curley_sw.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw.gif (1967 bytes)

.......... .
 

                                                                

THỬ TÌM HIỂU MỘT DIỄN BIẾN LỊCH SỬ:

CUỘC HỘI KIẾN GIỮA HÒA THƯỢNG HUYỀN QUANG
VÀ THỦ TƯỚNG PHAN VĂN KHẢI

 

    

Trần Chung Ngọc       

Không ai có thể phủ nhận là cuộc hội kiến giữa Hòa Thượng Huyền Quang và Thủ Tướng Chính Phủ Phan Văn Khải chiều ngày 2/4/2003 là một diễn biến lịch sử quan trọng, nhất là đối với những người hằng quan tâm đến đất nước. Cuộc hội kiến lịch sử này đã được giới truyền thông hải ngoại tận tình khai thác và “bình luận”. Những bản tin trên trang nhà Thư Viện Hoa Sen (thuvienhoasen.org) rất nghiêm túc và có vẻ sát với sự thực nhất. Còn giới chống Cộng chết bỏ thì vẫn tiếp tục nhận định với luận điệu chống Cộng chết bỏ như trước [Xin đọc những bài của Lý Thái Hùng, Lý Đại Nguyên v..v.. trên trang nhà Phật Tử Việt Nam]. Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế (PTTPGQT) của ông Võ Văn Ái ở Paris vội vàng tung ra mấy bản “thông cáo báo chí “ (sic), chẳng biết là cho những báo chí nào. Cũng như bao nhiêu thông cáo báo chí của PTTPGQT trước đây, có bao nhiêu phần trăm thật, giả trong đó, chắc quý độc giả cũng đã đoán ra rồi.  Riêng tôi, khi đọc những bản thông cáo báo chí ngày 5 tháng 5 và 12 tháng 5, 2003 của PTTPGQT, tôi thấy qua bao nhiêu năm PTTPGQT chẳng tiến bộ được chút nào, theo nghĩa trong bản thông cáo có những điều mâu thuẫn và ngớ ngẩn đến độ buồn cười. Trên trang nhà Quảng Đức, có bài của cư sĩ Minh Mẫn, đặc biệt có nhiều ý kiến có tính cách xây dựng.  Mừng vậy thay. Nhưng cũng lại có bài của “Điền dã tăng Quảng Ba” với  văn phong đúng là của một “điền dã tăng”, thuộc loại “tố Cộng ngút trời” của chính quyền Ngô Đình Diệm cách đây 46 năm, một bài mà tôi cho rằng không một Tăng nào nên viết.  Buồn vậy thay.  

     Tôi không rõ ở trong nước dư luận ra sao, và có dư luận hay không, nhưng qua mấy bài tôi đọc trên trang nhà Phật Tử Việt Nam và mấy bản “thông cáo báo chí” của PTTPGQT, thì rõ ràng là những ý kiến trong đó đầy vẻ tiêu cực và nghi ngờ.  Cũng phải thôi, vì nghi ngờ và nhìn mọi sự việc ở quê nhà qua những cặp kính màu đen thì không bao giờ có thể thấy một điểm sáng nào.  Chưa kể, nghi ngờ, xuyên tạc sự việc, và bám vào những sự kiện trong quá khứ  là nghề của một số người  sống về cái nghề mà họ tự cho là “tranh đấu”, là “chống Cộng”, nhưng thực ra chỉ vì đồng tiền bát gạo, bất kể liêm sỉ, bán rẻ lương tâm trí thức, luôn luôn muốn nuôi dưỡng, duy trì những đối tượng “tranh đấu”, những đối tượng đưa đến miếng cơm manh áo của họ.  

   Tôi viết bài này với tinh thần tích cực, lạc quan, qua sự phân tích sự việc theo cái hiểu của tôi. Lẽ dĩ nhiên, cái hiểu của tôi chỉ là cái hiểu cá nhân, do đó rất giới hạn, nhưng không thiếu thiện chí và thành tâm. Vì không được đích thân nghe những lời đối thoại giữa HT Huyền Quang và TT Phan Văn Khải, và cũng vì không có mặt ở quê nhà để theo sát sự việc, cho nên tôi không có cách nào khác là tổng hợp những bài tôi đã đọc ở trên và phân tích sự việc qua những chi tiết nằm trong các bài đó. Chi tiết nào đúng, chi tiết nào sai?  Tôi hi vọng qua sự phân tích này chúng ta có thể thấy được vài tia sáng trong cái mà có người mệnh danh là một bước ngoặt lịch sử của Phật Giáo Việt Nam.

   Trước khi đi vào phần phân tích, tôi nghĩ có lẽ chúng ta cũng cần duyệt sơ qua vài ý kiến hải ngoại để từ đó chúng ta có thể thấy rõ vấn đề hơn.  Trước hết là mấy cái “thông cáo báo chí” của PTTPGQT ở Paris của ông Võ Văn Ái, sau đến vài ý kiến của các ông Lý Thái Hùng, Lý Đại Nguyên, Minh Mẫn v..v..

   Đọc hai bản thông cáo của PTTPGQT ở Paris của ông Võ Văn Ái tôi có cảm tưởng là nhất cử nhất động của HT Huyền Quang nơi quê nhà đều phải báo trước cho PTTPGQT ở Paris của ông Võ Văn Ái, và sau mỗi hoạt động nơi quê nhà Ngài cũng lại phải báo cáo cho PTTPGQT ở Paris của ông Võ Văn Ái, để ông Ái ra thông cáo cho các báo chí tuy rằng chẳng có bao nhiêu báo chí chịu đăng.  Không đăng là phải vì thông cáo của PTTPGQT chẳng phải là thông cáo về một vấn đề hay một biến cố nào đó, mà là hầm bà lằng những chi tiết vụn vặt không đáng biết xung quanh cuộc hành trình của HT Huyền Quang và những lời nhận định, bình luận ấm ớ, lạc lõng mà chẳng có ai cho vào một bản “thông cáo”.

    Trước hết, chúng ta hãy đọc những câu sau đây: “Trước khi lên đường đi Huế, Đại Lão Hòa Thượng Thích Huyền Quang có cho Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế biết ý định là sau Huế sẽ lấy máy bay đi thẳng Saigon thăm Hòa Thượng Thích Quảng Độ.” (Thông cáo báo chí làm tại Paris ngày 5/5/2003) và “Đại Lão Hòa Thượng Thích Huyền Quang cho Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế biết rằng, cuộc gặp gỡ với ông Lê Thanh Hải diễn ra trong không khí cởi mở.” (Thông cáo báo chí làm tại Paris ngày 12/5/2003).  PTTPGQT không cho biết là HT Huyền Quang đã “thông báo trước khi đi Saigon” và “báo cáo sau khi gặp ông Lê Thanh Hải” với PTTPGQT bằng cách nào, điện thoại? điện thư? Fax?  Và tại sao HT phải làm như vậy?  Nếu tôi đoán không lầm thì chuyện “Đại Lão Hòa Thượng Thích Huyền Quang cho Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế biết ” chỉ là chuyện “phịa” của PTTPGQT, tự nhận là “tiếng nói chính thức” của HT, mượn danh HT Huyền Quang để tự tạo cho mình uy tín.  Điều này không bịp được ai.

     Thật vậy, cho tới bây giờ thì ai cũng biết là ông Ái lãnh tiền của cơ quan Mỹ National Endowment for Democracy (NED = CIA trá hình) để hoạt động cho Tự Do Tôn Giáo và Quyền Làm Người (sic) ở Việt Nam, nấp sau bình phong tự phong PTTPGQT và “Quê Mẹ Paris”, với mục đích chính là khuynh đảo chính quyền Việt Nam, mượn chiêu bài nhân quyền và tự do tôn giáo để dọn đường cho những yêu sách về kinh tế của Mỹ đối với chính quyền Việt Nam và nếu có thể, khuynh đảo chính quyền Việt Nam qua những chiêu bài dân chủ và đa nguyên.  Không lẽ HT Huyền Quang không biết đến sự kiện này hay sao mà còn dính với một tổ chức lãnh tiền của ngoại bang, làm tay sai cho ngoại bang, mà nhất cử nhất động còn  phải thông báo cho PTTPGQT biết?  Chẳng có lẽ Ngài tự kéo mình từ một bậc cao Tăng yêu nước, yêu dân tộc, xuống hàng tay sai cho ngoại bang?  Hay là Ngài không biết đến bộ mặt thật của Võ Văn Ái?  Không thể không biết, vì nhân dịp Tết 2001, Tâm Đạt đã trình bày cùng HT vai trò của Võ Văn Ái ở Hải Ngoại như sau [Xin đọc một đoạn bài Những Lần Đi Thăm Quý Thầy Huyền Quang, Quảng Độ, Đức Nhuận và Trí Quang”, của Tâm Đạt trên trang nhà Giao Điểm (giaodiem.com)]:

Tâm Đạt:  Con hôm nay gặp thầy cũng là do anh em Giao Điểm trao cho bức thư chúc Tết của Hòa Thượng, để tìm hiểu có phải Hòa Thượng viết không?Nội dung bức thư rất bất lợi cho Phật Giáo, như thế con đã hiểu rồi, Võ Văn Ái đã sửa ý thư của Hòa Thượng.  Đây con xin dâng bức thư chúc Tết để Hòa Thượng đọc lại.  Luôn tiện con kính biếu số sách báo và tài liệu tiếng Anh về việc Võ Văn Ái nhận tiền Cơ Quan Quốc Gia Tài Trợ Cho Dân Chủ [NED, Xin đọc thêm chi tiết về cơ quan này trong bài Quê Mẹ! Nhưng Mẹ Nào? của Trần Chung Ngọc trên trang nhà Giao Điểm và trên báo Giao Điểm, số 48].   Cho nên con xin thưa cùng Hòa Thượng là Võ Văn Ái làm tay sai cho Mỹ, chứ không phải vì Phật Giáo.   Hòa Thượng và thầy Quảng Độ viên tịch thì job chống Cộng nhận tiền Mỹ cũng viên tịch.  Những sách báo con kính dâng lên thầy sẽ hiểu rõ Sư Tử Trùng Võ Văn Ái vì sự sống tiện nghi vật chất của phương Tây sẵn sàng phản quốc, làm tay sai cho thực dân đế quốc đánh phá Việt Nam và lợi dụng nhị vị Hòa Thượng để mưu cầu sự sống cho Ái.

   Dù Ngài có còn bán tín bán nghi thì Ngài cũng có cách kiểm chứng những tài liệu của Tâm Đạt là thật hay giả. Vả chăng, từ 2001 đến nay, bộ mặt thật của Võ Văn Ái ra sao, chắc Ngài cũng đã phải biết rõ. Có phải vì những thông tin như vậy nên trong Thông Điệp Xuân Quý Mùi HT Huyền Quang đã nhắc đến nạn “sư tử trùng” tuy không chỉ đích danh Võ Văn Ái? Cách sử sự của một cao Tăng là như vậy. Cũng như đối với Thầy Nhất Hạnh, ai cũng biết Võ Văn Ái là một phản đồ của Thầy, bôi nhọ Thầy. Nhưng mỗi khi nhắc đến tên phản đồ, Thầy vẫn nhã nhặn gọi là “Anh Ái ...”

   Điều đặc biệt của mấy bản thông cáo là, chính trong bản thông cáo, ông Ái đã để lộ bộ mặt thật của mình là làm tay sai cho ngoại bang để chống phá Việt Nam bất kể đến sự thật.  Chứng minh?

   Mới đầu năm nay, trong cuộc phỏng vấn của đài Chân Trời Mới, ông Ái lên án nhà nước Việt Nam là: Họ áp dụng Nghị định 31/CP (năm 1997) quản chế bất cứ ai bất đồng chính kiến. Nghị định này biến  nhà ở thành nhà tù, biến chùa viện, giáo đường thành nhà giam tại chỗ... biến miền Nam cũ thành một Nhà tù lớn...” và ông cũng đã tự khoe là đã đi khắp thế giới để “đưa ra những tư liệu tố cáo những vi phạm nhân quyền và tự do tôn giáo ở Việt Nam.” Nhưng trong bản thông cáo báo chí ngày 5/5/2003 ông viết:

   Sau chuyến đi Hà Nội trở về, Đại Lão Hòa Thượng Thích Huyền Quang quyết định vào Saigon viếng thăm Hòa Thượng Thích Quảng Độ.   Nhưng chu Tăng Thừa Thiên mời Hòa Thượng trở lại Huế hôm 21.4 để dự lễ kỵ năm thứ mười Cố Đại Lão Hòa Thượng Thích Đôn Hậu tại Chùa Linh Mụ.  Ba nghìn Phật tử và gần ba trăm chư Tăng Ni chờ đón. Phật tử đã rước Hòa Thượng lên kiệu đưa từ bờ sông Hương lên tới chánh điện.  Chư Tăng Ni và Phật tử Huế vô cùng hân hoan, phấn khởi, vì chưa có năm nào lễ kỵ Đức Đệ Tam Tăng Thống đông đảo và thân tình như năm nay.” Đây là chuyện ở Huế.  Còn ở TP HCM thì sao?  Ông Ái viết: “Vì chuyến đi bất ngờ, không chuẩn bị loan báo trước, thế nhưng trên một nghìn chư Tăng NI, Phật tử đã tự động đến chùa Ấn Quang chờ đón từ lúc 3 giờ chiều.  Nhưng mãi đến 19 giờ 30 xe Hòa Thượng mới đến.”  Và Ông Minh Mẫn cũng viết: “..Số tăng ni phật tử nội ngoại thành (Saigon) không ai bảo ai, tự động qui tụ về chùa chờ đón từ lúc 14 giờ trong ngày, cũng như những nơi ngài đi qua... Một cuộc đón tiếp không thông báo rộng rãi và công khai, nhưng những tăng tín đồ vẫn công khai đón tiếp rộng rãi.

    Vậy thì Việt Nam có phải là một cái nhà tù lớn trong đó nhà ở biến thành nhà tù, chùa viện, giáo đường thành nhà giam tại chỗ.. hay không, và Việt Nam có Tự Do Tôn Giáo hay không?  Nếu không thì chỉ có một giải thích: Ba nghìn Phật tử và gần ba trăm chư Tăng Ni chờ đón HT Huyền Quang ở Huế và trên một nghìn chư Tăng Ni, Phật tử đã tự động đến chùa Ấn Quang chờ đón từ lúc 3 giờ chiều  đều là “Quốc doanh” cả. Có ai tin được chuyện này không?  Riêng tôi, tôi không đến nỗi đần độn mà tin như vậy.  Tại sao? Vì tất cả Tăng, Ni, Phật tử đều tự động đến Chùa Linh Mụ và Ấn Quang chờ đón HT Huyền Quang.  Vậy thì chúng ta có thể kết luận như thế nào? PTTPGQT ở Paris của ông Võ Văn Ái chẳng qua chỉ sử dụng HT Huyền Quang như một quân cờ để kiếm tiền của NED qua những hoạt động theo chỉ thị như chống Cộng khi đã không còn Cộng, và tranh đấu cho Tự Do Tôn Giáo khi đã có Tự Do Tôn Giáo.  Và những hoạt động “tranh đấu” cho Tự Do Tôn Giáo và Quyền Làm Người của ông Ái ngồi ở Paris, và những tư liệu của ông đưa ra tố cáo Việt Nam không có Tự Do Tôn Giáo chẳng qua chỉ là những chuyện bịa đặt vô liêm sỉ, có bao nhiêu giá trị?  Câu trả lời là một con số không vĩ đại.  Tin rằng ông Ái thật sự tranh đấu cho Phật Giáo thì cũng chẳng khác gì  tin rằng trái đất phẳng và dẹt, đó là điều không thể nào có. 

    Tôi rất kính trọng các bậc tôn đức trong Phật Giáo như quý Thầy Huyền Quang, Quảng Độ v..v.. và tán thán ý chí tranh đấu cho dân tộc và Đạo Pháp của quý Ngài.  Tôi cũng không phủ nhận công đức vô lượng của quý Ngài trong quá trình tranh đấu cho dân tộc và Đạo Pháp, đưa đến sự chuyển hóa suy tư và thay đổi chính sách của nhà nước đối với Phật Giáo.  Nhưng tôi không thể chấp nhận sự đồng nhất hóa quý Ngài với Phật Giáo.   Quý Ngài là những bậc tôn kính trong Phật Giáo nhưng không phải là Phật Giáo Việt Nam.  Lý do là Phật Giáo Việt Nam rất đa dạng và chúng ta không nên quên là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã ra đời trong một hoàn cảnh đặc biệt ở miền Nam Việt Nam, và chỉ ở miền Nam Việt Nam mà thôi.  Chúng ta không bao giờ nên quên sự kiện này để sống trong một hào quang mà thực chất có tính cách loại trừ, xét đến tình trạng thống nhất của đất nước sau 1975.  Và cũng vì vậy, tôi không thể chấp nhận quan niệm là nhà nước quản chế HT Huyền Quang và HT Quảng Độ có nghĩa là quản chế Phật Giáo Việt Nam.  Tôi không thể chấp nhận quan niệm đánh đồng sự tự do của các HT Huyền Quang và Quảng Độ với Tự Do Tôn Giáo.  Và đây chính là quan niệm mà một số không nhỏ cơ quan truyền thông hải ngoại cố tình gán ép để chống Cộng.

   Có một chi tiết khác trong bản thông cáo báo chí của PTTPGQT làm cho tôi thực sự ngỡ ngàng trước trình độ của người cầm đầu PTTPGQT.  Chúng ta có thể đọc:

   Duy phần giới thiệu làm cho người tham dự thắc mắc, vì sao Sư Giác Toàn thay mặt Ban Trị Sự giới thiệu chư Tôn Đức có mặt, ai cũng được giới thiệu đầy đủ tên hiệu, chức vụ trong giáo hội, riêng Đại Lão Hòa Thượng Thích Huyền Quang là thượng khách thì lại chỉ giới thiệu pháp hiệu nhưng không giới thiệu chức vụ và Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất?  Nhiều người xầm xì giữa chánh điện chùa Ấn Quang: “Giới thiệu giống báo Nhân Dân quá!”

    PTTPGQT thông cáo cái gì ở đây?  Nhưng thắc mắc này hơi ngớ ngẩn và thiếu hiểu biết. Tại sao?   Vì, thứ nhất, trên thực tế, GHPGVNTN với danh nghĩa chính thức, đã không còn tồn tại.  Nhà nước đã giải thể GHPGVNTN, và chưa có văn thư phục hoạt GHPGVNTN, do đó Sư Giác Toàn không thể giới thiệu chức vụ của HT Huyền Quang trong một Giáo hội đã không còn tồn tại, bất kể là đối với chúng ta, HT Huyền Quang vẫn là vị cao Tăng đáng kính, Xử Lý Thường Vụ Viện Tăng Thống, GHPGVNTN.  Vậy trách Sư Giác Toàn là không giới thiệu chức vụ của HT Huyền Quang trong GHPGVNTN là trách không đúng chỗ, và không hợp lý.  Thứ nhì, với những sự đón tiếp của Tăng Ni Phật Tử như đã được mô tả thì tất nhiên chúng ta phải hiểu rằng các Tăng Ni Phật Tử đã biết HT Huyền Quang là ai cho nên mới tự động qui tụ đón tiếp Ngài như vậy.  Vậy  HT có cần đến Sư Giác Toàn phải giới thiệu chức vụ của HT không và thực tâm Ngài có muốn đưa Sư Giác Toàn vào một vị thế khó xử đối với chính quyền không.  HT đâu có phải là người hám danh, hám chức vụ. Ngài thường dạy Phật tử phải bỏ chấp danh, chấp tướng.   Ông Ái đã lấy cái tâm ham danh lợi của mình để xét đoán sự việc và viết lên một đoạn không ở trong tinh thần của một bản thông cáo.

     Thứ đến, chúng ta hãy phân tích ý kiến của ông Lý Thái Hùng trong bài “Khúc Quanh Mới Của Phật Giáo Việt Nam” trên trang nhà Phật Tử Việt Nam:

     Những diễn biến này cho thấy là Hà Nội đã và đang có những thay đổi trong cung cách đối xử với Ngài Huyền Quang.  Cần một thời gian nữa ta mới biết rõ dụng ý của Hà Nội trong việc thay đổi này; nhưng qua sự kiện để cho Ngài Huyền Quang trở về cư trú tại Bình Định và sắp xếp chuyến đi Huế cũng như Saigon, Hanoi đang nhắm vào hai chủ đích: Một là “lấy lòng” Ngài Huyền Quang để xí xóa cục nhọt mà chế độ khó giải quyết trong nhiều năm qua về việc đã quản chế Ngài trong suốt 21 năm mà không hề xét xử.  Hai là tuyên truyền trong dư luận quốc tế và cộng đồng người Việt rằng chế độ không còn khống chế Phật Giáo, qua các hình ảnh đón tiếp trọng thể.  Quả thật là Hà Nội đã tương kế bằng cách khai thác mối quan tâm của dư luận về Hòa Thượng Thích Huyền Quang để bắt đầu những thủ đoạn lấy lòng mang tính giai đoạn, vì sau giai đoạn này, Hà Nội sẽ bắt đầu tìm cách khuynh loát nội bộ giữa hai giáo hội để ép đi đến chỗ thống nhất.  Hà Nội sẽ khó có thể đạt được tham vọng này..”

     Chuyện khôi hài trong đoạn trên là ông Lý Thái Hùng viết “Cần một thời gian nữa ta mới biết rõ dụng ý của Hà Nội trong việc thay đổi này” nhưng rồi ngay sau đó ông vạch ra hết những mục đích của Hà Nội mà ông có sẵn trong đầu.  Tôi có một thắc mắc:  cuộc hội kiến giữa HT Huyền Quang và TT Phan Văn Khải là kết quả của sự thay đổi hai chiều hay một chiều.  Có ai dám khẳng định đó chỉ là sự thay đổi một chiều từ phía Hà Nội?  Ai dám khẳng định là HT Huyền Quang không thay đổi thái độ đối với nhà nước?  Ông Hùng cũng còn đồng nhất hóa HT Huyền Quang với Phật Giáo, vì theo ông, không khống chế HT có nghĩa là không khống chế Phật Giáo.  Nhưng cho rằng “Hà Nội sẽ bắt đầu tìm cách khuynh loát nội bộ giữa hai giáo hội để ép đi đến chỗ thống nhất” là ông Hùng không biết gì về tình hình Phật Giáo Việt Nam ở trong nước cũng như ở hải ngoại, và cũng không biết gì luôn về Hà Nội.  Tôi có thể khẳng định là, việc thống nhất và hòa hợp giữa hai giáo hội là nguyện vọng chung của tuyệt đại đa số Phật tử, Tăng cũng như tục, ở trong nước cũng như ở hải ngoại, chứ không phải là Hà Nội có cái tham vọng này.  Tôi sẽ chứng minh điều này trong một phần sau.

   Cuối cùng là vài ý kiến của ông Lý Đại Nguyên.  Cũng như ông Lý Thái Hùng, ông Lý Đại Nguyên cho rằng: “..Đảng muốn Hòa Thượng Huyền Quang phải tự nguyện đem Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất trộn chung với thứ giáo hội Việt Nam Đảng Lập mà đặt trong Mặt Trận Tổ Quốc do đảng sai bảo.”, một nhận định hoàn toàn sai như tôi sẽ chứng minh sau.

Trong bài dài hơn trang giấy, ông Lý Đại Nguyên đã luôn luôn phân biệt Giáo Hội Dân Lập (GHPGVNTN) với Giáo Hội Đảng Lập (GHPGVN) mà trước đây ông thường gọi là giáo hội “quốc doanh”.  Rồi ông Lý Đại Nguyên viết như sau:

   Ngài (HQ) đã đến các viện tự không phân biệt do Giáo Hội Đảng Lập quản trị, hay do Giáo Hội Dân Lập tu trì, tất cả đều đón rước Ngài như một vị Thầy Tổ từ nơi lưu đầy trở về.  Ngài cũng rất an nhiên thoải mái như bước vào chùa cũ của Giáo Hội mình.  Ngài không nhìn các bậc tôn túc, tăng, ni, bề ngoài phải sinh hoạt trong Giáo Hội Đảng Lập, bằng con mắt phân biệt của thế tục, như đảng Cộng Sản mong muốn.”

     Như vậy thì rõ ràng là HT Huyền Quang đã trộn chung Giáo Hội Dân Lập với Giáo Hội Đảng Lập rồi, còn gì nữa.  Nhưng ông Lý Đại Nguyên đã nhìn hai Giáo hội với con mắt phân biệt của thế tục, đúng như đảng Cộng Sản mong muốn.  Sự khác biệt giữa Ngài Huyền Quang và Phật tử Lý Đại Nguyên thật là rõ rệt, có phải như vậy không?  Tôi có một lời khuyên: Mỗi khi soi gương, ông Lý Đại Nguyên nên coi kỹ xem khuôn mặt của mình là khuôn mặt của một người như thế nào, thường là tâm địa con người nó hiện trên nét mặt. Cuối bài, ông Lý Đại Nguyên ra lệnh cho đảng CSVN, cái đảng đã mở lượng hải hà cho phép ông xuất ngoại đoàn tụ với gia đình ở Mỹ:  Con đường tự cứu lấy mạng sống của nhóm cầm đầu cộng sản Việt Nam là phải mau mau dân chủ hóa, mà ra đi êm đềm.  Đừng để xẩy ra như trường hợp Saddam Hussein thì thảm lắm đấy.”

   Có lẽ ở trên cõi đời này chỉ có cái thứ nhà văn như Lý Đại Nguyên (Xin bỏ 3 chữ cuối trong tên Nguyên cho nó thích hợp) mới viết nổi một câu như vậy, phản ánh một kiến thức thảm hại về tình hình thế giới trong đó có Việt Nam.  Chưa kể là ông ta có cái dã tâm của kẻ phản quốc, muốn cho Mỹ “phá nát Việt Nam để cứu Việt Nam” như ngày xưa đã từng phá nát tỉnh Bến Tre để cứu Bến Tre, nếu CS không tự giải thể, ra đi êm đềm?  Không một người nào trong giới hiểu biết lại có thể có một trình độ thấp kém đến độ có thể so sánh Việt Nam với Iraq.  Thật là quá ngây thơ khi tin rằng Mỹ đánh Iraq vì Saddam Hussein độc tài, tàn bạo, và với mục đích giúp dân Iraq “dân chủ hóa” Iraq.  Đó chỉ là những chiêu bài đạo đức giả trên đầu môi chót lưỡi của Mỹ do các giới truyền thông, nằm trong tay các nhà đại tư bản Mỹ, đưa ra để mua sự ủng hộ của quần chúng.  Ngày nay, ai cũng rõ, Mỹ đánh Iraq chính yếu là để nắm quyền kiểm soát kho dầu hỏa lớn thứ nhì trên thế giới.   Trước khi tấn công Iraq mấy tháng, báo chí Anh đã phanh phui ra vụ Phó Tổng Thống Cheney họp với mấy hãng dầu lớn của Mỹ để hoạch định chia chác vấn đề khai thác dầu hỏa ở Iraq.  Tôi xin đặt cho ông Lý Đại Nguyên và bất cứ ai tin rằng trong tương lai Mỹ có thể tấn công Việt Nam giống như Iraq để “dân chủ hóa” Việt Nam mấy câu hỏi:

1) Những lý do chính quyền Bush viện ra để tấn công Iraq bất kể đến sự phản đối của Liên Hiệp Quốc là như thế nào? Mỹ có thể viện ra cùng những lý do đó để tấn công Việt Nam không?

2) Có phải là vì có mấy người như Võ Văn Ái, Lý Đại Nguyên, Đoàn Viết Hoạt, Nguyễn Chí Thiện ở hải ngoại, hoặc vì Liên Tôn, Công Giáo chống Cộng nên Mỹ cũng sẽ tấn công Việt Nam như đã tấn công Iraq?

3)  Trên thế giới có bao nhiêu chính quyền độc tài còn tệ hơn Việt Nam rất nhiều, tại sao Mỹ không tấn công để “dân chủ hóa” các chính quyền này?

4) Trung Quốc có những vụ như Thiên An Môn, Pháp Luân Công v..v.., tại sao Mỹ không tấn công Trung Quốc để “dân chủ hóa” Trung Quốc.

    Trả lời đúng được mấy câu hỏi này thì các ông sẽ thấy rõ vấn đề và sẽ thấy câu ông Lý Đại Nguyên viết ở trên thật là lố bịch, phản ánh một kiến thức không thể gọi là kiến thức của ông ấy.

      Sau đây là vài nhận định của tôi về cuộc hội kiến giữa HT Huyền Quang và TT Phan Văn Khải.

     Với tinh thần lạc quan, tôi nhìn cuộc hội kiến lịch sử giữa HT Huyền Quang và Thủ Tướng Phan Văn Khải như là một cuộc trao đổi thiện chí từ cả hai phía.  Một mặt, HT Huyền Quang không phải là không biết đến con đường nào là con đường tranh đấu thích đáng cho dân tộc và cho Đạo Pháp trước những vấn nạn dồn dập đến với Phật Giáo và dân tộc, từ phía chính quyền cũng như từ phía các thế lực ngoại bang hay thế lực phi dân tộc, nô lệ ngoại bang.  Ngài cũng thừa biết đâu là hiểm họa chính cho Phật Giáo và dân tộc, và do đó Ngài đã thay đổi đường lối đấu tranh.  Đường lối này chúng ta có thể thấy rõ qua Thông Điệp Xuân Quý Mùi của Ngài, trong đó Ngài dạy:

   Sáu phép Lục Hòa là bửu bối cho Giáo hội ta chữa trị những  loạn tưởng và lịch sử bi thảm của thời đại. Người đời tranh chấp, giành giật, thì Giáo hội ta hỷ xả, từ bi. Người đời phân hóa, ly  tán, thì Giáo hội ta hòa hiệp như ánh sáng với không khí. Áp dụng  triệt để sáu phép hòa kỉnh này, nạn sư tử trùng và phân hóa mới  chấm dứt, đạo khí bình đẳng hình thành, xã hội bình quân, tương ái mới xuất  hiện.

   ...Với  trí tuệ Bát nhã, chư lịch đại Tổ sư ở nước ta đã không ngừng khế cơ,  khế lý nền giáo lý cao cả của Đức Thế tôn vào mọi bối cảnh đương  thời, đương địa, đương cơ. Ngày nay, người Phật tử Việt Nam cần học hỏi  và kế thừa truyền thống khế cơ, khế lý của tiền nhân, mà sự sáng  tạo trên mọi lĩnh vực của đời sống sẽ là bửu bối cho công cuộc  hoằng dương Chánh pháp và cứu khốn trừ nguy.”

   Ý của Ngài đã rõ ràng, không cần phải bàn luận thêm gì nữa.  Nhưng không phải tự nhiên Ngài viết như trên như chúng ta sẽ thấy về sau.

    Mặt khác, chính quyền không thể không biết đến vai trò gìn giữ, xây dựng đất nước của Phật Giáo trong quá khứ và chỗ đứng của Phật Giáo trong lòng dân tộc.  Thời gian 28 năm qua, với những thay đổi về kinh tế, xã hội, và trước những âm mưu phá ngầm, lũng đoạn đất nước của những tổ chức tay sai của ngoại bang, chính quyền không thể không thấy rõ đâu là mối nguy hại chính cho chính quyền và dân tộc để mà thay đổi tư duy, chính sách đối với Phật Giáo.   Do đó, Thủ Tướng Phan Văn Khải, đại diện cho chính quyền, và Hòa Thượng Huyền Quang, một cao Tăng của Phật Giáo Việt Nam, đã tiến tới nhau với hi vọng có thể giải tỏa những ngộ nhận do những sai lầm chiến lược, từ cả hai phía, gây nên.  Và đây chính là điều tốt cho đất nước mà tôi, và tôi tin rằng cùng với không ít các Phật tử khác, đều mong đợi.

     Có một chi tiết đăng trên trang nhà Nhân Dân mà không có một cơ quan truyền thông hải ngoại nào nhắc đến.  Đó là “Hòa Thượng Thích Huyền Quang đã vào Lăng viếng Chủ Tịch Hồ Chí Minh”. (Trang nhà Nhân Dân ngày 3 tháng 4, 2003).  Đây là một chi tiết quan trọng mà giới chống Cộng hải ngoại không dám chấp nhận.  PTTPGQT ở Paris của ông Võ Văn Ái ra thông cáo báo chí về rất nhiều chi tiết hoạt động của HT Huyền Quang cũng không nhắc đến biến cố này.   Tại sao?  Chúng ta đã hiểu.  Hành động trên của HT Huyền Quang đã chứng tỏ sự thay đổi tư duy của HT và đó là một hành động đầy trí tuệ.  Chính sách của đảng và nhà nước đã từng có nhiều sai lầm nhưng khó ai có thể phủ nhận vai trò lịch sử của lãnh tụ Hồ Chí Minh trong công cuộc chống Pháp và Mỹ.  Xin nhớ, chống Mỹ không phải chỉ có nhân dân miền Bắc mà người dân miền Nam cũng dự phần không nhỏ, trong số này tất nhiên có sự tham dự của những người Phật Giáo yêu nước.

     Cuộc hội kiến giữa HT Huyền Quang và TT Phan Văn Khải và những hoạt động tiếp theo của HT Huyền Quang không phải là đột nhiên phát khởi, bất cứ từ phía nào.  Lẽ dĩ nhiên, tuyệt đối không phải là vì sự thay đổi đơn phương của chính quyền với những âm mưu đen tối đàng sau như một số “bình luận gia” đã hoang tưởng.  Đây là một quá trình tiệm tiến và nói theo nhà Phật, có đủ duyên thì mới thành.

     Ngay từ 1994, đạo hữu Hồng Quang đã về nước trình bày cùng Hòa Thượng Huyền Quang tình hình chính trị và tôn giáo có thể nói là chính xác ở hải ngoại.  Rồi trong thời gian từ 1994 đến 2000, có nhiều tăng, ni từ hải ngoại về thăm quê hương và đích thân thấy tình hình đất nước ra sao, lẽ dĩ nhiên không giống như những thông tin mà hầu hết các cơ quan truyền thông hải ngoại đưa ra.  Cũng trong thời gian này, một số tăng ni từ Việt Nam được phép xuất ngoại và do đó họ cũng biết thực chất những lực lượng chống Cộng ở hải ngoại.  Những vụ chống đối các Hòa Thượng Trí Thủ, Thanh Từ ở hải ngoại cho thấy mánh mưu của những thế lực phi dân tộc ở ngoại quốc.   Trong thời gian này, rất tiếc hai vị lãnh đạo Phật Giáo miền Nam khi xưa là Hòa Thượng Huyền Quang và Hòa Thượng Quảng Độ đều bị nhà nước quản chế, cho nên các Ngài không nắm được tình hình thực sự trên đất nước cũng như ở Hải Ngoại.  Chưa kể là các Ngài còn bị những con sư tử trùng như Võ Văn Ái lợi dụng, khoa trương thanh thế giả tạo, gây sự tin tưởng nơi quý Ngài.  Tết 2001, Tâm Đạt từ ngoại quốc về cũng đã trình bày cùng HT Huyền Quang những thông tin mà vì lý do bị quản thúc, Hòa Thượng không nắm vững.

     Nhưng một biến cố quan trọng đã xảy ra vào cuối năm 2000, đánh dấu một bước ngoặt lịch sử của Phật Giáo Việt Nam và của cả chính quyền Việt Nam.  Đó là cuộc xuất ngoại của Hòa Thượng Thích Quảng Liên sang miền Nam Cali., Hoa Kỳ.  Chúng ta hãy nghe Ngài kể trong bản VẬN ĐỘNG HÒA GIẢI HÒA HỢP HAI GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT THÀNH LẬP 1964 VÀ GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THÀNH LẬP 1981, viết ngày 4 tháng 7, 2001 tại Thủ Đức.

   Ngày 01 tháng 10 năm 2000, đúng 40 năm [Ngài tốt nghiệp đại học danh tiếng Yale 40 năm trước, 1960. TCN] tôi được dịp tham quan đất nước Huê Kỳ và Tăng, Ni, Phật tử, cộng đồng Việt Nam tại Nam Cali.   Hân hạnh nhất là được gặp các vị tôn túc Hòa Thượng cũng như Thượng Tọa, Đại Đức, Tăng, Ni đang hoạt động Phật Giáo tại Huê Kỳ.  Tất cả các vị rất vui mừng khi thấy tôi đến Huê Kỳ thăm viếng.  Lợi dụng cơ hội này chúng tôi đặt vấn đề Phật Giáo Việt Nam hiện tại.  Các vị bày tỏ tâm tình chân thật muốn trông thấy hai Giáo Hội Việt Nam được hòa hợp lại với nhau, làm phật sự chung và góp phần xây dựng tổ quốc Việt Nam được giàu mạnh tự do dân chủ.  Các vị nhất trí giao phó cho tôi bằng mọi cách tạo hòa giải hòa hợp Phật Giáo khi tôi trở về nước.

    Ý kiến cao thượng đúng như lời Phật dạy mà các vị chỉ giáo cho tôi trong bữa cơm đạo vị và thân mật tại Chùa Liên Hoa Cali, đông đủ Tăng Ni, đoàn thể cư sĩ Phật tử, gia đình Phật tử v..v..

   Ngày 09 tháng 12 năm 2000 tôi trở về Việt Nam, hai vai gánh nặng chứa đựng lòng yêu đạo, yêu dân tộc tổ quốc Việt Nam được thanh bình thịnh vượng v..v..

     Như vậy, chúng ta thấy rằng, không phải là Hà Nội chủ trương “khuynh loát và ép đi đến chỗ thống nhất” như ông Lý Thái Hùng đã hoang tưởng, mà thống nhất Phật Giáo là ý nguyện của Phật Giáo Việt Nam, ở trong nước, cũng như ở hải ngoại.  Lẽ dĩ nhiên, những thế lực phi dân tộc và tay sai đều không muốn xẩy ra chuyện này, do đó họ tiếp tục gây chia rẽ bằng cách thổi phồng vai trò của GHPGVNTN là duy nhất, là chính thống, cùng lúc xuyên tạc và hạ thấp vai trò của GHPGVN qua những danh xưng Giáo Hội Quốc Doanh hay Giáo Hội Đảng Lập, chẳng cần biết là GHPGVN đã có những thành quả gì trong những năm qua.  

    Trở về nước, HT Thích Quảng Liên bắt tay ngay vào việc.  Ngày 1 tháng 1 năm 2001 Ngài đã viết một bức Tâm Thư gửi “Quý Vị Lãnh Đạo Đảng – Nhà Nước Việt Nam” và “Quý Vị Lãnh Đạo Phật Giáo Và Chư Tăng Ni Tự Viện”.  Theo nhận định của riêng tôi, bức Tâm Thư này có giá trị gấp 100 gấp 1000 lần những bản văn chống Cộng rẻ tiền được phổ biến ở hải ngoại.  Hòa Thượng không trực diện chống đối đôi co với chính quyền mà giữ ở vị thế quốc sư, mang ưu tư và tâm huyết của mình ra để khai sáng cho chính quyền và Tăng Ni trên con đường phục vụ cho tương lai Đạo Pháp và Dân Tộc.  Chúng ta hãy đọc vài đoạn trong bức Tâm Thư của Ngài, và xin quý độc giả tự mình đánh giá những điểm xúc tích trong những đoạn trích dẫn từ bản văn này:

   25 năm trôi qua, 25 năm trưởng thành, chúng ta không nên ôm ấp thù hận, hãy mở rộng vòng tay đoàn kết dân tộc.., bỏ quá khứ, xây dựng tương lai.... CS ngày nay không phải CS trước năm 1975, qua quá trình lèo lái con thuyền chánh trị VN, chánh quyền đã và đang nhận thức chuyển mình theo thời gian, thời gian là vàng ngọc.  Cuối cùng nhận thấy ai cũng là người yêu nước, yêu dân tộc bằng cách này hay cách khác.  Khác tư tưởng quan niệm không thành vấn đề, mà quan trọng là vấn đề đoàn kết dân tộc, cùng nhau xây dựng đất nước giàu mạnh...

   Chánh quyền quang minh chánh đại, biết thương dân thì dân thương mến kính trọng chánh quyền, chánh quyền đa nghi thì người dân cũng sanh nghi đối với chánh quyền.  Cuối cùng thì đưa lại sự chia rẽ đối đầu không làm được gì tốt đẹp cho cả chánh quyền và nhân dân..

   Chánh quyền không nên nghĩ rằng Phật Giáo có âm mưu này hay khác lật đổ chánh quyền CS.  Hiểu như vậy hơi quá, ngoài ý nghĩ của người tu sĩ đạo đức chơn chánh.   Chánh quyền có đạo đức đối đãi những nhà tu hành tốt, người tu hành đâu nỡ không đáp lại lòng tốt của chánh quyền, lấy ân trả ân.  Không thể lấy oán trả ân, cũng không dùng oán trả oán, đó là mục tiêu chánh niệm của người tu sĩ thực hành đúng lời Phật dạy..

    Việt Nam    nguồn  gốc  văn hóa  hơn 4000 năm văn hiến, có nền đạo đức truyền thống Phật Giáo lâu đời, đã thâm nhập vào tâm khảm của người dân hiền hòa song cương quyết, biết trọng mình trọng người, đối đãi công minh, song không chấp nhận cường quyền ác bá, xâm lăng, hướng ngoại...

   Nếu chánh quyền lo sợ hay nghi có số người âm mưu phá hoại mượn cớ diễn tiến hòa bình hầu lật đổ chánh quyền CS, thì Đảng và Chánh Phủ nên nghi và đề phòng nơi ai khác chớ không phải mưu đồ phát xuất từ giới Phật Giáo...

  Trở về với nguồn gốc dân tộc, đạo đức truyền thống tổ tiên dân tộc là điều tất yếu của người Phật Giáo, cũng như người CS, chúng ta đã và đang sống trên lãnh thổ hình thể chữ S gồm nhiều tài nguyên gấm vóc chúng ta phải giữ gìn và phát huy những cái đẹp gấm vóc giang san.

   Chánh quyền và nhân dân đoàn kết.  Còn tu sĩ Giáo Hội Phật Giáo chúng ta như thế nào?  Chúng ta có tinh thần tương thân tương ái từ bi hỉ xả trước khi chúng ta bước vào cửa nhà xuất thế, chúng ta còn gì không thực thi tinh thần vô ngã vị tha, tinh thần lục hòa mà đức Phật dạy các thầy Tỳ Khưu trước kia cũng như ngày nay.

   Cố chấp không đem lại lợi ích – Chia rẽ thì chết –

   Tôi cũng lưu ý quý Thầy được rõ, và cần rõ ràng hơn là kẻ thù của chúng ta không phải là đảng và nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa, mà là nhóm người có tổ chức quốc tế hướng ngoại, âm mưu lật đổ chánh quyền mà cũng âm mưu giết hại chúng ta nếu có cơ hội.  Chính vì vậy, sự đoàn kết hàng ngũ Phật Giáo rất quan trọng trong giai đoạn hiện tại”..

   Trước những lời tâm huyết, thành khẩn, yêu nước, yêu dân tộc nồng nàn của HT Quảng Liên như trên, tôi không tin rằng chính quyền không để tâm suy nghĩ.  Những người đã vào tù ra khám để tranh đấu cho bằng được nền độc lập của nước nhà không thể không xét lại chính sách của nhà nước đối với Phật Giáo, nhất là khi đã biết Phật Giáo là một lực lượng dân tộc có truyền thống yêu nước và không có chủ trương tranh quyền, tạo thế lực.  Lịch sử đã chứng minh như vậy.

   Sau đó, HT Thích Quảng Liên đã đi khắp nước, từ Nam ra Bắc, để vận động hòa giải hòa hợp giữa hai giáo hội.  HT đã gặp nhiều bậc lãnh đạo cao cấp của Phật Giáo trong cả hai Giáo hội, điển hình là Đại Lão Hòa Thượng Thích Trí Tịnh, Chủ Tịch Hội Đồng Trị Sự GHPGVN,  Hòa Thượng Thích Minh Châu, Hòa Thượng Quảng Độ, Hòa Thượng Thích Tâm Tịch, Pháp Chủ GHPGVN, ở Hà Nội, Hòa Thượng Thích Thanh Tứ tại Chùa Quán Sứ, trụ sở trung ương của GHPGVN, các Hòa Thượng Từ Nhơn, Tịnh Hạnh, Hiến Pháp, Thiện Tánh ở TP HCM, và sau cùng Hòa Thượng Huyền Quang ở Quảng Ngãi. 

   Theo tường trình của HT Quảng Liên thì tất cả chư tôn đức Hòa Thượng hai giáo hội đều hoan hỉ hòa hợp thống nhất.  Cá nhân ông Trưởng Ban Tôn Giáo Chính Phủ, Lê Quang Vinh, cũng biểu đồng tình và sẽ trình lên quý vị lãnh đạo quốc gia Nông Đức Mạnh, Trần Đức Lương và Phan Văn Khải về ý nguyện hòa hợp của Phật Giáo.

     Để cho vấn đề thêm sáng tỏ, chúng ta hãy đọc tường trình của HT Quảng Liên khi Ngài hội kiến với hai vị lãnh đạo cao cấp của GHPGVNTN:  Hòa Thượng Quảng Độ và Hòa Thượng Huyền Quang.

Với Hòa Thượng Quảng Độ:

      Tôi đến Thanh Minh Thiền Viện, nơi Hòa Thượng Quảng Độ an trụ, thị giả báo tin có Hòa Thượng Tổ Đình Tu Viện Quảng Đức đến thăm.  Hòa Thượng Quảng Độ ra phòng khách trông thấy tôi rất vui vẻ và nói: “Hòa Thượng Tổ Đình Tu Viện Quảng Đức lại là Quảng Liên.”

     Hai chúng tôi ngồi xuống nói chuyện, hơn 15 năm anh em mới gặp nhau, tự do chuyện trò.  Hòa Thượng Quảng Độ trực tánh và có phần nóng tánh, cho tôi biết là cộng sản muốn tiêu diệt Phật Giáo, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin vô thần làm cương lãnh, làm sao mình sống với họ được v..v.. Hơn 30 phút Hòa Thượng gắt gao chỉ trích Đảng và Chánh Phủ cộng sản...  Tôi thưa:”Hòa Thượng nói đúng không sai, tuy nhiên cái gì cũng theo luật vô thường biến đổi theo thời gian.   “Thời gian là chúa tể thay đổi mọi sự vật ngoại cảnh cũng như tâm linh.”  Cộng sản năm 1975 vào Sài Gòn với cộng sản đầu thiên niên thế kỷ mới 21 không giống nhau, cũng như Tăng NI Phật tử mỗi ngày tiến bộ theo khoa học thời đại tiên tiến, vì Hòa Thượng chưa có dịp đi đây đó nên chưa thấy nhiều sự đổi mới.

      Thế kỷ 21 là thế kỷ khoa học kỹ thuật, kinh tế thị trường, không phải thời bao cấp, và thế kỷ 21 trọng sự thật chánh tín, còn tà đạo, mê tín dị đoan dần dần lui về quá khứ, đổi dạng tan biến.  Phật Giáo do Thế Tôn giảng dạy cách nay 26 thế kỷ, không mâu thuẫn, không phản khoa học mà tư tưởng triết học Phật giáo làm tăng trưởng, giúp khoa học khám phá ra những điều phi thường.

     Tuy nhiên, nền đạo đức Phật Giáo ngày nay cần có các bậc nhân tài, kiến thức cao có kinh nghiệm làm mô phạm để giảng dạy và mô phạm cho Tăng Ni Phật tử ngày mai, điều này là trách nhiệm của chư tôn đức chư Tăng uy tín, mà nội bộ chúng ta chia rẽ nghi ngờ, thiếu thông cảm đoàn kết, nên Tăng Ni Phật tử rất buồn.   Tôi muốn tất cả các vị thực hiện từ bi hỉ xả, vô ngã vị tha, dẹp tự ái ngồi lại với nhau uống trà trao đổi quan niệm đồng dị để đi đến hòa hợp đoàn kết.

     Nghe tôi trình bày Hòa Thượng cũng giảm sự bực tức và một phần đồng ý công tác vận động hòa hợp, khuyên tôi cẩn thận, đừng để ai mua chuộc... Nếu các vị Hòa Thượng tôn đức trong GHPGVN cũng có tinh thần hòa hợp thì tôi cũng nhất trí hòa đồng, song đừng để thế lực chính trị chi phối.  Thưa Hòa Thượng tôi đồng ý và cố gắng thực hiện tinh thần hòa hợp đạo đức đứng ngoài chính trị, chỉ lo từ thiện xã hội và luôn luôn lấy đạo đức là hơn hết, nước nhà không đạo đức sẽ loạn ly, nên chúng ta có trách nhiệm phát huy tinh thần đạo đức dân tộc, để nước nhà được thanh bình thịnh vượng dân giàu nước mạnh.

Với Hòa Thượng Huyền Quang:

     Đúng 06 giờ sáng chủ nhật ngày 01 tháng 07 năm 2001 (nhằm ngày 11/05/Tân Tị), tám thầy trò chúng tôi khởi hành chạy suốt ngày đến thị xã Quảng Ngãi lúc 22 giờ 30, vào khách sạn Mỹ Trà nghỉ, sáng ngày 02 tháng 07 năm 2001 chúng tôi vào Chùa nơi Hòa Thượng bị quản thúc cách thị xã Quảng Ngãi 10km.

    Khi vào Chùa chúng tôi gặp Hòa Thượng Huyền Quang đang đứng trước sân phòng khách.  Hòa Thượng thấy tôi rất mừng, bắt tay tôi đưa vào phòng khách kể chuyện 21 năm quản thúc anh em không gặp nhau, nay cả hai đều già cả không phải như trước.  Chúng tôi đàm đạo trao đổi ý kiến và tôi đi thẳng vào vấn đề hòa hợp giáo hội để làm Phật sự chung, mô phạm hướng dẫn cho Tăng Ni trẻ hậu tấn.  Lúc đầu có phần gay cấn chưa thật thông cảm nhau. Trong lúc bàn bạc trao đổi quan niệm thì Đại Đức Chơn Thức theo tôi có trách nhiệm cầm máy thu âm, còn Sư Cô Như Thanh cầm máy chụp hình, quay phim.  Hơn 2 tiếng đồng hồ, Hòa Thượng Huyền Quang với giọng hiền hòa từ tốn trình bày rằng: “Chúng ta là bậc cao Tăng tu hành nhiều năm đâu ai muốn chia rẽ.  Hòa Thượng Trí Tịnh, Thiện Siêu, Quảng Liên, Từ Nhơn v..v.. đều là thành viên cao cấp của GHPGVNTN, chung sống nhau hòa thuận tu hành giáo hóa quần chúng, rất tiếc là có nhóm thứ ba bên ngoài giáo hội muốn chia rẽ chúng ta mà thôi, người tu hành như chúng ta nên lấy từ bi hỉ xả, vô ngã vị tha làm cơ bản, thực hành lục hòa Phật dạy.  Tôi thiết nghĩ chúng ta muốn hòa hợp chung sống tu hành mà chánh quyền có để chúng ta được như thế không??  21 năm đầy đọa quản thúc tôi với Hòa Thượng Quảng Độ, chúng tôi có tội gì mà chánh phủ cũng không cho chúng tôi biết tội danh trên giấy trắng mực đen..”

     Hòa Thượng nói đúng, có lẽ lúc đầu Chánh Phủ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam hiểu lầm và chưa nhận thức sâu sắc Phật Giáo miền Nam, tạo cho một số không ít Tăng Ni Phật Giáo miền Nam bất mãn hoài nghi chính sách Cộng Sản, ngay tôi cũng vậy không hài lòng chánh sách hành động xử sự của Nhà Nước cộng sản lúc sơ khai.  Ngày nay họ có sự nhận thức thực tiễn hơn và đường lối lãnh đạo cũng như chánh sách có phần cải thiện thay đổi nhiều.  Năm 1975 họ gọi tôi và các vị khác bằng anh, nay họ tôn xưng là Hòa Thượng, Thượng, Đại Đức v..v..  Nói thế không có nghĩa là tôi muốn họ xưng tôi bằng Hòa Thượng tôi mừng hoặc cho đó là đổi mới tiến bộ...xưng gọi Anh hay Hòa Thượng cũng rứa thôi, vì chúng ta không màng danh lợi hay địa vị.  Nhứt thiết giai không...  Chúng tôi không nên chấp làm gì.

    Hôm nay tôi đến thăm Hòa Thượng và cùng nhay tìm giải pháp hòa hợp chung sống, tạo cho đạo và đời được tốt đẹp trong thiên mới thế kỷ 21 hướng dẫn Tăng Ni Phật tử tu hành cùng nhau đoàn kết, chấn chỉnh thiền môn nghiêm tịnh tôn ty trật tự, người đi trước mô phạm làm gương cho hàng hậu tấn.  Mà chúng ta là người đi trước có kinh nghiệm chấn chỉnh Phật Giáo như các Tổ Sư tiền bối đã làm...

     Hòa Thượng Huyền Quang hạ giọng nói: “Hòa Thượng và tôi là đồng nghiệp, là cộng sự viên, sự trình bày hòa hợp đưa ra rất thích hợp, tôi đồng ý với Hòa Thượng, chư Tôn Đức Hòa Thượng hai Giáo Hội Thống Nhất và Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, hòa hợp nhau làm Phật sự là điều rất tốt và đó là trách nhiệm và bổn phận của chúng ta.  Tuy nhiên, không biết bên Chánh Quyền như thế nào?  Họ có cho phép chúng ta hòa hợp đồng tâm phát triển Phật Giáo không?  Nếu chư Tôn Đức trong GHPGVN có thiện chí hòa hợp, và Chánh Phủ thật tâm ngoại hộ thì sự hòahợp phụng sự đạo pháp của chúng ta sẽ đạt kết quả tốt đẹp.

     Cuối cùng Hòa Thượng Huyền Quang yêu cầu tôi thưa với Hòa Thượng Quảng Độ ra gặp Hòa Thượng để thống nhất vấn đề trọng trách vận động hòa hợp sáng kiến của tôi (HT Quảng Liên)

   Có thể nói, Hòa Thượng Quảng Liên là người ở trong nước và Ngài là người hơn ai hết đã biết rõ những sự thay đổi ở trong nước: kinh tế, xã hội và nhất là sự thay đổi đường lối của chính quyền đối với Phật Giáo.  Không hẳn là sự thay đổi đường lối này đã đáp ứng được những mong muốn của Ngài và của Phật Giáo, nhưng ít ra cũng có thay đổi như Ngài đã trình bày cùng HT Quảng Độ và HT Huyền Quang.   Phần lớn giới truyền thông hải ngoại không có lương tâm trí thức, nhất định giữ cộng sản ở thời điểm 1975, không cho phép cộng sản được thay đổi, vì đây là món hàng dễ bán cho những người ít hiểu biết, trong lòng còn nặng mối hận thù đáng lẽ không thể còn tồn tại với thời gian.

   Qua tường trình của HT Quảng Liên về những cuộc gặp gỡ của Ngài với các bậc cao Tăng trong GHPGVNTN cũng như trong GHPGVN, chúng ta thấy rõ tất cả đều khao khát một sự hòa hợp trong Phật Giáo Việt Nam nói chung.  Hòa hợp như thế nào, tôi tin chắc các bậc tôn đức Phật Giáo bên nhà, với sự ủng hộ của đa số tăng ni ở hải ngoại, sẽ tìm ra được một phương thức thích đáng.  Sau đây tôi xin trình bày một chút những suy tư cá nhân về con đường hòa hợp xuyên qua GHPGVNTN, GHPGVN, và chính quyền Việt Nam.

    Về GHPGVNTN:  Như đã nói ở trên, chúng ta cần ý thức được một điều: đó là GHPGVNTN đã được thành lập năm 1964 trong một hoàn cảnh đặc biệt ở miền Nam Việt Nam, và chỉ ở miền Nam mà thôi.  Không ai có thể phủ nhận là Giáo Hội đã có một chỗ đứng trong lòng người dân miền Nam Việt Nam vì giáo hội đã xuất sinh từ cuộc tranh đấu 1963, đưa đến kết quả chấm dứt chế độ bạo tàn gia đình trị, tôn giáo trị của Ngô Đình Diệm, cất được một gánh nặng trên vai người dân miền Nam.  Nhưng khi nước nhà thống nhất thì những oan nghiệt lịch sử, theo nghĩa là sự thù hận, hậu quả không tránh được của cuộc chiến giữa hai miền, tất nhiên cũng phải thay đổi thế đứng của GHPGVNTN, một giáo hội ở phía thất trận và không thể tự cho là độc lập, không liên quan gì đến toàn thể miền Nam.   Chúng ta đừng quên danh từ “ngụy” đã được gán cho hầu hết người dân miền Nam. Đây là một thực tế mà chúng ta cần phải nhìn nhận.  Do đó, tranh đấu để duy trì một tổ chức, tuy hợp pháp hợp hiến ở miền Nam và không có tội gì đối với dân tộc, là rất chính đáng, nhưng không hẳn là hợp với tinh thần khế lý khế cơ của Phật Giáo.  Qua bao thế kỷ, đạo Phật đã thấm vào lòng đất Việt và đã ghi sâu vào tiềm thức của tuyệt đại đa số người dân, đây chính là những điểm cần khai thác, duy trì và phát triển.  Tôi thiển nghĩ, nếu quý vị cao Tăng trong GHPGVNTN, nhân danh  là những bậc tu hành Phật Giáo vì dân vì nước, tranh đấu để xóa bỏ bất công trong xã hội, góp phần xây dựng mở mang dân trí, cải tiến giáo dục v..v.., thay vì nhân danh một tổ chức thì tình hình có lẽ đã thay đổi mau chóng hơn vì chính quyền, với chủ trương độc đảng, rất e ngại những tổ chức có thế lực nhân dân tuy Phật Giáo không phải là một tổ chức chủ trương tranh cướp quyền lực thế tục. 

     Về GHPGVN:  Đây là một giáo hội được thành lập năm 1981 theo chủ trương của chính quyền.   Lẽ dĩ nhiên, giáo hội này nằm trong vòng kiểm soát của chính quyền và không được hoạt động theo ý muốn.  Nhưng sự kiểm soát của chính quyền hầu như tập trung vào đường lối và những hoạt động có sắc thái chính trị chứ chính quyền không thể thay đổi giáo lý của Đức Phật.  Những người chống Cộng ở hải ngoại có thành kiến là bất cứ cái gì thuộc quyền kiển soát của chính quyền cũng đều là Cộng sản cả.  Cho nên họ gọi giáo hội này là “giáo hội quốc doanh” hay “giáo hội đảng lập”.  Nhưng chúng ta hãy đặt vài câu hỏi:  Từ khi được thành lập đến nay, GHPGVN đã có những hành động gì hại dân hại nước, đã ấn tống bao nhiêu kinh sách, đã có những nỗ lực gì trên phương diện dịch thuật kinh điển, Việt hóa Tam Tạng Kinh Điển, đã gửi bao nhiêu Tăng Ni đi học ở ngoại quốc, đã trùng tu bao nhiêu chùa, đã mở bao nhiêu trường, viện Phật Học cao cấp, đã mở bao nhiêu lớp mẫu giáo, đã tham gia các công tác xã hội, cứu lụt như thế nào v..v..  Trả lời đúng được những câu hỏi này thì chúng ta thấy ngay là GHPGVN, trên danh nghĩa là “giáo hội quốc doanh”, nhưng trên thực tế thì tuyệt nhiên không có hành động nào hại dân hại nước, và đã đóng góp rất nhiều cho Phật Giáo và xã hội Việt Nam.  Ai có thể phủ nhận những điều này, xin lên tiếng.  Có phải đây là GHPGVN đã áp dụng đúng tinh thần khế lý khế cơ của Phật Giáo hay không?

     Về Chính Quyền Việt Nam:  Không ai có thể phủ nhận đảng Cộng Sản Việt Nam lúc đầu gồm những người yêu nước, đã từng vào tù ra khám vì những hành động chiến đấu cho nền độc lập của nước nhà.  Việc chính quyền đối xử khắc nghiệt với miền Nam là một chuyện dễ hiểu nếu chúng ta xét đến những tổn thất về sinh mạng và vật chất mà Bắc Việt phải gánh chịu trong chủ trương thống nhất đất nước.  Qua một cuộc chiến khốc liệt kéo dài 20 năm với những tổn thất về sinh mạng và vật chất của cả hai phe, và với sự kiện là Bắc Việt tổn thất nhiều hơn miền Nam rất nhiều, sự thù hận giữa đôi bên là điều không thể tránh được. Và Bắc Việt là phe thắng trận.

     Chủ thuyết Mác – Lênin rất hữu hiệu trong việc vận động quần chúng chống lại những chế độ thực dân và bất công xã hội, chống lại sự thao túng quyền lực của giới giáo sĩ Tây phương, nhưng chủ thuyết Mác – Lênin không thể áp dụng trong việc phát triển kinh tế, làm cho quốc gia mở mang tiến bộ.  Điều này chúng ta có thể thấy rõ ngay trong các nước Cộng Sản như Nga, Tàu, và Đông Âu.

     Việt Nam không có cuộc tắm máu như ở bên Cam Bốt, nhưng lại có những trại cải tạo với thời gian cải tạo kéo dài một cách quá đáng.  Sống trong hào quang của chiến thắng và khí thế của chủ thuyết Cộng Sản đang lên trên thế giới, người Cộng Sản Việt Nam đã đối xử rất vụng về với miền Nam, ngược hẳn lại những lời tuyên truyền hứa hẹn về một sự hòa hợp dân tộc.  Nếu học được bài học tha thứ trong lịch sử Việt Nam, nếu biết được là truyền thống văn hóa Việt Nam có tính cách chiết trung, và nếu biết sử dụng đúng cách tiềm lực trí thức của miền Nam thì có lẽ nước Việt đã tiến bộ mau hơn nhiều.

     28 năm qua chắc cũng quá đủ để cho Việt Nam nhìn lại bản sắc dân tộc, đánh giá đúng mức đâu là con đường trước mặt để phục vụ quốc gia.  Đối với chính quyền, Phật Giáo không phải là một lực lượng thù địch có âm mưu lật đổ để lên cầm quyền thay thế.  Đối với Phật Giáo, như Hòa Thượng Quảng Liên đã vạch rõ:  Tôi cũng lưu ý quý Thầy được rõ, và cần rõ ràng hơn là kẻ thù của chúng ta không phải là đảng và nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa, mà là nhóm người có tổ chức quốc tế hướng ngoại, âm mưu lật đổ chánh quyền mà cũng âm mưu giết hại chúng ta nếu có cơ hội.  Đây là vấn đề then chốt để tạo sự thông cảm giữa Phật Giáo và Chính quyền.  Và tôi tin rằng, cuộc hội kiến giữa Hòa Thượng Huyền Quang và Thủ Tướng Phan Văn Khải chính là bước đầu cho một quá trình hàn gắn để xây dựng đất nước trong tương lai.

     Thật vậy, ngày 11 tháng 5, 2003, Hòa Thượng Thích Thiện Hạnh đã huấn thị Tăng Đoàn Thừa Thiên ở Huế tiếp xúc và đề nghị với Thượng Tọa Thích Giác Quang, Phó Thư Ký Thường Trực Ban Trị Sự GHPGVN Thừa Thiên ở Huế, hai bên cùng nhau đến đặt vòng hoa trước đài tưởng niệm các vị vì Đạo Pháp hiến thân (tôi không dùng từ “Thánh tử đạo” vì tôi cho rằng không thích hợp với Phật Giáo và không muốn nhập nhằng với từ “Thánh tử đạo” của Ki Tô Giáo có ý nghĩa khác hẳn).  Kết quả là, vào chiều ngày 14 tháng 5, 2003, tức là 14/4/2003, trước ngày Phật Đản 1 ngày, quý vị Hòa Thượng, Thượng Tọa hai bên, cùng đông đảo Phật tử, đã cùng nhau đến trước tượng đài các vị đã vì Đạo Pháp hiến thân đặt vòng hoa tưởng niệm những hương linh quá cố đã hiến thân bảo vệ Chánh Pháp và cho Phật Giáo trường tồn.  Về phía Tăng Đoàn Phật Giáo Thừa Thiên ở Huế có 14 vị, dẫn đầu bởi Hòa Thượng Thích Thiện Hạnh và các Thượng Tọa Thích Phước Viên, Thích Thái Hòa; về phía Ban Trị Sự GHPGVN có 13 vị, dẫn đầu bởi Hòa Thượng Thích Đức Phương cùng các Thượng Tọa Thích Giác Quang, Thích Hải Ấn.   Giới Phật tử trong nước, Tăng cũng như tục, rất xúc động trước hành động hòa hợp, thống nhất đầy ý nghĩa này vì đây chính là điều mọi người ước mong trong nhiều năm nay.

     Một Phật tử hải ngoại như tôi, và tôi tin rằng cùng với đa số Phật tử Phật tử hải ngoại khác, có quyền hi vọng: - hi vọng ở sự hiểu biết và sáng suốt của cả hai phía: Phật Giáo cũng như  Chính Quyền, và hi vọng Việt Nam sẽ ngày càng mở mang, tiến bộ, tích cực bảo vệ nền độc lập và chủ quyền quốc gia, phát huy Đạo của dân tộc, ngăn chận mọi ý đồ xâm lăng văn hóa và tôn giáo của ngoại bang.

flash-5sac.gif (367 bytes) Về trang Nghiên cứu & đối thoại tháng 6-2003

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........