thiêng liêng đó đã kéo chúng ta vào
một cách nhìn về đời sống con người không
còn áp dụng được, một lối hiểu thần thánh về Thần Cha (God) khiến
chúng ta ghê tởm, một cách nhìn ma thuật về Giê-su làm ô nhiễn đầu óc
chúng ta, và sự thực hành cần thiết của giáo hội coi tội lỗi là điều
tiên quyết để bước vào đạo. Không
cần phải là một thần đồng mới có thể nhận thức được rằng, cách
nhìn Thần Cha và Thần Con như trên, cũng như cái hiểu của giáo hội, sẽ
không bao giờ tồn tại.
Cái trạng thái tâm lý về Giê-su như là đấng cứu thế đã tỏa khắp
trong sự tự cho là mình hiểu biết của Ki Tô Giáo đến độ người ta không
thể nhìn Ki Tô Giáo ngoài cái vai trò cứu thế của Giê-su. Có lẽ vì vậy mà tình trạng gần như sụp
đổ của hệ thống tôn giáo này thật là hiển nhiên. Hầu hết nội dung của truyền thống đức
tin này đã được tổ chức để phục vụ cho cái tâm lý Giê-su là đấng
cứu thế đó. Lễ rửa tội mở đường
cho công cuộc cứu chuộc. Lễ ban
thánh thể (eucharist) [Nói nôm na là lễ ăn thịt và uống máu Chúa. TCN] đã
lập lại quan điểm về sự cứu chuộc của Giê-su. Nhiều phần trong Thánh Kinh đã được diễn
giải để củng cố sự hiểu biết đặc biệt về Giê-su này. Sự hiện diện của cây thập giá hay
hình Giê-su bị đóng đinh trên cây thập giá như là một biểu tượng chính
của Ki Tô Giáo cũng nói lên sự cứu chuộc của Giê-su. Đây là một kiểu lý luận vòng vo
(circular argument) mà chúng ta khó có thể len vào.
Và chính cái tính vòng vo (circularity) của nó đã đưa đến sự nhất
quán cho toàn thể tấn bi kịch Ki Tô (the Christian drama) như là chúng ta đã
biết. Thật là dể dàng vạch ra những
yếu tố tạo nên quan điểm này. Tôi
sẽ trình bày chúng rõ ràng và đặt chúng trước lương tâm của mọi người. Chỉ như vậy tôi nghĩ mới có thể nhổ
bật gốc rễ của chúng để nhường chỗ cho một lối sống mới có thể
nhô lên, không bị bóp nghẹt bởi những quan điểm đã quá lỗi thời.
Thánh Kinh mở đầu bằng
chuyện “Sáng Thế”. Thánh kinh viết
rằng đó là một sự sáng tạo hoàn mỹ (perfect creation), và đúng là một
sự sáng tạo hoàn tất, đầy đủ (a completed creation). Khi Thần Cha thấy những gì mình đã tạo
ra, ông ta tuyên bố rằng tất cả đều tốt đẹp (very good) và rồi nghỉ
ngơi , không làm những việc lao động thần thánh (divine labors) nữa.
- Điểm
có ý nghĩa nhất trong cái hành động ban đầu này là Thần Cha làm ra đàn
ông và đàn bà và cho họ ngự trị trên mọi tạo vật khác của Thần
Cha. Thánh Kinh viết tiếp, Adam và Eve
sống trong cái thế giới hoàn mỹ của Thần Cha, gọi là vườn Eden, ở đó
họ có một mối liên hệ toàn hảo (perfect relation) với Thần Cha đã tạo
ra họ. Thần Cha cung cấp cho họ đủ
mọi thứ. Thức ăn và thức uống
tràn trề... Nhưng rồi những giới hạn được đặt ra trong cái thiên đường
đó. Cái gia đình đầu tiên của
loài người đó có thể sử dụng bất cứ cái gì ở trong cái vườn đó
trừ một thứ. Đó là cái cây hiểu
biết phân biệt thiện và ác, trồng ở giữa vườn. Trái cây của cây đó là “trái cấm”
(forbidden fruit). Con người do Thần Cha
tạo ra không được phép ăn trái cấm đó, vì ngày nào mà họ ăn thì họ
sẽ mở mắt ra và biết phân biệt thiện ác.
Đây là một huyền thoại hấp dẫn, và trong lịch sử Ki Tô
Giáo, huyền thoại này được tin là thật, đúng như Thánh Kinh viết (Gen
2:5 – 3:24).
-
- * * *
-
- [TCN
xin phép được bàn ngang vài câu: Thánh Kinh viết, Genesis 3: 5: “Vì Thần
Cha biết là cái ngày mà ngươi ăn trái cấm đó, mắt ngươi sẽ mở ra, và
ngươi sẽ như Thần Cha, biết phân biệt thiện ác” (For God knows that in
the day you eat of it your eyes will be opened, and you will be like God, knowing good and
evil). Điều này chứng tỏ mục đích
tiên khởi của Thần Cha khi tạo ra con người là chỉ tạo ra người mù
và vô trí, vì chưa mở mắt và không biết phân biệt giữa thiện và ác. Thực tế cho thấy trong Ki Tô Giáo ngày
nay không thiếu gì những người vẫn còn ở trong tình trạng ban đầu này. Họ có mắt cũng như mù, có đầu óc nhưng
không có trí tuệ. Đó là những người
rất hãnh diện làm đầy tớ, xiêng năng hầu việc Chúa, tin và sợ Thần
Cha, một vị Thần của dân Do Thái cổ xưa. Họ tin Chúa nhưng họ không hề
nghĩ rằng Chúa chỉ muốn họ là những người mù và vô trí, vì vậy họ
tin rằng cái hành động của Adam và Eve ăn trái cấm là tội tổ tông truyền
đến đời họ và họ cần phải rửa sạch cái tội đó trong máu của
Giê su. Vì vậy mà họ mang những đứa
con nít sơ sinh vô tội của họ đi rửa tội.
Một khi rửa sạch được cái tội tổ tông đó thì họ sẽ trở về
tình trạng tiên khởi mà Thần Cha tạo ra loài người, nghĩa là tình trạng
tiền sa ngã của loài người, hay nói cho đúng hơn, trở lại tình trạng
mù và vô trí. Nếu không phải họ
muốn như vậy thì thực ra họ phải cám ơn Adam và Eve đã mở mắt cho
loài người, để loài người biết phân biệt giữa thiện và ác. Chúng ta không nên lẫn lộn từ “mở mắt”
trong Thánh Kinh với từ “mở mắt” mà chúng ta thường dùng hàng ngày,
có nghĩa là vạch ra những sự thật để cho những người u mê thấy rõ. Vì sau khi ăn trái cấm, Adam và Eve mới mở
mắt ra và mới cảm thấy xấu hổ là mình đang trần truồng, do đó mới
lấy cái lá để che bộ sinh dục. Nếu
không có Adam và Eve thì loài người vĩnh viễn vẫn là những người mù
và vô trí. Theo một nghĩa nào đó, đây
chính là tình trạng mà một số người đang sống trong đó ngày nay. Thánh Kinh viết rằng một khi ăn trái cấm
thì con người cũng giống như Thần Cha, biết thế nào là thiện và ác. Điều này hoàn toàn sai vì đọc Thánh
Kinh chúng ta thấy Thần Cha thực sự không biết thế nào là thiện, thế
nào là ác. Đối với Thần Cha thì
không tin Thần Cha là ác, còn giết người hàng loạt (mass destruction) như
Thần Cha làm thì là thiện, những tiêu chuẩn không thể chấp nhận trong
thế giới văn minh tiến bộ ngày nay. Mặt
khác, lịch sử loài người đã chứng tỏ rằng trí tuệ loài người đã
vượt xa trí tuệ của Thần Cha trong Thánh Kinh, nếu Thánh Kinh là những lời
mạc khải của Thần Cha. Đây là điều
hết sức hiển nhiên, không có gì để bàn cãi nữa. TCN]
-

Lẽ dĩ nhiên, một trái
cây mà bị cấm không được ăn thì rất có sức quyến rũ đối với con
người. Và sự cám dỗ dần dần đi
tới tình trạng không cưỡng được. Nghe
tiếng của sự cám dỗ hiện thân trong con rắn xảo quyệt (incarnate in the
wily snake), với sự thúc đẩy của ham muốn trong thâm tâm, Adam và Eve đã
bất chấp điều cấm của Thần và ăn trái cấm. Adam và Eve đã không vâng lời Thần. Công cuộc sáng tạo hoàn mỹ của Thần
đã bị hư nát (ruined).
Con người
đã sa ngã trong cái gọi là nguyên tội.
Những ảnh hưởng tai hại
của sự sa ngã này, theo Thánh Kinh, thì tức thời và vĩnh viễn. Mắt Adam và Eve mở ra. Hai người nhìn thấy họ đã lìa xa Thần
của họ, họ cảm thấy xấu hổ và tội lỗi.
Họ che sự trần truồng của họ bằng lá cây sung. Chiều ngày đó, khi Thần đi vào trong vườn,
Adam và Eve nhận thức rằng “cái ông Thần này” (this God) không phải là
đấng đã sáng tạo ra họ, nguồn gốc sự sống của họ, mà là một ông
quan tòa đang moi móc tội lỗi của họ. (The elicitor of their guilt). Do đó họ trốn vào bụi cây trong vườn
Eden. Sự hiệp thông (communion) của họ
với Thần đã bị bẻ gẫy.
- Khi
Thần thấy Adam và Eve trốn trong bụi cây, sự thực về sự sa ngã của
Adam và Eve là điều hiển nhiên. Một
cuộc điều tra thần thánh (divine inquiry) bắt đầu và chứng tỏ con người
thường hay đổ lỗi cho nhau. Trong sự
sa ngã, con người không thể chấp nhận trách nhiệm về những hành động
của mình. Adam đổ lỗi cho Eve và Thần
Cha. Hắn nói, Eve là nguyên nhân của
sự sa ngã của hắn (vì Eve nghe lời con rắn nên đã xúi dục hắn ăn trái
cấm), nhưng Thần Cha là đấng đã tạo ra Eve như vậy. Đây là một lý luận rất hấp dẫn.
-
- * * *
[Lý luận này là một
cái gai đâm thẳng vào tim của nền Thần học Ki Tô Giáo, một nền Thần
học đã dựng lên một Thần Cha (God) với những thuộc tính toàn năng,
nghĩa là làm gì cũng được, và toàn trí, nghĩa là cái gì cũng biết, quá
khứ cũng như vị lai. Với thuộc
tính toàn trí thì Thần Cha phải biết là Eve sẽ xúi dục Adam ăn trái cấm
nhưng Ngài vẫn tạo ra Eve, và với thuộc tính toàn năng thì Ngài có đủ
cách để ngăn Eve không được xúi dục Adam ăn trái cấm. Vậy lỗi là chính ở Thần Cha chứ không
phải là ở Adam và việc xử phạt Adam và loài người vì lỗi của chính
mình là một hành động “hiếp dâm công lý” mà con người ngày nay
không thể chấp nhận. Giáo hội giải
thích là khi Thần Cha tạo ra con người là muốn cho con người có ý chí tự
do (free will) chứ không phải là nô lệ. Nhưng
giáo hội quên mất một điều là trước khi ăn trái cấm thì Adam là một
người mù, vô lý trí, không làm gì có ý chí tự do, không thể biết phân
biệt thiện ác, phải trái. Ý chí tự
do chỉ có sau khi ăn trái cấm và biết phân biệt thiện ác, phải trái,
và từ đó mới có sự tự do chọn lựa. TCN].
- * * *
-
- Đến
lượt Eve, Eve đổ lỗi cho con rắn (cũng là một tạo vật của Thần Cha.
TCN). Nhưng sự trừng phạt được thi
hành ngay.
Cái gia đình đầu tiên của
loài người đó bị đuổi ra khỏi vườn Eden.
Thiên đàng đã mất. Từ lúc đó,
đời sống con người là một sự vật lộn với đời. Con rắn sẽ phải bò sát trên bụng và vĩnh
viễn phải ăn đất. [Trước đó, phải chăng con rắn đi hai chân giống Thần
Cha khi Thần Cha đi dạo trong vườn Eden? TCN].
Người Nữ sẽ bị đau đẻ. Người
Nam sẽ phải kiếm sống bằng mồ hôi nước mắt và luôn luôn phải vật
lộn với đời để sống còn. [Đây
là sự giải thích của con người về những những thực tế ở ngoài đời,
ở một thời đại mà họ chưa đủ kiến thức để biết về cấu trúc cơ
thể con người. TCN]
Sau cùng, tất cả mọi người
đều phải chết. Chết là số phận
phổ quát (universal fate) của những người mang trên người cái tì vết tội
nguyên thủy của Adam và Eve.
Một thiên thần với lưỡi
gươm tuốt trần sẽ đứng gác cổng vào vườn Eden để ngăn không cho
loài người vào trong cái thiên đường đó.
Vì cái tội của con người đầu tiên, cả nhân loại về sau sẽ
sinh ra trong tội lỗi và sẽ chết. Đó
là nguyên tội. Mọi sự sống của
con người đều phải cần đến sự chuộc tội.
Mọi người đều phải cầu khẩn đến một đấng cứu thế. Những điều giải thích này đã trở
thành những điểm chính yếu mà Ki Tô Giáo khẳng định.
Theo luận điệu thần học
này, Thần Cha sẽ khởi sự quá trình chuộc tội bằng cách chọn một dân
tộc đặc biệt [dân tộc Do Thái. TCN]. Qua
dân tộc này, Thần Cha sẽ hoàn thành toàn thể quá trình cứu rỗi thần
thánh (the divine process of salvation). Vấn
đề tại sao Thần Cha cần phải làm như vậy sau một thời gian nhiều ngàn
năm không được đặt ra. Giáo hội dạy
rằng nó là như vậy (that’s just the way it is).
Câu chuyện “chuộc tội”
của Ki Tô Giáo được kể qua cái huyền thoại “cứu chuộc” này. Sự cứu chuộc khởi đầu rất hạn chế,
ít ỏi, với Abraham (Gen. 12: 1-3). Hậu
duệ của Abraham rút cuộc sẽ là một dân tộc đông nhiều hơn sao trên trời
hay nhiều hơn số cát trên bờ biển (Gen. 22:17)
*
* *
[Hiển nhiên là lời “hứa”
của Thần Cha đối với dân Do Thái của Ngài như trên đã trở thành chuyện
tiếu lâm trong môi trường trí thức ngày nay, vì cho tới ngày nay dân Do
Thái cũng chưa lên tới 10 triệu người, trong khi dân Việt Nam vào khoảng
80 triệu, và dân Trung Quốc vào khoảng 1 ngàn 400 triệu. Hơn nữa trong vũ trụ hiện nay có nhiều
tỷ thiên hà, mỗi thiên hà có nhiều tỷ ngôi sao, và theo sự tính toán của
các khoa học gia thì trái đất của chúng ta chỉ tồn tại vào khoảng 5 tỷ
năm nữa. Vậy tới bao giờ thì dân
Do Thái nhiều như sao trên trời? Lẽ
dĩ nhiên, Thần Cha tạo ra vũ trụ, theo niềm tin của Ki Tô Giáo, nhưng chính
Thần Cha lại không biết là trong vũ trụ có bao nhiêu vì sao, cho nên Ngài
mới hứa nhăng hứa cuội với dân Do Thái như vậy. Thế mà “người ta” vẫn tin rằng Thánh
Kinh (Cựu Ước) là những lời mạc khải của Thần Cha, không thể sai lầm. TCN]
*
* *
Khi dân tộc đó phát triển
thì lại bị Thần Cha thanh trừng (purged) đều đều. Isaac được chọn thay vì Ishmael, Jacob thay
vì Esau, Judah và Joseph được chọn thay vì đứa con đầu lòng là Reuben (1
Chron.5: 1,3) [TGM Nguyễn Văn Thuận, trong cuốn “Chứng Nhân Hi Vọng”, giải
thích những việc “bỏ trưởng lập thứ” này đều là những “mầu
nhiệm của Thiên Chúa”. Lẽ dĩ nhiên,
ông ta không hề giải thích là mầu nhiệm ở chỗ nào. TCN] Joseph dẫn dân Do Thái đến Ai Cập để
tránh một nạn đói. Với thời gian,
dân Do Thái trở thành nô lệ của Ai Cập. [“Giáo
Sư” Đỗ Mạnh Tri, trong cuốn “Ngón Tay Và Mặt Trăng” giải thích là
Thần Cha dùng Vua Ai Cập để dạy dỗ dân Do Thái, dân đã được Ngài chọn
lựa. Lẽ dĩ nhiên, “Giáo sư” cũng không giải thích là tại sao phải dạy
dỗ dân Do Thái, và cũng không hề nhắc đến những biện pháp tàn bạo
mà Ai cập đối xử với dân Do Thái, dân cưng của Ngài. TCN]
Câu chuyện cứu rỗi lại
bắt đầu lại (với dân Do Thái) khoảng 400 năm sau, với Moses và cuộc “Xuất
Ê-Díp-Tô” [chạy ra khỏi Ai Cập (Exodus)].
Một khi thoát khỏi vòng nô lệ, dân Do Thái được Thần Cha, qua tay
sai Moses, dẫn tới núi Sinai, ở đây, luật của Thần Cha, gọi là Torah,
được ban cho dân Do Thái. (Exod. 19-20) Luật
đó hướng dẫn dân tộc Do Thái sa ngã trở lại tình trạng sống trong ân
sủng của Thần Cha. Hi vọng sau cùng
sẽ được cứu chuộc ra khỏi sự sa ngã của dân tộc Do Thái được đặt
trong quá trình cứu chuộc này, vì người Do Thái tin rằng nếu có một đứa
trẻ Do Thái đặc biệt nào đó có thể giữ đúng mọi luật Torah trong 24
tiếng đồng hồ thì Vương Quốc của Thần (Kingdom of God) sẽ tới, và sẽ
có một vườn Eden mới được thiết lập, trong đó luật của Thần luôn
luôn được tuân theo. Vậy luật đó
được thiết lập để mở đường cho dân Do Thái ra khỏi tình trạng tội
lỗi của loài người. Không có một
đứa trẻ Do Thái nào giữ được đúng những luật của Thần trong 24 tiếng
đồng hồ, do đó, trong lịch sử, sự cứu rỗi vẫn phải được tiếp tục
tìm kiếm.
Một hệ thống hi sinh tế
thần được phát triển trong thế giới cổ xưa để giúp vượt qua được
bức tường ngăn cách giữa những tạo vật sa ngã và ông Thần thánh thiện. Do Thái dự phần trong hệ thống hi sinh tế
thần này. Do Thái đã để một ngày gọi là ngày chuộc tội
(Yom Kippur) trong đời sống đầy lễ tiết của họ, để ghi nhớ ý niệm
về tội lỗi của con người và là một cơ hội để cầu nguyện cho sự
chuộc tội và phục hồi tình thương của Thần.
Hai lễ tiết được thi hành trong ngày này.
Một là công khai xưng tội
trước quần chúng những tội lỗi của dân tộc, long trọng chất những tội
lỗi này trên lưng của một con dê. Con
dê này, với đầy tội lỗi của dân Do Thái trên lưng, gọi là con dê tế
thần (scapegoat), được thả cho chạy rông vào nơi hoang dã và được tin rằng
nó đã mang theo tất cả tội lỗi của dân Do Thái (Lev. 16).
Cái lễ tiết thứ
hai trong ngày chuộc tội là dùng “con chiên chuộc tội” (the lamb of
atonement) để tế thần. Con chiên tế
thần này được khám nghiệm cẩn thận để chắc rằng nó toàn hảo về
phương diện vật chất, không bị xây xát, không tì vết, không bị gẫy xương. Loài người, đã quá xa lìa Thần Cha, đã
sa ngã vào tội lỗi, phải đến với Thần Cha dưới một biểu tượng
(con chiên) toàn hảo. Con chiên là sinh
vật thấp hơn con người do đó không thể phi luân, vì luân lý đạo đức
đòi hỏi phải có khả năng chọn lựa điều ác. Do đó, một con chiên tế Thần Cha, hoàn
toàn đạo đức (morally perfect), hoàn toàn khỏe mạnh (physically perfect), nhưng
vẫn là một con vật thấp hơn loài người, được dâng lên Thần Cha để
chuộc tội cho, ngay cả để trả nợ cho (even to pay for), những tội lỗi của
dân Do Thái. Người ta cho rằng sinh ra
làm người là có tội. Phao Lồ viết
ra thành lời: “Mọi người đều có tội, thiếu mất sự vinh hiển của
Thần Cha.” (Rom. 3:23). Là con người,
theo định nghĩa, là xấu ác, sa ngã, cần phải cứu.
Chính cái niềm tin chắc
vào tội lỗi ngay khi sinh ra làm người và cần phải chuộc tội đã cho
phép tôn giáo và mặc cảm tội lỗi dính liền với nhau trong lịch sử
Tây phương. Quyền lực của tôn giáo
Tây phương luôn luôn đặt trên khả năng hiểu biết của những người lãnh
đạo tôn giáo và khả năng xoay vần cái mặc cảm bất toàn của con người
được diễn giải như là tội lỗi...Những nhà lãnh đạo tôn giáo, qua
các thời đại, biết rõ là sự kiểm soát hành vi của quần chúng phải dựa
trên sự làm trầm trọng hóa (exacerbating) những cảm giác tội lỗi đó
trong con người. Do đó, các đế chế
tôn giáo (religious empires) đã được dựng lên để giúp con người sống với,
và tới một mức độ nào đó, vượt qua được mặc cảm tội lỗi. Xưng tội, ăn năn, những hành động quá
sự đòi hỏi (acts of supererogation) v..v.. chỉ là vài cái đòn bẩy tội lỗi
được xây dựng thành cái xí nghiệp Ki Tô Giáo thống trị thế giới Tây
phương. (guilts levers built into the Christian enterprise, which dominated the Western
world)...
Con người là những tạo
vật sa ngã cần phải được cứu vớt. Đó
là sự hiểu biết thông thường về sự sống đã đóng khung thông điệp
của tôn giáo Tây phương nói chung, Ki Tô Giáo nói riêng. Làm sao có thể thắng được tội lỗi? Làm sao có thể hàn gắn được sự đổ
vỡ của nhân loại? Làm sao sự sống
của con người sa ngã có thể được cứu vớt?
Đó là những câu hỏi mà Ki Tô Giáo tự tổ chức để trả lời.
(Those were the questions that Christianity organized itself to answer.)
Kinh nghiệm về Giê-su đã
được nắm bắt trong tâm cảnh này. Sự
nối kết giữa ý niệm về sự bất toàn của con người và vai trò cứu
chuộc của Giê-su xảy ra nhanh chóng và đã thành hình trước khi thế hệ
đầu tiên của những người theo Giê-su chết đi. Bước đầu tiên trong quá trình này là
nhìn cái chết của Giê-su trong bối cảnh của tội lỗi và cứu chuộc. Sau khi Giê-su chết khoảng 20 năm, vào năm
50 theo Thường Lịch, bước đầu tiên này đã đạt được. Phao Lồ (Paul) nói: :Giê-su chết cho tội lỗi
của chúng ta (1Cor. 15:3: Christ died for our sins).
Tội lỗi của chúng ta, bằng cách nào đó, đòi hỏi cái chết của
Giê-su.
Trong Phúc Âm đầu tiên, từ
“món đồ chuộc” (ransom) được dùng. Cái
mạng sống của Giê-su là “món đồ chuộc” để chuộc tội cho chúng
ta. Trong Phúc Âm này, Mác-Cô (Mark)
theo ý của Phao-Lồ, là tác giả đầu tiên kể lại chi tiết về cái chết
của Giê-su trong bối cảnh của Lễ Vượt Qua (Passover) và Giê-su đã được
đồng nhất hóa ngay lập tức với con chiên bị giết trong Lễ Vượt Qua
(Paschal lamb) để bẻ gẫy quyền năng của cái chết. Câu chuyện hi sinh tế thần này ở trong
sách Xuất Ê-Díp-Tô (Exodus) đã lập thành trung tâm điểm của nghi lễ lập
quốc Do Thái.
Thần Cha (God) làm cho dân
Do Thái trốn thoát khỏi vòng nô lệ của Ai Cập bằng cách sai phái Thiên
Thần Tạo Tử (Angel of death) đến giết chết mọi đứa con đầu lòng, người
cũng như vật, trong khắp đất Ai Cập (God had enabled their escape from slavery
by sending the Angel of Death to slay the first born in all the land of Egypt). [Theo thuyết
Chúa ba ngôi thì Thần Cha hay Thần Con (Giê-su) cũng như nhau, và đây là “Thiên
Chúa lòng lành vô cùng, quá thương yêu thế gian” mà những người Ki Tô
Giáo thường ca tụng. TCN] Dân Do Thái sẽ tránh được sự tàn sát
này khi họ giết con chiên tế thần (Paschal lamb) và rảy máu của nó trên
ngưỡng cửa nhà họ. Trong sự diễn
giải lại của Ki Tô Giáo về lúc giết con chiên tế thần này, máu của
con chiên tế thần được thay thế bằng máu của Giê-su. Cái con chiên tế thần mới này (nghĩa là
Giê-su) đã rải máu trên cây thập giá, và cây thập giá được coi như là
ngưỡng cửa của thế giới, do đó đã bẻ gẫy quyền năng của cái chết. Nhìn Giê-su như là cứu tinh của loài người
sa ngã đã có một bước đầu kích động (a rousing start).
- * * *
-
- [Đây
là lý luận Thần Học để lừa bịp những kẻ ngu si, vì đóng đinh trên
cây thập giá là hình phạt của người La Mã dùng để trị những kẻ phản
loạn, ăn trộm ăn cướp. Giê-su bị
đóng đinh cùng lúc với 2 tên ăn trộm ở hai bên. Về bản chất các cây thập giá đều có
cấu trúc như nhau, nói cách khác, cây thập giá mà Giê-su bị đóng đinh trên
đó về bản chất không có gì khác với những cây thập giá mà người La
Mã đã từng đóng đinh những tội phạm khác.
Một cây thập giá, tượng trưng cho một loại hình phạt dã man nhất
của nhân loại, lại trở thành cái ngưỡng cửa của thế giới, hay “Thánh
giá”, là một chuyện có tính cách sỉ nhục đầu óc con người ngày nay. Khoan kể là từ khi Giê-su chết đi trên
cây thập giá, loài người vẫn tiếp tục chết đi đều đều, và chưa có
một người nào sống lại để có thể chứng tỏ là máu của Giê-su đã
bẻ gãy quyền năng của cái chết. TCN]
-
- * * *
Vào thời gian những thư
(của Paul) cho người Do Thái được viết, vào khoảng năm 80, cái niềm tin
này đã hoàn thành. Niềm tin này đã
được kết chặt vào trong suy tư của những người Ki Tô Giáo: Giê-su,
trong cái chết, đã là con chiên tế thần toàn hảo (perfect paschal lamb) mà
người Do Thái tìm kiếm đã lâu trong ngày lể chuộc tội (Yom Kippur). Trước hết, Giê-su hoàn toàn về phương
diện thể chất. “Ông ta (Giê-su) biết rõ tất cả xương của ông ta,
không có cái nào bị gẫy” (John 19: 36) [giống như những con chiên tế thần
hoàn toàn như trong Cựu Ước (Exod. 12: 46; Ps. 34: 20). TCN]. Ông ta cũng là người vô nhiễm [vì sinh
ra từ một trinh nữ, không do tình dục. Ki
Tô Giáo quan niệm tình dục là tội lỗi vì truyền lại cái tội của Adam
(Sex was evil. Holiness was defined as
sexlessness), nhưng trong lịch sử Ki Tô Giáo lại không thiếu những giáo
hoàng loạn dâm và linh mục loạn dâm. TCN] Ông
ta là đứa con Do Thái đã tuân giữ đúng những luật Torah. Do đó sự hi sinh của ông ta làm cho mọi
sự hi sinh khác không còn cần thiết nữa. Cái
khoảng trống ngăn cách giữa loài người và Thần Cha đã được vượt
qua. Người Ki Tô nói: Thần Cha đã gửi con mình xuống để “trả
cái giá của nguyên tội” (pay the price of sin), đó là sự hi sinh hoàn
toàn, bẻ gẫy sự cầm giữ của nguyên tội và quỷ trên con người. Paul nói về Giê-su: “Vì như trong Adam mọi
người đều phải chết, nên trong Giê-su mọi người sẽ được sống (1
Cor. 15:22: For as in Adam all die, so also in Christ shall all be made alive).
Khi cái hiểu như vậy về
công cuộc cứu chuộc của Giê-su phát triển trong Ki Tô Giáo, Augustine,
giám mục thành Hippo (354-430) và là một trong những bộ óc thần học vĩ
đại của thế giới Tây phương, đã đưa ra một diễn giải về Giê-su,
diễn giải này đã tồn tại hơn 1000 năm [trong giáo hội Ki Tô. TCN] Đối với Augustine, Adam và Eve là hai
nhân vật lịch sử có thật và là nguyên tổ của loài người. Kết quả của việc Adam và Eve bị đuổi
ra khỏi vườn Eden là chết, cái giá mà toàn thể nhân loại phải trả. Augustine lý luận: “Chết không phải là
luật của thiên nhiên mà là sự trừng phạt.
Cái tội của Adam được truyền lại cho hậu thế qua con đường tình
dục.” Sự liên hệ giữa tình dục và nguyên tội đã được thành lập
rõ ràng. Mọi người đều đã mất
đi ân sủng của Thần Cha, không thể tự cứu mình, và phải chết vì mang
trên người cái nguyên tội. Cái
nguyên tội đó của khắp loài người là cái mà Giê-su đã phá vỡ. Giê-su đã chịu gánh hậu quả đau đớn
của nguyên tội, đã dùng mạng sống của mình làm “món đồ chuộc”
cho tội lỗi của loài người. Ông ta
đã bẻ gãy quyền lực của cái chết trên con người.
Trong luận cứ thần học
về cái hiểu của Augustine về sự sống của con người, truyền thống
sinh ra từ trinh nữ (virgin birth) trở nên rất quan trọng. Đối với Augustine, câu chuyện về Giê-su
sinh ra từ một trinh nữ là có thật, và tuyệt đối cần cho vai trò chuộc
tội của Giê-su. Thật vậy, đối với
Augustine, sự cứu chuộc không thể tách rời khỏi sự sinh ra từ một nữ
trinh.
Luận cứ của Augustine thật
rõ ràng. Cái tội của Adam được
truyền lại từ cha đến con qua tình dục. Mọi
người đều sinh ra trong cái tội của Adam, và không ai thoát khỏi. Một đấng cứu thế có nhiệm vụ cứu
chuộc thì không thể là nạn nhân của cái tội của Adam. Và Augustine đã tách Giê-su ra khỏi nguyên
tội của con người qua câu chuyện sinh ra từ một trinh nữ. Tội của Adam không làm ô nhiễm nhân
cách của Giê-su vì Thánh Linh là cha ông ta.
Ông ta không phải là hậu duệ của Adam.
Trong thời đại của Augustine, người phụ nữ được coi như là
không góp phần gì trong quá trình truyền giống, sinh con đẻ cái, mà chỉ
là môi trường nuôi dưỡng hạt giống của người đàn ông cho đến khi
sinh nở.
- Tuy
nhiên, với thời gian, khi vai trò của người phụ nữ được biết là “di
truyền đồng tạo” (genetic co-creator), vấn đề sinh ra từ một trinh nữ
phải điều chỉnh lại, nếu không chính đấng cứu thế (Giê-su) cũng bị
ô nhiễm bởi nguyên tội của Adam qua người mẹ, vì bà ta cũng là con cái
của Adam [mang trên người nguyên tội qua tình dục. TCN]. Vấn đề này được giáo hội Ca-Tô giải
quyết trong thế kỷ 19 bằng cách tuyên bố tín lý “thụ thai vô nhiễm
nguyên tội” (Immaculate conception) của bà Mary [và bắt tín đồ phải tin,
không tin thì không được giáo hoàng cho lên thiên đường. TCN] Cũng như Giê-su, bà Mary được giải thoát
khỏi sự ô nhiễm của tội tổ tông [bằng một lời tuyên bố của giáo
hội Ca-Tô. TCN]. Sự thụ thai của
bà không bị dính tì vết nguyên tội của con người. Với sự tiếp viện quyền năng của Thánh
Linh, trinh nữ Mary, do thụ thai vô nhiễm nguyên tội, đã bị ngăn, không
cho truyền lại cho Giê-su tội của Adam. Vai
trò cứu chuộc của Giê-su đã được bảo đảm. Giê-su vô nhiễm có đủ tư cách để làm
con chiên tế thần hoàn hảo nhất. Máu
của ông ta đã rửa sạch tội lỗi của nhân loại (Rom. 5:9; Heb. 9:12; Pet.
1:19). Đó là công cuộc cứu chuộc của
Giê-su được hiểu trong những cộng đồng Ki Tô Giáo.
-
- * * *
[Trên đây, giám mục John
Shelby Spong đã cho chúng ta biết huyền thoại cứu chuộc và vai trò cứu thế
của Giê-su đã được dựng lên như thế nào.
Những điều mê tín cổ xưa của dân tộc Do Thái, chỉ của Do Thái
mà thôi, theo sát với lịch sử Do Thái, đã được truyền bá trên thế giới
bằng thập giá và lưỡi gươm, và sau này, bằng thực dân và súng đạn,
biến đổi từ một con dê tế thần (paschal lamb) của người Do Thái thành
đấng cứu thế cho cả nhân loại.
Trước khi đi vào phần nhận
định và kết luận của giám mục John Shelby Spong trong bài trên, tôi nghĩ
tôi nên thêm chút tài liệu về “di truyền đồng tạo” với hi vọng là
chúng ta có thể hiểu rõ hơn về chuyện “Giê-su sinh ra từ một nữ trinh”
và tín lý “Đức Mẹ thụ thai vô nhiễm nguyên tội” của giáo hội
Ca-Tô đưa ra.
Về chuyện Giê-su sinh ra từ một
trinh nữ, giáo sư Uta Ranke-Heinemann, người phụ nữ đầu tiên chiếm được
ngôi vị Giáo Sư Thần Học Ca-Tô, viết như sau:
Sự
sinh ra của Giêsu không nói đến một khái niệm nào về sự truyền giống
của con người. Không có sự dự phần
nào của người đàn ông, hoàn toàn không có.
Sự tạo nên Giêsu là tác phẩm sáng tạo đặc biệt của Thần Ki Tô,
có thể so sánh với sự sáng tạo ra Adam từ một nắm đất sét. Tuy nhiên, người đàn bà không phải là một
nắm đất sét. Tất cả câu chuyện về
phép lạ sinh ra từ một trinh nữ được dựng lên ở một thời mà không
ai biết gì về cái tế bào trứng của phái nữ.
Câu chuyện về sự sinh ra từ một trinh nữ chỉ có thể nói
lên ở một thời mà người đàn bà bị coi như là giữ một vai trò hoàn
toàn thụ động. Cho đến khi tế
bào trứng được khám phá ra năm 1827, các nhà Thần học, kể cả Luke và
Matthew, nghĩ rằng đàn bà không hơn gì một chậu đất để trồng hoa mà
người đàn ông đặt hạt giống của mình vào và từ đó sinh ra đứa trẻ. Lối suy nghĩ như vậy bắt nguồn từ
quan niệm về sinh học của Aristotle, coi người đàn bà như là cái bình chứa
trống rỗng để gây giống cho người đàn ông.
Người đàn ông làm tất cả trong sự truyền giống....
Do đó, theo cái mẫu cổ xưa này,
Matthew và Luke nghĩ rằng nếu loại bỏ một người cha trên trái đất sinh
ra Giêsu thì chỉ có mình Thần Ki Tô là chủ lực tạo ra Giêsu. Họ không thể nghĩ rằng, để sinh ra một
người, cần phải có hai cộng sự viên đồng đẳng, và dù cho con người
được thay thế bằng Thần, thì Thần cũng không phải là nguyên lý duy nhất
tạo ra con người.
Kể từ khi khám phá ra tế bào trứng
của người đàn bà - và do đó người đàn bà phải dự phần trong việc
truyền giống - ý tưởng truyền thống về chuyện Giê-su sinh ra từ một
trinh nữ do hành động sáng tạo đơn độc của Thần đã trở thành không
có cách nào có thể biện minh cho được.
Do đó, sự vô minh, thiếu hiểu biết,
đã được dùng làm nền tảng cho ý tưởng là Giê-su được sinh ra từ một
trinh nữ do quyền phép của Thánh Linh mà không cần đến giao hợp.
Ngoài
ra, chúng ta cần phải xét đến điều này: Trong trường hợp một trinh nữ
thụ thai thì tế bào đầu tiên của cơ thể
Giê-su phải là một tế bào của phái nữ.
Và nếu bằng một phép lạ nào đó mà cái tế bào này phân chia ra
mà không cần đến sự tham dự của người đàn ông, và tiếp tục phân
chia để hình thành một con người, thì cái sự thụ thai đồng trinh này,
khi sinh đứa bé ra, bắt buộc phải là một đứa bé gái.
(Uta Ranke-Heinemann, Putting Away Childish Things, pp. 43-44: The birth
of Jesus was not supposed to imply any notion whatsoever of human generation. There was no male contribution here, there was no
human contribution at all. The making of
Jesus was to be exclusively God's creative work. comparable to the creation of Adam from a
lump of clay. A woman, however, is not a
clump of clay. The whole miraculous narrative
of the virgin birth was composed at a time when nothing was known of the female ovum..The
story of the virgin birth could be composed only at a time when the woman was thought to
play a wholly passive role. Until the
discovery of the ovum, in 1827, theologians, including Luke and Matthew, thought that
women were nothing more than something like the soil, the flower pot, the petri dish into
which the man placed the seed, out of which the child then grew. Such thinking was rooted in Aristotelian biology,
which viewed the woman as an empty vessel for the masculine principle. Males did all the work of generation...
Thus,
following this ancient model, Matthew and Luke could think that if an eartly father was
excluded from the begetting of Jesus, the God alone would be the active force. They had no idea that to generate a person, two
equally active partners were needed, so that even if the man was replaced by God, God
would still not be the only active principle..
Ever since the discovery of the ovum - and
with it of the woman's share in reproduction - the traditional idea of the virgin birth as
an image of God's lonely creative action has become indefensible...
Thus ignorance served as the foundation for
the idea of a virgin birth from the Holy Spirit in a sex-free domain. After the discovery of the ovum, any further
claim that Mary gave birth virginally reduces God's role to that of a mere male
substitute...
In addition, we have to consider the
following: In the case of a virginal conception the first cell in Jesus' organism would
have to be a female cell. And if this female
cell miraculously were to begin to divide without the intervention of a man, so that a
human being came into existence through furthert cellular division, then such a virginal
pregnancy must inevitably issue in the birth of a female person.)
Giáo sư Uta Ranke-Heinemann
không giải thích tại sao sự thụ thai dồng trinh chỉ có thể sinh ra một
đứa con gái trong cuốn sách của bà. Có
lẽ bà cho rằng độc giả đều cập nhật hóa những kiến thức ngày nay
về sinh học, cho nên không cần giải thích.
Tôi không nghĩ vậy, nhất là đối với những tín đồ Ca-Tô Việt
Nam, cho nên tôi xin có vài lời giải thích để vấn đề thêm rõ ràng.
Khoa học ngày nay đã chứng
minh rằng: bộ đầy đủ “gien” (complete set of genes) của con người, danh
từ khoa học gọi là “genome”, gồm có 23 sắc tố (chromosome) thuộc cha
và 23 sắc tố thuộc mẹ, cặp với nhau thành 23 cặp riêng rẽ sắc tố. Các khoa học gia đã xếp các cặp sắc tố
này từ cỡ lớn nhất (số 1) cho tới cỡ nhỏ nhất (số 22), còn cặp sắc
tố sau cùng chính là cặp “sắc tố định giống” (sex chromosome) gồm có:
2 sắc tố X trong cơ thể của đàn bà, và 1 sắc tố X và 1 sắc tố Y nhỏ
hơn trong cơ thể của người đàn ông. Về
kích thước thì sắc tố X vào khoảng giữa hai cặp sắc tố 7 và 8, còn sắc
tố Y thì nhỏ nhất. Chính cặp sắc
tố sau cùng này sẽ quyết định đứa bé sinh ra là con trai hay con gái,
tóc vàng hay tóc đen, mắt nâu hay mắt xanh v..v..
Cơ thể con người có vào
khoảng 100 ngàn tỷ (Trillion) tế bào (cell).
Trong mỗi tế bào có một nhân (nucleus).
Trong nhân tế bào có 2 bộ đầy đủ genome: một bộ genome của người
cha và một bộ genome của người mẹ. Mỗi
bộ genome có vào khoảng từ 60000 đến 80000 “gien” (Genes).
Như trên đã nói, cặp sắc
tố quyết định giống của đàn bà là 2 sắc tố X (X,X), và của đàn
ông là 1 X và 1 Y (X,Y). Trong quá trình
truyền giống, nếu sắc tố X của đàn ông kết hợp với sắc tố X của
người đàn bà thì đứa trẻ sinh ra sẽ là con gái. Còn nếu sắc tố Y của người đàn ông
kết hợp với sắc tố X của người đàn bà thì đứa trẻ sinh ra sẽ là
con trai. Do đó, một mình Mary, nếu
thực sự thụ thai mà không do giao hợp với đàn ông và không có tinh khí
của đàn ông thì không thể nào sinh ra con trai được.
Đến đây tưởng chúng ta
cũng nên biết một chuyện: năm 1995, tại một làng bên Ý, hàng ngàn người
kéo đến xem bức tượng Mary khóc ra máu. Hiện
tượng này được giới “chăn chiên” giải thích là Đức Mẹ quá thương
xót thế gian tội lỗi (phần lớn thuộc 7 núi tội lỗi của giáo hội
Ca-Tô. TCN) nên khóc đến chảy máu mắt. Các
tín đồ cũng đều tin vậy, và càng sùng tín thêm lòng thương yêu bao la của
Đức Mẹ, không buồn để ý đến chuyện Mẹ là mẹ của Chúa “quyền
phép vô cùng” mà cũng bất lực trước những sự đau khổ của con người,
chỉ biết khóc thôi. Nhưng chuyện đáng
nói nhất ở đây là người ta đã lấy máu mắt này mang đi thử DNA và
khám phá ra rằng máu đó là của đàn ông, không thể là của đàn bà, vì
chứa những sắc tố X và Y (của đàn ông) chứ không phải là X và X (của
đàn bà). (Gospel Truth, p. 35: ..as
recently as 1995, a statue of the Virgin “weeping tears of blood” drew thousands to a
village in Italy, despite DNA analysis that proved the blood to be from a man).
Người ta đã làm đủ trò
để nhốt tín đồ vào trong vòng mê tín, thật là đáng buồn, nhưng khoa học
đã làm bớt đi phần nào mê tín.. Không
chịu nhận là mê tín và phi khoa học, phản lý trí, người Ca-Tô thường
đưa ra kiểu “lý luận” như của linh mục Thiện Cẩm chẳng hạn: “Thần
Cha toàn năng đã sáng tạo ra cả vũ trụ, vậy chuyện làm cho bà Mary thụ
thai vô nhiễm nguyên tội thì có khó khăn gì.”.
Họ dùng cái mê tín “toàn năng” để giải thích cái mê tín
“thụ thai vô nhiễm nguyên tội.”
- Sau
đây chúng ta sẽ đi vào phần kết của giám mục Spong. TCN]
-
Rất hiếm khi mà người
Ki Tô bình tâm nghĩ lại để nhận ra điều là họ đã biến Thần Cha của
họ thành con yêu tinh (ogre). Một người
cha mà đóng đinh con mình trên thập giá, bất kể với lý do nào, cần phải
bắt giam vì tội hành hạ trẻ con (child abuse).
Nhưng người ta vẫn tiếp tục nói về Thần Cha như vậy, làm như
ông ta sẽ trở nên thánh thiện hơn và đáng để thờ phụng hơn.
Cái
quan niệm về cứu chuộc của Ki Tô Giáo như trên càng ngày càng khiến cho
phần đông chúng ta khó chấp nhận hay tin. Tôi
chọn sự ghê tởm (loathe) thay vì thờ phụng một đấng thần linh đòi hỏi
sự hi sinh của con mình. Nhưng trên
nhiều khía cạnh khác, toàn thể cái hệ thống thần học này, với những
điều mà họ tin, đã bị tan ra thành từng mảnh trong thế giới hậu hiện
đại (post-modern) của chúng ta. Hệ thống thần học này cần phải vứt
bỏ ra khỏi đầu óc con người.
Sự tan ra từng mảnh này
bắt đầu với nhận định là Adam và Eve không phải là hai tổ đầu tiên
của nhân loại và rằng tất cả sự sống của con người không xuất
phát từ hai người trên. Thuyết Tiến
Hóa đã làm cho câu chuyện về Adam và Eve nhiều nhất là một truyền thuyết. Thuyết Tiến Hóa không dễ cho các tổ chức
tôn giáo chấp nhận, và ngày nay, nhiều tiếng nói vẫn cất lên từ những
ốc đảo xa xôi trong thế giới để chống đối. Những tiếng nói này không bao giờ có thể
thành công.
Điều rõ ràng là sự sống
của con người đã nằm trong một quá trình tiến hóa trải dài từ 4 tỷ
rưỡi đến 5 tỷ năm. Không làm gì
có 2 người đầu tiên, do đó cái hành động không vâng lời lúc ban đầu
của 2 người đầu tiên đó không thể nào có ảnh hưởng gì đến nhân
loại. Huyền thoại cứu chuộc đã bị
một đòn nặng khai tử (death blow), và cái câu chuyện vững chắc về cứu
chuộc, xây dựng bởi giáo hội qua nhiều thời đại, bắt đầu chao đảo.
Hầu hết chúng ta không ý
thức được rằng Darwin đã gây khó khăn lớn hơn nữa cho nền thần học
Ki Tô Giáo khi những kết quả nghiên cứu của ông đã thành công thách đố
quan niệm về một sự sáng tạo rất tốt đẹp của Thần Cha. Bảo rằng sự sáng tạo của Thần Cha rất
tốt đẹp uẩn hàm là công cuộc sáng tạo đã hoàn tất. Tuy nhiên, Darwin cho chúng ta thấy sự sáng
tạo chưa hề chấm dứt. Các thiên
hà vẫn tiếp tục được tạo ra. Sự
sống của con người vẫn đang tiến hóa. Đột
nhiên, toàn thể cái khung huyền thoại trong đó vai trò của Giê-su được
dựng lên (như là đấng cứu thế) sụp đổ.
Cái gì là nguyên tội? Nó không
phải và không bao giờ là sự xa lìa sự hoàn mỹ mà Thần Cha, trong công
cuộc sáng tạo, dự định ban cho chúng ta, vì không có cái gì là sự sáng
tạo hoàn mỹ.
Do đó, không làm gì có sự
sa ngã vào nguyên tội. Loài người chúng
ta đã từ từ xuất hiện, nhưng chắc chắn là từ một quá trình tiến
hóa trong nhiều tỷ năm. Chúng ta
không được tạo ra như hình ảnh của Thần Cha như được viết trong Thánh
Kinh. Chúng ta chỉ đơn giản tiến hóa
từ những dạng sống thấp hơn và cuối cùng đã phát triển một tâm thức
cao hơn. Mục đích của sự “sáng tạo”
không hẳn là đã hoàn thành với sự xuất hiện của loài người, vì sự
sống của loài người, như chúng ta đã biết, mới chỉ vào trong lịch sử
của trái đất rất gần đây. [Tổ tiên xa của loài người mới chỉ xuất
hiện trên trái đất khoảng vài triệu năm nay, trong khi tuổi của trái đất
đã là 4 tỷ rưỡi năm, và tuổi của vũ trụ là khoảng 13.9 tỷ năm (kết
quả mới nhất). TCN] Ngày
nay, có rất nhiều lý do để tin rằng nhân loại như chúng ta (Homo sapiens)
không phải là tồn tại vĩnh viễn. [Các khoa học gia đã ước tính là
trái đất chỉ có thể tồn tại khoảng 5 tỷ năm nữa. TCN]
Quan niệm về người đầu
tiên (Adam) sa ngã vào tội lỗi thì có nghĩa gì đối với những tạo vật
chỉ mới tiến hóa vào thế giới gần đây, và không có một bằng chứng
nào chứng tỏ là loài người sẽ tồn tại vĩnh viễn. Làm sao có thể sa ngã vào tội lỗi khi
không có một cái gì hoàn mỹ để mà sa ngã từ đó? Cái thứ Thần gì mà lại đòi hỏi chúng
ta một sự hi sinh tế thần để vượt qua bức tường ngăn cách mà ngày
nay chúng ta biết rằng không hề hiện hữu.
Tại sao chúng ta phải tin vào hình ảnh của một đấng thần linh cứu
thế, tự hi sinh để trả cái giá nguyên tội (không hề có) cho chúng ta? Ở thời điểm này, những hiểu biết
truyền thống về lịch sử “cứu rỗi” và những lý thuyết về “chuộc
tội”, tất cả đều sụp đổ, kể cả những diễn giải truyền thống
mà chúng ta áp đặt trên cây thập giá ở Calvary. Tất cả những diễn giải này làm cho
chúng ta dính vào những hình ảnh của một ông Thần ở ngoài thế gian, xử
sự như là một con người đồng bóng, tính khí thất thường, có quyền lực,
không hài lòng với cung cách ăn ở của con người và đòi hỏi một loại
phục hồi. Chúng làm cho chúng ta
dính vào một định nghĩa về đời sống của con người như là mang tội
và sa ngã.
Tuy vậy, đơn giản thì
cái vị Thần ở ngoài thế gian này đã chết, và những định nghĩa về sự
sống của con người đã từng bắt chúng ta phải mơ ước những hành động
chuộc tội, hi sinh, và những chuyện về sự can thiệp của thần thánh,
ngày nay thật là vô nghĩa. Do đó, tuyệt
đại đa số (the vast majority) những ngôn ngữ truyền thống về Giê-su đã
trở nên không còn tác dụng gì. Giê-su,
như là sứ giả của chương trình cứu chuộc thần thánh của Thần Cha,
không còn là Giê-su có thể hấp dẫn hay làm cho con người tin trong thế kỷ
này.
Nhân loại chúng ta không sống
trong tội lỗi. Chúng ta không sinh ra
trong nguyên tội. Chúng ta không cần
phải rửa sạch cái tì vết của tội tổ tông trong lễ rửa tội. Chúng ta không phải là những tạo vật sa
ngã, mất đi sự cứu rỗi nếu không đi rửa tội.
Chúng ta xuất hiện từ một
quá khứ tiến hóa, và chúng ta vẫn còn đang được tạo thành. Sự bất toàn của con người là một dấu
hiệu của bộ hành lý mà chúng ta mang trên mình như là những kẻ sống
sót của cái quá khứ lâu dài và khó khăn đó. [Giám mục Spong muốn nói về
thuyết “Chọn Lọc Thiên Nhiên” (Natural Selection) và “Thích Ứng Nhất Với
Hoàn Cảnh Xung Quanh” (Best Fit) để sống còn của Darwin. TCN] Chúng ta là những kẻ mang trên mình “hạt
giống di truyền ích kỷ” (the selfish gene), theo lời của nhà Sinh Học Anh
Quốc Richard Dawkins. Đây chính là sự
mô tả đơn giản con người. Đó là
đặc tính của con người.
Một đấng “cứu thế”
có nhiệm vụ khôi phục chúng ta trở về tình trạng tiền sa ngã [nghĩa là
mù và vô trí. TCN] chỉ là sự mê tín trước thời Darwin (Pre-Darwin
superstition) và là sự vô nghĩa sau thời Darwin (Post-Darwin nonsense). Một đấng siêu nhiên cứu chuộc đi vào
trong thế giới sa ngã của chúng ta để khôi phục sự sáng tạo chỉ là một
huyền thoại của đạo thờ Thần (a theistic myth). Do đó, chúng ta phải vứt bỏ cái vai trò
“cứu thế” của Giê-su đi. Cái
hình ảnh Giê-su trong câu nói “như là một đấng, từ thiên đường xuống
để cứu vớt chúng ta” không còn một giá trị nào trong thế giới của
chúng ta. Những quan niệm này cần phải
nhổ bật chúng lên từ gốc rễ, và vứt bỏ.
Về trang Nghiên cứu
& đối thoại tháng 7-2003
Home | Go top page |
Về trang mục lục