curley_sw.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw.gif (1967 bytes)

.......... .

 

BUSH VÀ CUỘC XÂM CHIẾM IRAQ

  • Trần Chung Ngọc   

tn-misspel.jpg (23633 bytes)Old Bùi Tín: 'G.W. Bush là một vị tổng thống rất thông minh. Hành động xâm lăng Iraq của ông đã làm cho những nước độc tài (như Việt Nam...) phải run sợ!

American Kid (said to Mr. President) : - Hey, you spelled 'George' wrong!  [Photo by Political Strike, Giaodiem's caption]

    

    Đọc Bùi Tín là một chuyện mất thì giờ, vô ích.  Phê bình Bùi Tín lại là một chuyện phí phạm thời giờ hơn nữa.  Nhưng ở trên đời có những chuyện không đáng mà vẫn phải làm, vì đó là điều cần thiết trong mục đích giáo dục, khai sáng những đầu óc rất hạn chế.  Có lẽ vì vậy mà Nguyễn Văn và Hoàng Nguyên Nhuận đã không ngại mất thì giờ để viết bài phê bình Bùi Tín.  Hai bài phê bình Bùi Tín của Nguyễn Văn và Hoàng Nguyên Nhuận đã quá đầy đủ, tôi không có gì để thêm vào nữa.  Bài viết này chỉ có mục đích trình bày thực chất cuộc xâm lăng (invasion) và chiếm đóng (occupation) Iraq, hai từ mà ngày nay chúng ta thấy xuất hiện đều đều trên báo chí Mỹ, trái hẳn với những luận điệu hoa mỹ khoa trương (rhetoric) như “giải phóng”, “mang dân chủ đến cho Iraq” hay “trả lại sự tự do cho người dân Iraq” (người dân Iraq nào?) của chính quyền Bush và những lời mẹ hát con khen hay trong những tờ lá cải Việt Nam ở hải ngoại.

     Qua những “bằng chứng” mà chính quyền Bush đưa ra để thuyết phục người dân ủng hộ cho kế hoạch xâm lăng và chiếm đóng Iraq, đa số người dân Mỹ, với tâm lý của những cao bồi Texas giết dân da đỏ khi xưa, tin rằng nước Mỹ là “nơm-bơ oăn” (number one) về đạo đức và cái đầu tầu của Thiên Chúa kéo cả đoàn tầu thế giới đi theo con đường “một quốc gia dưới Thiên Chúa” (one nation under God) của nước Mỹ, không biết rằng dư luận thế giới coi Mỹ như một quốc gia dựa trên cường quyền để bất chấp công lý, cậy mạnh đi ăn hiếp các nước yếu kém.   Tôi vừa đi một chuyến Bắc Âu gồm 5 nước Norway, Sweden, Russia, Estonia, Finland rồi về London vài ngày và Paris một tuần lễ.  Hỏi chuyện từ người bán hàng, người lái taxi, sinh viên v..v.. cho đến người trung lưu Anh trên cùng chuyến tầu v..v.., thật là xấu hổ, không một ai đánh giá cao ông tổng thống Bush của tôi và chính quyền do ông cầm đầu.  Đúng như Fareed Zakaria, một bình luận gia thường xuyên của tờ Newsweek, đã viết: “Trong năm qua, tôi đã đi khắp thế giới, và hầu hết mọi quốc gia mà tôi thăm viếng đều cảm thấy bị sỉ nhục bởi cái chính quyền này.” (I’ve been all over the world in the last year, and almost every country I’ve visited has felt humiliated by this administration).  Tony Blair cũng chịu chung một số phận. Trái với những lời tuyên truyền trên báo chí Mỹ, đa số người dân Âu Châu vẫn tán thành đường lối của Chirac (Pháp) và Schroeder (Đức).

     Chính quyền Mỹ đã mua sự ủng hộ của người dân trong cuộc xâm lăng Iraq bằng những bằng chứng dựa trên tài liệu ngụy tạo và những thông tin sai sự thật.  Thật vậy, những bằng chứng về Iraq với những con số “chính xác” (20.000 lít anthrax, nhiều tấn khí VX làm tê liệt đầu óc, trong khoảng 100 đến 500 tấn các chất độc khác như botulinin, mustard gas, ricin, sarin, từ 15 đến 20 hỏa tiễn Scud mà đầu hỏa tiễn có thể trải ra thuốc độc, và những phòng thí nghiệm hóa chất lưu động) mà tổng thống Bush của tôi đưa ra trước dân chúng, tô vẽ lên một viễn tượng khủng khiếp cho nước Mỹ nếu Saddam Hussein còn tại vị, thí dụ như Saddam Hussein có những vũ khí giết người hàng loạt (weapons of mass destruction (WMD)) và có thể dùng để tấn công Mỹ, Saddam Hussein đã gửi mua ở Phi Châu số lượng lớn Uranium để thực hiện chương trình chế tạo vũ khí nguyên tử, Sadam Hussein có liên hệ với tổ chức khủng bố của Osama Bin Laden v..v.. Và để đề phòng và bảo đảm sự an toàn của Mỹ, cần phải đánh phủ đầu Iraq để cho Saddam Hussein không có cơ hội tấn công Mỹ. 

     Mùa hè năm ngoái, 2002, phó tổng thống Dick Cheney và bộ trưởng quốc phòng Donald Rumsfeld tuyên bố “Không còn nghi ngờ gì nữa” và “chắc chắn là” Hussein có những vũ khí giết người hàng loạt” (“There is no doubt” and “There’s just no question” that Hussein had the weapons.)  Đến tháng 9, ông Bush nói: “Vì tương lai của con các người, chúng ta phải chắc chắn là cái tên điên này (Hussein) không bao giờ có khả năng để hại chúng ta với vũ khí nguyên tử, hay dùng những khối anthrax mà chúng ta biết là hắn có, hay VX, những vũ khí sinh học mà hắn ta có”  (For the sake of your children’s future, we must make sure that this madman never has the capacity to hurt ua with a nuclear weapon, or to use the stockpiles of anthrax that we know he has, or VX, the biological weapons which he possesses.)   Điều khó hiểu đối với giới trí thức Mỹ và Việt là, khi bị dồn vào chân tường mà sao cái tên điên này (Hussein) lại không mang những WMD, mà chính quyền Bush quả quyết là hắn có trong tay, ra dùng?

     Ngày 26 tháng 6, 2003, trên tờ Chicago Tribune, Derrick Z. Jackson đã viết một bài với hàng tít lờn: “Triều đại lừa dối của Bush” (Bush’s reign of deception) trong đó tác giả cho biết:

  -  “Dù với 160.000 quân Mỹ và Anh và kỹ thuật cao nhất thế giới, không có một WMD nào đã được tìm ra.  Trung Tướng James Conway, chỉ huy đệ nhất lực lượng viễn chinh lính thủy đánh bộ nói rằng mọi tin tức tình báo về WMD đều sai.  Chúng tôi đã lục soát mọi điểm tiếp liệu đạn dược từ biên giới Kuwait đền Baghdah, nhưng chẳng thấy gì.” (Despite 160,000 American and British troops and the world’s greatest technology, no WMD have been found.  The commander of the 1st Marine Expeditionary Force, Lt. General James Conway, said whatever intelligence given on WMD, “We were simply wrong”.  Conway said, “We’ve been to virtually every ammunition supply point between Kuwaiti border and Baghdah, but they’re (the WMD)  simply not there.)

   -    “Greg Thielmann, một phân tích gia của bộ ngoại giao mới về hưu, nói với Newsweek là ông ta không tin rằng Bush lại có thể dùng “cái thứ tin tức tình báo rác rưởi ngu đần đó” để thuyết phục quần chúng.” (Greg Thielmann, a recently retired State Department analyst who could not believe that Bush would use “that stupid piece of garbage” to make his case, told Newsweek.)

    - “Tờ Time cho biết có một sĩ quan cao cấp dự phần trong việc đặt kế hoạch về cuộc chiến ở Iraq nhưng rồi từ chức vì thấy Tòa Nhà Trắng đã thổi phồng quá lố những tin tức tình báo sai lầm.   Một sĩ quan tình báo quân đội khác nói Rumsfeld (Bộ trưởng quốc phòng) đã xuyên tạc những tin tức tình báo một cách quá độ hầu như là bệnh hoạn.” (Time quoted a senior military official who helped plan the war in Iraq but quit after seeing the White House exagerated bad intelligence.  Time also quoted an Army intelligence officer who said Rumsfeld “was deeply, almost pathologically distorting the intelligence).

   Tác giả kết luận:

     “Trước cuộc chiến, Bush bảo rằng Hussein dùng sách lược “phủ nhận và lừa dối” về WMD.  Ngày nay Bush phải nói với dân chúng Mỹ là ông ta đã lừa dối chúng ta tới mức độ nào.” (Before the war, Bush said Hussein used “denial and deception” on WMD.  Bush must now tell Americans to what level he deceived us.)

     Đó là thực chất cuộc chiến ở Iraq, và Bùi Tín cũng như những người thiếu neuron trong óc đã hết lời ca tụng cái loại “chiến thắng quân sự” đó.  Chiến thắng quân sự không phải là chuyện lạ vì với những vũ khí giết người hàng loạt (WMD) như “bom chùm” (clusters bombs),

[Human-rights organizations and advocacy groups have campaigned to place these weapons (clusters bombs) in the same category as WMD and have them banned], với kỹ thuật tân tiến nhất, với những kính nhìn đêm có thể nhìn xuyên qua quần phụ nữ, với  kẹo cao-su ngoài bọc giấy hình cởi truồng v..v.. như tin đồn ở Iraq hiện nay, thì “không chiến thắng quân sự” mới là chuyện lạ.  Nhưng khi Bùi Tín cường điệu, phát ngôn bừa bãi là các chế độ độc tài khác lo sợ sau khi Iraq sụp đổ, thì quả là Bùi Tín hơi ngu.  Ngu ở chỗ cho là mọi chế độ độc tài đều giống nhau.  Nếu Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu v..v.. cũng như Saddam Hussein thì Bùi Tín và những người như Đoàn Viết Hoạt, Nguyễn Chí Thiện, Lý Đại Nguyên và hàng đống HO không có cơ hội sang Mỹ, sang Pháp v..v.. hoặc để chống Cộng luyến tiếc thằng Tây vô chừng như Nguyễn Chí Thiện, hoặc ăn lương ông Bush, hoặc viết báo nói láo ăn tiền như Bùi Tín, Lý Đại Nguyên v..v... 

     Mặt khác, chiến tranh Iraq chưa từng chấm dứt như Bush đã tuyên bố.  Báo Time ngày 7 tháng 7, 2003, có bài với hàng tít lớn: “Cuộc Chiến Tranh Không Bao Giờ Chấm Dứt:  Mỗi ngày qua ở Iraq, có thêm lính Mỹ và Anh chết.  Bao nhiêu những vụ sát hại đó được tổ chức, và Mỹ có thể chặn đứng chúng không?” (The War That Never Ends:  As each day passes in Iraq, more coalition soldiers die.   How much of the killing is organized, and can the U.S. stop it?)  Bài báo cho biết, từ ngày 1 tháng 5, 2003, ngày ông Bush tuyên bố các cuộc hành quân quân sự đã hoàn thành nhiệm vụ và chấm dứt, có 74 lính liên quân chết, trong đó có 64 lính Mỹ.   Và tôi [TCN] cho đây chỉ là bước đầu của một cuộc du kích chiến lâu dài, và có nhiều dấu hiệu chứng tỏ Mỹ sẽ sa lầy ở Iraq.  Tại sao? Vì trong cuộc điều trần trước quốc hội Mỹ gần đây, phó tổng thống Cheney cho biết ông ta không thể biết và không ai biết được (nobody knows) quân đội Mỹ sẽ chiếm đóng Iraq trong bao lâu, có thể là vô thời hạn, cho đến khi đạt được những mục đích của Mỹ.   Nhưng càng ở lâu bao nhiêu thì càng có nhiều tổn thất bấy nhiêu.  Đây là một qui luật dành cho những quân chiếm đóng ở nước ngoài.

     Viễn tượng về một cảnh toàn dân Iraq hân hoan đón mừng liên quân giải phóng Anh, Mỹ cũng không hề xảy ra.  Dân Iraq tiếp tục biểu tình chống Mỹ.  Fareed Zakaria viết trên tờ Newsweek ngày 23 tháng 6, 2003: “Người Mỹ sẽ thấy những cuộc biểu tình chống Mỹ ở Iraq và hỏi những chính trị gia của họ: “Tại sao chúng ta ở trong quốc gia này, nếu không ai muốn chúng ta ở đó?” (Americans will see anti-U.S. demonstrations in Iraq and ask their politicians, “Why are we in this country if no one wants us there?). 

     Susan B. Thistlethwaite viết trên tờ Chicago tribune: “ Những ký giả không thuộc quân đội (Mỹ) tường trình rằng những dân làng Iraq không đồng loạt đón mừng quân Mỹ đến như là để giải phóng.   “Chúng tôi ghét Hussein, nhưng chúng tôi còn ghét Mỹ hơn vì đã xâm chiếm đất nước của chúng tôi”  (Journalists who are not “embedded” with U.S. troops report that Iraqi villagers have not uniformly greeted the arrival of the U.S. military as liberation. “We hate Hussein, but we hate the U.S. more for invading our land.”)

     Nhưng cuộc xâm chiếm Iraq còn có một khía cạnh khác.  Tất cả những “bằng chứng” mà chính quyền Bush đưa ra chỉ là để mua sự ủng hộ của đa số người dân thấp kém.  Trong một chế độ gọi là “dân chủ” như của Mỹ, qua những cuộc thống kê, đa số có tính cách quyết định dù rằng 1000 người trong khối đa số không có đầu óc tương đương với 1 người trong khối thiểu số.  Vì ngày nay, sự thật đã được phơi bày.  Chúng ta đã biết, tất cả những bằng chứng như trên về Iraq đều hoặc là ngụy tạo, hoặc là thổi phồng chứ không có thực.   Ông Bush tuyên bố là chiến tranh chống Iraq chấm dứt ngày 1 tháng 5, 2003.  Nhưng cho tới ngày nay không có một bằng chứng nào ông đưa ra về Iraq được kiểm nhận.  Iraq không có vũ khí nguyên tử, không có phòng thí nghiệm hóa học lưu động, không có WMD, và chuyện Hussein mua Uranium từ Phi Châu là chuyện bịa đặt (a hoax) mà chính quyền đã biết, CIA đã biết, nhưng ông Bush vẫn cứ nói trước quần chúng.  Và ngày 7 tháng 7, 2003, Tòa Nhà Trắng đã chính thức công nhận là câu ông Bush khẳng định Saddam Hussein mua Uranium của Phi Châu không nên để trong bài thuyết trình của ông Bush (should not be included).  Chương trình Tin Tức Thế Giới của đài truyền hình ABC, do Peter Jennings phụ trách, ngày 10 tháng 7, 2003, cho biết: biết đó là điều bịa đặt nhưng cứ dùng vì nếu có chuyện gì thì có thể gán lên mình Tony Blair vì đó là tin tức tình báo của Anh quốc (pin on the British intelligence)).

    Khía cạnh khác đó là gì?  Ngay từ đầu, nhiều phân tích gia đã biết rằng những bằng chứng mà ông Bush đưa ra chỉ để che dấu động cơ thực sự đàng sau sách lược đánh phủ đầu Iraq của Bush.  Động cơ này bắt nguồn từ tâm lý tôn giáo, Ki Tô Giáo, của Bush.

     Một bài báo với nhan đề “Phúc Âm chiến tranh như là tôn giáo” (The Gospel of war as religion) của Georgie Anne Geyer trong Universal Press Syndicate trên tờ Chicago Tribune ngày 7 tháng 3, 2003, đã phân tích kỹ cái tâm lý tôn giáo của Bush.  Chúng ta hãy đọc vài đoạn trong đó: 

    -   “Nay không còn phải thắc mắc gì nữa là ý định xâm lăng Iraq của Tổng thống Bush đặt căn bản chính yếu trên một sự ám ảnh tôn giáo và viễn tượng về sự vĩ đại cá nhân.” (There is no question now that President Bush’s intention in invading Iraq is based primarily on religious obsession and visions of personal grandiosity). 

     Ý định xâm lăng Iraq này bất chấp quyết định của Liên Hiệp Quốc trong 2 tuần lễ cuối cùng.  Nếu những người có đầu óc đặt câu hỏi “Tại sao?” thì câu trả lời từ nhiều nhóm khác nhau là:

    -  “ Tổng thống Mỹ coi mình như là một phần trong kế hoạch thần thánh của Thần (của Ki Tô Giáo = Christian God).  Kế hoạch cho Mỹ, cho miền Trung Đông, cho cả thế giới! [giống như kế hoạch mầu nhiệm của Giê-su ở Á Châu từ 2000 năm nay mà Á Châu vẫn không biết đến Giê-su, như giáo hoàng John Paul II than phiền trong bản “Tông Huấn Giáo hội tại Á Châu” mà tôi đã phân tích một đoạn đầu trên trang nhà Giao Điểm. TCN].  Đây không phải là chủ thuyết mà ông ta tán thành, mà là phúc âm;  không phải là một thế giới với những sở thích quốc gia chuyển đổi, mà là một thế giới của những chân lý tuyệt đối.”  (The predominant coming out from different quarters is that the president of the United States of America sees himself as part of God’s divine plan.  For America, for the Middle East, for the world!  It is not doctrine that he espouses, but gospel; not a world of shifting national interests, but one of absolute truths).

    -   Mục sư Fritz Ritsch ở nhà thờ Bethesda thuộc hệ phái Presbyterian (Trưởng Lão) nói rằng: “Tổng thống khẳng định một cách tự tin một quan điểm về thế giới mà hầu hết mọi hệ phái Ki Tô đã bác bỏ, coi như là lạc đạo: huyền thoại dùng bạo lực để cứu chuộc, thừa nhận một cuộc chiến giữa thiện và ác, với Thần Ki Tô ở phe thiện và Satan ở phe ác.” (The president confidently asserts a worldview that most Christian denominations reject outright as heresy: the myth of redemptive violence, which posits a war between good and evil, with God on the side of good, and Satan on the side of evil).

    -   “Trong bài “Bush và Thần Ki Tô” trên tờ Newsweek tuần này, tổng thống (Bush) được mô tả như là một người với một nhiệm vụ cứu thế, với một chính sách ngoại giao nổi sóng gió nhất, dựa trên đức tin.” (In this week’s Newsweek cover piece, “Bush and God”, the president came out as a man “on a messianic mission”, with a “faith-based foreign policy of the most explosive kind)

      Và tác giả bình luận:

     “Lẽ dĩ nhiên, có một vài vấn nạn ở đây.  Một lập trường cứu thế như vậy thì trái với hệ thống kiểm soát và cân bằng của Mỹ – nhưng, ai là người dám thách đố phúc âm trong tay những người tin vào nó?.  Sự dựa vào Cựu Ước như vậy để ép buộc những người khác phải làm và tin như mình thì khó mà có thể được chấp nhận trên phần còn lại của thế giới – nhưng tại sao ta phải giải thích bất cứ điều gì nếu ta là bàn tay của Thần Ki Tô?

     Tổng thống Bush, từ ngày 11 tháng 9, 2001 cho tới nay, đã nói 99 lần câu: “Người nào không về phe chúng tôi là chống chúng tôi” – trong trường hợp các bạn đọc chưa nắm được vấn đề.”

     (Of course, there are some problems here.  Such messianic posturing is counter to the American system of checks and balances – who, after all, dares challenge gospel in the hands of its believers?  Such Old Testament reliance on forcing others to do and believe as you is hardly going to be welcomed in the rest of the world – but why would you have to explain anything if you are the hand of God?

     President Bush has now said “Anyone who is not with us is against us” fully 99 times since Sept. 11 – just in case you didn’t get the idea.)

     Phân tích tâm lý tôn giáo của Bush, Suzan B. Thistlethwaite, trên tờ Chicago Tribune ngày 26 tháng 3, 2003, đã cho rằng không phải là cuộc xung đột giữa 2 nền văn minh (văn minh Tây phương và văn minh Trung Đông) như Samuel P. Huntington viết trong cuốn “The Clash of Civilizations”, mà là cuộc xung đột của hai ý hệ bảo thủ tôn giáo (a clash of fundamentalisms); quan điểm về thế giới dựa trên sự cuồng nhiệt Ki Tô Giáo của Bush đối với tinh thần bảo thủ càng ngày càng tăng của Hồi Giáo. (A conflict between a zealous Christianized world-view of President Bush and an increasingly fundamentalist Islam).  Tác giả cho rằng cái tâm lý cuồng nhiệt tôn giáo đó cũng chẳng khác gì cái tâm lý cuồng nhiệt tôn giáo của Osama Bin Laden.   Và tác giả khuyến cáo: “Khi sự cuồng nhiệt tôn giáo gặp sự cuồng nhiệt tôn giáo – Hãy coi chừng!” (When religious zealotry meets religious zealotry – Watch out!)

    Trước chủ trương tôn giáo (Ki Tô Giáo) hiếu chiến của Bush, hội những người theo chủ nghĩa nhân bản ở Mỹ, ngày 24 tháng 4, 2003, đã cho phổ biến một bản Tuyên Ngôn Cương Lĩnh số III, với chữ ký của 19 nhân vật được giải thưởng Nobel và 57 bậc trí thức khác trong đó có nhà văn Kurt Vonnegut và nhà làm phim Oliver Stone,  để chống lại quan điểm của Bush.  Năm 1973, hội này đã phổ biến bản Cương Lĩnh số II, trong đó khẳng định là bác bỏ ý tưởng là có một Thần Ki Tô cần phải “cứu” nhân loại (rejecting the idea that there is a God who needs to "save"”humanity), và “niềm tin vào một Thần Ki Tô ứng với những lời cầu nguyện thì “không chứng minh được và lỗi thời” (Belief in a prayer-answering God “unproved and outmoded”).   Bản Cương Lĩnh số III ngày nay khẳng định là “đạo đức của con người sẽ quyết định tương lai của thế giới” (Human’s ethical behavior alone will dictate the future of the world).  Bản cương Lĩnh còn viết: “Trách nhiệm cho đời sống của chúng ta và cái thế giới mà chúng ta sống trong đó là thế giới của chúng ta và chỉ của chúng ta mà thôi” (The responsibility for our lives and the kind of world in which we live is ours and ours alone.)  Tưởng chúng ta cũng nên biết, hội này đang hoạt động cùng với nhiều đoàn thể khác để bỏ câu “một quốc gia dưới Thần” (One nation under God) trong lời tuyên thệ trung thành (Pledge of Allegiance).

     Đọc những bài báo nói về tâm lý cuồng nhiệt tôn giáo (Ki Tô Giáo) của Bush, tôi không hiểu sao một ông tổng thống Mỹ như Bush trong thời buổi này mà vẫn có thể tin vào những chuyện hoang đường trong Thánh Kinh và tin rằng mình được Thần Ki Tô trao cho nhiệm vụ “thế thiên hành đạo” của Ki Tô Giáo.  Chúng ta biết Bush đã chịu ảnh hưởng của Billy Graham, nhưng điều này không đủ.

    Vào Google, đánh chữ US Presidents’ IQ, tôi đã tìm ra được một giải thích có lẽ là hợp lý.

Số là, “Chỉ số thông minh” (IQ) của tổng thống George W. Bush thấp nhất trong các tổng thống Cộng Hòa, chỉ có 91.  Bush cha 98.  Trung bình của người dân Mỹ, trong đó có TCN, là 100.  John Martin viết: Ông ta đọc được là IQ của Bush ở dưới 3/4 dân Mỹ.  Nhưng đối với John Martin thì điều này sai.  Đúng ra là phải viết ông Bush thông minh hơn 1/4 dân Mỹ.

     So với tổng thống tiền nhiệm Clinton thì IQ của Clinton là 182, gấp đôi của Bush.  Có lẽ vì vậy mà Clinton chỉ nói dối về vấn đề tình dục trong vụ Monica Lewinky, vô hại, trong khi ông Bush nói dối về các bằng chứng WMD ở Iraq để đưa đến cái chết của hơn 200 liên quân giải phóng và hàng ngàn dân Iraq.

     Trong cuộc chiến ở Việt Nam, tổng thống Kennedy quyết định nếu tái cử sẽ rút hết cố vấn và quân Mỹ ra khỏi Việt Nam.  IQ của Kennedy là 174.  Tổng thống Lyndon B. Johnson biết rằng không thể thắng được ở Việt Nam nhưng không có lối thoát.  Johnson nói: ông như đang cưỡi một cái máy bay (theo đuổi cuộc chiến ở Việt Nam), tiếp tục lái thì sẽ đâm đầu xuống đất, muốn nhảy ra thì lại không có dù.  IQ của Johnson là 126.  Hiển nhiên, Kennedy và Johnson đều thông minh hơn Bush.  Và cũng hiển nhiên, những người như Bùi Tín, ca tụng chiến thắng vĩ đại của Bush, chắc IQ cũng sấp sỉ như của Bush.

Mark_03.gif (833 bytes)Về trang Nghiên cứu & đối thoại tháng 7-2003 

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........