curley_sw_03.gif (1967 bytes)   Nghiên Cứu và Đối Thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw_03.gif (1967 bytes)

.......... .


VÀI NHẬN ĐỊNH VỀ BÀI CỦA HUỲNH THIÊN HỒNG
PHÊ BÌNH CUỐN “CHÚA GIÊ-SU LÀ AI? GIẢNG DẠY NHỮNG GÌ?”
  • Trần Chung Ngọc

Vài Lời Nói Đầu:   Ngày 17 tháng 5, 2003, tôi nhận được E-mail từ một người không hề quen biết, Hùynh Thiên Hồng, mời vào đọc bài “Tản Mạn về cuốn “Chúa Giê-su Là Ai? ...”” của ông ta viết trên trang nhà MucsuNet. Đã từ lâu, tôi không có vào Mucsu.net vì tôi không có nhiều thì giờ và cũng vì tôi không có hứng thú đọc những bài của những người tự nhận là tôi tớ hầu việc Chúa.  Tuy thỉnh thỏang tôi cũng nhận được một message từ Mucsu.net nhưng thường là tôi delete ngay, không đọc đến.  Ngày 18 tháng 5, tôi vào trang nhà Mucsu.net xem ông Hùynh Thiên Hồng viết cái gì về cuốn “Chúa Giê-su Là Ai?” của tôi.  Tôi  phải nói ngay rằng, ông ấy chưa đủ khả năng để viết một bài phê bình.

      Trước lời kêu gọi  “chân thành đón nhận và biết ơn mọi ý kiến đóng góp, xây dựng về nội dung của bài viết này.” của ông Hồng, tôi đành phải bỏ ra ít thì giờ để viết một bài nhận định về bài của ông Hồng.  Xin đừng cho là tôi muốn tranh cãi với ông Hùynh Thiên Hồng.  Sau đây chỉ là những ý kiến xây dựng có tính cách giáo khoa cho một người không biết là mình đã viết cái gì.  Sau bài này tôi coi như vấn đề chấm dứt vì tôi không thể phí phạm thì giờ nhiều hơn nữa. 

*      *
*

     Cuốn “Chúa Giê-su Là Ai? Giảng Dạy Những Gì?” của Trần Chung Ngọc, Giao Điểm xuất bản mùa Xuân 2002, đến nay đã được hơn 1 năm.  Phản ứng đầu tiên về cuốn sách này là bài của Huỳnh Thiên Hồng trên trang nhà Mucsu.net, ngày 18 tháng 5, 2003.

     Bỏ qua văn phong mà chính tác giả tự nhận là “không nhã nhặn”, những đoạn “chống Cộng” lạc đề một cách trơ trẽn trong bài, và những đoạn chụp mũ chỉ trích mạ lỵ cá nhân vu vơ như những tiếng nói với trăng bên đường, không ngăn ngại gì đến bước tiến của đòan lữ hành đang đi trên đường, chúng ta hãy đi vào vài điểm phê bình của tác giả Huỳnh Thiên Hồng về cuốn “Chúa Giê-su Là Ai?...”. Ông Hồng viết:

     Cái mà Giao Điểm giới thiệu: "thuộc loại nghiên cứu ở trình độ cao của một trí thức đã được đào tạo trên căn bản lương thiện và trong tinh thần khoa học của một khoa học gia, một nhà Vật Lý học", thực chất chỉ là một tổng hợp rác rưởi tư duy của những "nhà trí thức" hoang tưởng.

     Những "lý luận" của các nhà "trí thức" này nếu dùng để viết một bài văn nghị luận bậc trung học còn không đáng để được điểm trung bình. Cách trưng dẫn và giải thích Kinh Thánh của những "trí thức gia" này cho thấy rõ sự vô trí của họ. Trần Chung Ngọc chỉ làm công việc "lượm rác" trong những đống phế thải của tư tưởng nhân loại, vậy mà Giao Điểm lại huênh hoang gọi đó là một "tác phẩm thuộc loại nghiên cứu ở trình độ cao của một trí thức đã được đào tạo trên căn bản lương thiện và trong tinh thần khoa học của một khoa học gia, một nhà Vật Lý học.”.

     Đó là văn phong của một đầy tớ chuyên hầu hạ việc Chúa.  Nhưng viết kiểu này là cách dùng “cưỡng từ để đoạt lý”,   nghĩa là nói lấy được, nói càn nói ẩu, không cần bằng chứng, không cần chứng minh, của những người không biết lý luận là gì, chỉ biểu lộ tình cảm tôn giáo theo phản ứng Pavlov.  Những “rác rưởi tư duy” là những rác rưởi như thế nào, ông Hồng không hề dẫn chứng và chứng minh chúng đích thật là rác rưởi, và rác rưởi ở chỗ nào. Và những nhà “trí thức hoang tưởng” là ai, khả năng, vị thế của họ trong xã hội và trong các giáo hội Ki Tô là như thế nào, so với khả năng và vị thế của Huỳnh Thiên Hồng ra sao?  Có bao nhiêu người trong cái thế giới văn minh tiến bộ này biết đến họ, và có bao nhiêu người biết đến Huỳnh Thiên Hồng?  Họ đã xuất bản bao nhiêu cuốn sách so với Huỳnh Thiên Hồng?  Chúng ta hãy nói sơ qua về vài tác giả mà ông Huỳnh Thiên Hồng cho là “Những "lý luận" của các nhà "trí thức" này nếu dùng để viết một bài văn nghị luận bậc trung học còn không đáng để được điểm trung bình.”

      Tôi không hiểu trình độ của ông Hồng đến cỡ nào và tên tuổi của ông vang danh trên thế giới như thế nào mà ông dám lộng ngôn như trên.  Nhưng câu trên chứng tỏ kiến thức của ông Hồng còn quá kém nên ông mới dám đặt bút viết bậy như trên.  Những nhà trí thức này là ai?

1. Giám Mục Tin Lành John Shelby Spong: tác giả của trên 10 cuốn sách thuộc lọai bán chạy nhất (best sellers), đã được mời đi thuyết trình về Ki Tô Giáo tại nhiều đại học, và đã xuất hiện trên TV nhiều lần.

2. Mục sư Tin Lành Ernie Bringas: Tốt nghiệp trường thần học ở Dayton, Ohio.

3. Richard Elliot Friedman: Giáo sư đại học San Diego, California.  Tốt nghiệp Harvard với bằng Tiến sĩ về Thánh Kinh Do Thái, giáo sư thỉnh giảng tại các đại học Oxford và Cambridge ở Anh Quốc.

4. John Dominic Crossan:  Giáo sư danh dự tại đại học DePaul, Chicago.  Tác gỉả nhiều cuốn sách thuộc lọai bán chạy nhất như The Historical Jesus: A Revolutionary Biography, The Essential Jesus, Who Killed Jesus?, The Birth of Christianity.

5. Uta-Ranke Heinemann, người phụ nữ đầu tiên chiếm được ngôi vị giáo sư Thần Học Công Giáo, tác giả cuốn sách nổi tiếng “Hãy Dẹp Đi Những Chuyện Trẻ Con” (Putting Away Childish Things): Những chuyện trong Tân ước về nhân vật Giê-su.

6. Malachi Martin: Nguyên Giáo sư của Viện Nghiên Cứu Thánh Kinh tại Vatican

7. Hans Kung:  Nhà Thần Học nổi danh nhất thế giới.  Giáo sự đại học nổi tiếng Tubingen ở Đức.

8. Michael Martin:  Giáo sư Triết tại đại học Boston.

9. Peter de Rosa: Tổng Giám Mục, Giáo sư Siêu Hình Học và Đạo Đức Học ở Trường Dòng Westminster, Khoa Trưởng khoa Thần học tại đại học Corpus Christi ở Luân Đôn.

10. Keith Hopkins: Giáo sư Cổ Sử tại đại học King, Cambridge và là thành viên của Hàn Lâm Viện Anh Quốc.  Giáo sư thỉnh giảng tại các đại học Berkeley và Princeton.

11. Douglas Lockhart: Giáo sư về Tôn Giáo Học tại đại học Franklin

12. Hugh J. Schonfield: Giáo sư đại học Wisconsin, chuyên gia về Thánh Kinh.

   Trên đây là một tá tác giả điển hình mà ông Huỳnh Thiên Hồng cho rằng “Những "lý luận" của các nhà "trí thức" này nếu dùng để viết một bài văn nghị luận bậc trung học còn không đáng để được điểm trung bình.” chưa kể đến những nhân vật nổi danh cả thế giới đều biết như Thomas Paine, Robert G. Ingersoll, Bertrand Russell v..v...

     Ông Hồng nên tự hỏi, mình có đáng là học trò của những nhà trí thức trên chưa? Nhưng chúng ta cũng không nên lấy làm lạ, vì đó là phản ứng điển hình của những tín đồ Tin Lành hạ căn, cuồng tín, vô trí tuệ, càng viết càng tỏ rõ trình độ thấp kém của mình. Đối với họ, bất cứ cái gì trái với niềm tin của họ, họ  đều cho là rác rưởi trong khi sự thực là những rác rưởi đó nằm trong chính niềm tin của họ. Đối với họ, những thuyết như Big Bang về nguồn gốc vũ trụ, thuyết Tiến Hóa về nguồn gốc con người v..v..., những thuyết mà chính giáo hòang John Paul II và hầu hết các giới lãnh đạo trong Ki Tô Giáo đều công nhận, đều là rác rưởi, vì không hợp với niềm tin của họ. Đây chính là bản chất của Tin Lành.  Vì thế ngày nay, ngay trên đất Mỹ, vẫn còn có những kẻ nghiện đạo Giê-su lên tiếng chống thuyết Tiến Hóa vì tin rằng Thiên Chúa của họ đích thực đã “sáng tạo” (sic) ra cái vũ trụ này trong 6 ngày, cách đây khỏang 6000 năm.  Tiến sĩ Lê Anh Huy của ông Hồng là một trong những người này.

     Ông Hồng viết:

   Ngay trong mấy trang đầu của cuốn "sách", Trần Chung Ngọc đã cho đăng hình của Giáo Hoàng John Paul II và hình vẽ cảnh linh mục Công Giáo thiêu sống thổ dân từ chối theo đạo. Những cái hình này có liên quan gì đến Chúa Jesus và sự giảng dạy của Chúa?”

      Ông Hồng quên mất bức hình thật của Chúa Giê-su của ông, bức hình do đài BBC tái tạo dựa theo cổ sử.  Trong cuốn sách về “Chúa Giê-su Là Ai?” thì phải có hình của Chúa Giê-su, hình đại diện của ông ấy ở trên trần (John Paul II), và hình nhà truyền giáo theo đúng lời dạy của “Chúa Giê-su” đi thiêu sống những người không chịu theo đạo. Ông Hồng nên nhớ, những người thiêu sống thổ dân Mỹ để truyền đạo không chỉ là linh mục Công giáo mà phần lớn còn là Tin Lành, những người đã chạy từ Âu Châu sang để trốn tránh sự bức hại của Công Giáo đối với Tin Lành ở Âu Châu. Ông hỏi: “Có liên quan gì đến Chúa Jesus và sự giảng dạy của Chúa?”

       Có chứ sao không? Một lần nữa, câu hỏi này lại chứng tỏ kiến thức đáng phàn nàn của ông Hồng về ngay cuốn Thánh Kinh mà ông tôn thờ.  Ông không đọc Thánh Kinh của ông hay sao?  Chúa của ông phán, Lưu-Ca 19:27: “Hãy mang những kẻ thù của ta ra đây, những người không muốn Ta ngự trị trên họ, và giết chúng ngay trước mặt ta.” (Luke 19:27:  But bring here those enemies of mine, who did not want me to reign over them, and slay them before me,). Và các nhà truyền giáo Ki Tô Giáo đã theo đúng lời dạy của Chúa của ông.  Khi thiêu sống con người, họ đều giơ cái mà họ gọi là  Thánh giá ra trước mặt nạn nhân, vì Thánh giá tượng trưng cho sự cứu chuộc của Giê-su, nếu chúng ta tin được cái chuyện hoang đường của thời bán khai này. [Charlie Nguyễn, một tín đồ Công Giáo đạo gốc,  đã viết: “Nếu Chúa Giê-su không bị đóng đinh trên cái giá gỗ hình chữ thập cùng với hai tên ăn trộm ở bên mà lại bị hành quyết bằng cách treo cổ thì cái giây thừng để treo cổ  sẽ biến thành cái “Thánh Thòng Lọng”].  Chúng ta thấy, câu hỏi “Có liên quan gì đến Chúa Jesus và sự giảng dạy của Chúa?“ của ông Hồng đã chứng tỏ  là ông ấy chỉ tin Thánh Kinh chứ không hề đọc Thánh Kinh, và nếu có đọc thì cũng chỉ đọc những đọan mà người ta bảo ông ấy đọc.  Ngòai ra, Chúa của ông ấy còn rủa những người không tin ông ta như sau, Matthew 23:33:  “Ngươi là lòai rắn, ngươi là thế hệ của những rắn độc, làm sao các ngươi thóat khỏi hỏa ngục?” và còn nhiều câu tương tự nữa nằm trong cái gọi là Thánh Kinh.

      Ông Hồng có hiểu tại sao những người truyền đạo Ki Tô lại thích thiêu sống những người ngọai đạo không chịu theo đạo dưới áp lực của gươm giáo không? Đó là vì lòng nhân từ của họ đấy, theo quan niệm nhân từ trong đạo Ki Tô.  Họ quan niệm rằng ngọn lửa vĩnh hằng ở dưới Hỏa Ngục của Chúa của ông để thiêu những kẻ không tin Chúa của ông thì khủng khiếp hơn ngọn lửa trên trần nhiều, cho nên vì lòng nhân từ, họ thiêu sống những người ngọai đạo với ngọn lửa thường để tránh cho nạn nhân khỏi bị thiêu đốt bởi ngọn lửa vĩnh hằng dưới hỏa ngục của Chúa và để cứu vớt linh hồn những người không chịu làm tôi tớ hèn hạ hầu việc Chúa như các tín đồ Tin Lành. Ông không đọc lịch sử Ki Tô Giáo hay sao?  Tất cả những hành động ác ôn, bạo tàn của Ki Tô Giáo đối với nhân lọai trong 2000 năm nay đều nhân danh Chúa của ông đấy.  Nếu không tại sao Vatican phải xưng thú 7 núi tội ác trước thế giới?  Nếu không tại sao Tin Lành phải xin lỗi các thổ dân ở Mỹ và Phi Châu?

   Chúng ta hãy đọc tiếp một đọan khác của ông Hồng:

     Thiết tưởng, một trí thức, lại là một trí thức "được đào tạo trên căn bản lương thiện" phải biết thế nào là một việc làm lương thiện và không lương thiện. Thiết tưởng, một Phật tử thuần thành, lại là một "trí thức" Phật tử, không thể nào mở miệng, đặt bút để thóa mạ một ai. Nói lên một sự thật, khác với nhân danh sự thật để thóa mạ "chúng sinh".”

    Trước hết, tuy là một Phật tử, nhưng chưa bao giờ tôi lấy danh nghĩa của một Phật Tử để viết về Ki Tô Giáo, mà chỉ là người đã để tâm nghiên cứu về Ki Tô Giáo.  Phật Pháp không có tranh cãi với các pháp thế gian, cho nên không có lý do gì để tôi mang Phật Giáo ra tranh cãi với Ki Tô Giáo.  Thứ nhì, cái mà ông Hồng gọi là thóa mạ chẳng qua chỉ là những sự thật về Ki Tô Giáo, về Chúa Giê-su của ông, mà chính những bậc lãnh đạo trong các giáo hội Ki Tô, những giáo sư đại học, những nhà thần học nổi tiếng đưa ra qua những công cuộc nghiên cứu nghiêm túc của họ về chính tôn giáo của họ.  Trong những tài liệu tôi trích dẫn, không có một tài liệu nào của các bậc tôn đức trong Phật giáo, và cũng không có một tài liệu nào của Cộng Sản, tất cả đều của người Ki Tô Giáo.  Công việc của tôi là nghiên cứu và đưa ra bộ mặt thật của Giê-su cho đồng bào tôi biết nhưng tôi không ngăn cản bất cứ ai tiếp tục tin Giê-su như là đấng cứu thế, một sự mê tín trước thời Darwin và là một sự vô nghĩa sau thời Darwin, theo nhận định của Giám mục Tin Lành John Shelby Spong.  Căn bản lương thiện của con người là phải tôn trọng sự thật, không vì bất cứ lý do gì mà xuyên tạc hay phủ nhận sự thật.  Và đây chính là lý do mà các học giả trong Ki Tô Giáo đã có những tác phẩm nghiên cứu mà tôi trích dẫn trong cuốn sách.  Nếu ông Hồng cho rằng trong đó có những lời thóa mạ thì những lời thóa mạ không phải là của tôi.  Nếu ông có khả năng thì hãy đi kiếm các tác giả đó mà tranh luận, hoặc đi kiện họ nếu ông thấy thực sự họ đã thóa mạ đạo của ông.  Tại sao các giáo hội Ki Tô, quyền lực và giầu có như Công Giáo, ảnh hưởng to lớn ở Mỹ như Tin Lành, không truy tố ra tòa các tác giả trên khi họ viết tòan là những rác rưởi về đạo và Chúa của ông?  Vì các giáo hội này đã có kinh nghiệm, càng đưa ra dư luận quần chúng thì càng nhiều rác rưởi bị phanh phui, và đại chúng càng biết rõ hơn về bộ mặt thật của Ki Tô Giáo.  Lẽ dĩ nhiên không một giáo hội nào muốn như vậy.  Cho nên họ càng bưng bít sự thật trước đám tín đồ thấp kém ở dưới được bao nhiêu thì càng hay bấy nhiêu.  Thực ra thì nếu có quyền hành trong tay như trong thời Trung Cổ hay sát cánh với thực dân đi truyền đạo trên các nước kém mở mang thì họ có thể có nhiều biện pháp ác độc để bịt miệng những người nói ra sự thật.  Nếu trong thời Ngô Đình Diệm mà tôi viết ra cuốn sách này thì chắc chắn tôi đã bị thủ tiêu ngay sau khi bị hành hạ tra tấn.  Nhưng nay họ đã không còn quyền lực nữa, ít ra là ở trong các nước văn minh tiến bộ Âu Mỹ, nên họ giữ yên lặng và biện pháp duy nhất của họ ngày nay là tiếp tục nhốt tín đồ trong những ngục tù tư tưởng hay trói buộc tín đồ bằng những xiềng xích trí tuệ.  Cũng vì vậy mà ông Hồng không biết đến các tác giả mà tôi trích dẫn là ai nên đã đặt bút viết càn viết ẩu một câu vô cùng nhảm nhí, tự chứng tỏ là mình đang sống trong một ngục tù tư tưởng: “Những "lý luận" của các nhà "trí thức" này nếu dùng để viết một bài văn nghị luận bậc trung học còn không đáng để được điểm trung bình.” 

   Tôi thực tình không muốn tranh cãi với ông Hùynh Thiên Hồng về Phật Giáo, nhưng cái bệnh của các ông là không biết gì về Phật Giáo mà cứ viết bậy về Phật Giáo nên tôi lại phải soi sáng cho ông vài điểm. Ông Hồng viết:

    Trong quan điểm chân chính của Phật giáo: "Chúng sinh là Phật chưa thành!". Có thể nào, một Phật tử lại nhân danh này, nhân danh nọ (mở mang dân trí, đoàn kết dân tộc, bảo tồn văn hóa …) là những cái "danh" tự nó cũng không thật (theo thuyết Vô Ngã) để nhục mạ những vị "Phật sẽ thành"?”

      Chúng sinh là Phật sẽ thành” không phải là một quan điểm chân chính của Phật Giáo mà là một chân lý mà Đức Phật đã ngộ được.  Nhưng khi chưa thành thì chúng sinh còn ở trong vòng mê muội, có phải không?  Làm sao để đi đến hết mê muội?  Mở mang kiến thức, tu tập và tăng tiến trí tuệ để có thể nhìn thấy vạn Pháp như chúng là như vậy (Như thực tri kiến).  Trong vấn đề tu tập thì Phật tử phải có lòng từ bi.  Từ là cho vui, và bi là cứu khổ.  Viết ra những sự thật để mở mang dân trí là mang đến cho họ một niềm vui. Ở trên đời này không có niềm vui nào hơn niềm vui của sự hiểu biết, trừ những người có đầu óc của những con cừu.  Từ sự hiểu biết đi đến sự thóat ra khỏi những ngục tù tưởng hay xiềng xích trí tuệ, nghĩa là những ràng buộc do mình làm khổ chính mình. Đây chính là cứu khổ.  Vậy đưa ra những sự thật cho những “Phật sẽ thành” biết không có nghĩa là nhục mạ họ mà thực ra là để giúp họ.  Nhưng Phật Giáo hiểu rằng, chúng sinh vô lượng nhưng căn trí thì bất đồng.  Không phải ai cũng có thể thóat ra khỏi được cảnh ngục tù tư tưởng tối tăm.  Không phải ai cũng có thể cất bỏ cái gánh nặng “Thiên Chúa” trên vai của mình được.  Nhưng không phải vì vậy mà người Phật tử chỉ suốt ngày ngồi hít vào thở ra để tìm sự an lạc cho riêng bản thân mà còn có trách nhiệm đối với xã hội của mình, và rộng hơn nữa đối với đồng lọai.  Một trong những trách nhiệm này là dùng sự hiểu biết của mình để giải hoặc Ki Tô, kéo đồng lọai ra khỏi những huyễn hoặc của Ki Tô Giáo, những huyễn hoặc đã được chứng minh là không còn giá trị trong thế giới văn minh tiến bộ ngày nay.  Nhận rõ trách nhiệm thì cứ làm, còn có kết quả hay không lại là vấn đề khác.

     Phê bình câu của tôi: "Chính quyền Việt Nam cần phải ý thức được cái hiểm họa Ki Tô, Ca Tô cũng như Tin Lành, nếu không muốn truyền thống dân tộc và văn hóa của Việt Nam bị xóa sạch trong tương lai, rơi vào vòng nô lệ Vatican hay Tin Lành, bình phong tôn giáo của các đế quốc tư bản Âu Mỹ." (Trang 10, CGSLAGDNG) ông Hùynh Thiên Hồng đặt câu hỏi sau đây:

     Tôi muốn hỏi Trần Chung Ngọc là chắc ông ta rất đau khổ khi phải sống trong "vòng nô lệ" Tin Lành trên đất nước "đế quốc tư bản" Mỹ này. Dân tộc Ý chắc sống rất là đau khổ trong "vòng nô lệ" Vatican hơn là dân tộc Việt Nam đang sống trong vòng nô lệ của bạo quyền cộng sản vô thần. Dưới chế độ vô thần, độc tài, sắt máu của cộng sản, chắc là truyền thống dân tộc và văn hóa của Việt Nam đã được bảo tồn và phát huy? Tôi không biết là dân tộc Việt Nam chúng ta có cái truyền thống văn hóa đấu mẹ tố cha, giết lầm hơn tha sót…”

     Thứ nhất, ông phải hiểu là “vòng nô lệ” mà tôi viết ở trên là nô lệ văn hóa và tôn giáo.  Xin đừng lầm lẫn nền văn hóa Ki Tô Giáo với nền văn minh Âu Mỹ.  Mỹ là một đế quốc tư bản, điều này không ai có thể phủ nhận.  Tin Lành là một tôn giáo lớn ở Mỹ, chiếm khỏang 60% dân chúng (Công giáo 22%), nhưng chỉ là một tôn giáo như mọi tôn giáo khác.  Các nhà lập quốc Hoa Kỳ đã tách tôn giáo ra khỏi chính quyền và người dân trên nước Mỹ được tự do theo bất cứ đạo nào và viết bất cứ cuốn sách nào về tôn giáo.  Chính quyền Mỹ là một chính quyền thế tục (secular government), không phải là một chính quyền tôn giáo.  Nền văn hóa Ki Tô Giáo là nền văn hóa đã phá sản vì nó được xây dựng trên sự lừa dối, ngụy tạo, bạo tàn, ngu dân dễ trị như lịch sử đã chứng minh.  Tôi không muốn dân tộc Việt Nam bị rơi vào vòng nô lệ của nền văn hóa Ki Tô Giáo, cái nền văn hóa đã tạo ra những nhân vật như Trần Lục, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Bá Tòng, Ngô Đình Diệm v..v.. và những người bỏ đi nhân cách của mình để làm đầy tớ hầu việc Chúa, hay tự hạ mình mình xuống hàng súc vật như những con chiên, người ta bảo sao nghe vậy, dẫn đi đâu thì đi theo đó, kể cả trên con đường phản bội dân tộc..  Dân tộc Ý đã thóat ra khỏi vòng nô lệ của Vatican qua đạo luật bác bỏ Công Giáo là tôn giáo của quốc gia (State religion) và đã tước đọat mọi đất đai của Công Giáo thu hẹp lại còn một diện tích vào khỏang vài cái sân đá banh. Đó là Vatican ngày nay.  Vô thần không phải là điều xấu mà trái lại, vô thần phản ánh sự sáng suốt của trí tuệ.  Những người ngày nay còn tiếp tục dùng từ “cộng sản vô thần” để ám chỉ một điều xấu chỉ chứng tỏ một tâm cảnh cuồng tín của Ki Tô Giáo đã lỗi thời.  Ngòai ra nó còn chứng tỏ một trình độ hiểu biết thấp kém, vì đối với các giới trí thức trong những xã hội tân tiến Âu Mỹ, “vô thần” là một biểu hiện của tự hào, của danh dự (A badge of honor).  James Haught đã coi những người vô thần như thuộc đòan thể của những vĩ nhân (They are in the company of giants).  Và Voltaire đã đưa ra nhận định: “Vô thần là thói xấu của một số ít người thông minh” (Atheism is the vice of a few intelligent people).  Frank E. Tate đã coi Vô Thần là kết quả tiến bộ trí thức của con người.

     Do đó “cộng sản vô thần” không phải là có ý nghĩa xấu. Ông được đào luyện trong cái lò nhồi sọ tôn giáo của đạo thờ Thần Tin Lành  nên cứ nhắm mắt mang Thần của ông ra đối chọi với “vô thần” làm như “hữu thần” là hay lắm mà không biết rằng đó chỉ là sự mê tín trước thời Darwin..  Cũng vì “cộng sản vô thần” nên ngày nay ở Việt Nam, tất cả những truyền thống dân tộc, những sắc thái lịch sử đặc biệt trong nền văn hóa dân tộc đều được phục hồi và phát huy.  Lễ Hội Đền Hùng, ngày rằm tháng Giêng (Lễ Phật quanh năm không bằng ngày rằm tháng Giêng), Hội Hoa Lư, Hội Chùa Hương v..v.. tất cả đều náo nhiệt tưng bừng.  Còn câu sau cùng của ông trong đọan trên thì đáng lẽ ông không nên hỏi vì cái chuyện “đấu tố mẹ cha, giết lầm còn hơn tha sót” chính là chủ trương “hành đạo”  của Ki Tô Giáo khi xưa. Ông không tin ư?  Tổng Giám Mục Peter de Rosa đã viết trong cuốn Vicars of Christ: The Dark Side of The Papacy, trang 162-164:  “Nguyên tắc chỉ đạo của họ là “Thà giết oan 100 người vô tội còn hơn là để cho một kẻ dị giáo được tự do.” và  “Một đứa con phải phản bội cha mẹ, một bà mẹ phải phản bội đứa con.  Không làm như vậy là một tội đối với Tòa Án Thánh và đáng bị tuyệt thông, nghĩa là không được hưởng các bí tích và nếu không có lệnh sửa đổi, không được lên thiên đường (mù).” (Their guiding principle was: “Better for a hundred innocent people to die than for one heretic to go free.”; “A child must betray his parents, a mother betray her child.  Not to do so is a sin against the Holy Office anf merits excommunication, that is, exclusion from the sacraments and, if there is no amendement, exclusion from heaven).   Tôi khuyên ông Hồng nên đọc thêm về lịch sử Ki Tô Giáo của ông trước khi đưa ra những câu hỏi chứng tỏ ông không biết gì về chính tôn giáo của mình và bản thân ông chỉ là một con cừu, người ta dắt đi đâu thì đi đó, dạy sao thì chỉ biết nhắc lại như con vẹt mà không hề đào sâu vào vấn đề.

   Lại nữa, ông phê bình cuốn sách của tôi với chủ đề “Chúa Giê-su là ai? Giảng dạy những gì?” nhưng ông lại trích dẫn mấy câu thơ con cóc của Nguyễn Chí Thiện để chống Cộng. Tôi không ngăn cản ông chống Cộng nhưng đây không phải là chỗ thích hợp.  Hãy đi thẳng vào chủ đề.  Nhưng ông không có khả năng làm việc này nên đánh lạc hướng dư luận bằng cách chụp mũ vu vơ. Ông nghĩ rằng tôi sợ cái mũ CS của ông lắm hay sao? Ông nghĩ rằng cái mũ “cán bộ Cộng sản” mà ông chụp lên đầu tôi sẽ khiến cho tất cả những điều tôi viết trở thành vô giá trị hay sao? Ông nên nhớ, tất cả những tài liệu tôi trích dẫn đều là từ những tác phẩm của các bậc trí thức trong Ki Tô Giáo hoặc trong những xã hội Ki Tô, tuyệt đối không có một tài liệu nào của CS cả.  Vậy thì cán bộ Cộng sản chính là các giám mục Tin Lành như John Shelby Spong, mục sư Tin Lành Ernie Bringas, các nhà thần học Công giáo Hans Kung, Uta-Ranke Heinemann v..v.. Có phải như vậy không?

      Để bảo vệ Thánh Kinh, ông Hồng viết:

      Chắc chắn là những lời giải thích xuyên tạc, vô trí về Thánh Kinh thì tín đồ Cơ đốc giáo chưa có dịp nghe, hoặc chẳng thèm nghe.”

     Đây cũng chỉ là những lời khẳng định vu vơ vì ông Hồng không cho độc giả biết đâu là những lời giải thích xuyên tạc, vô trí về Thánh Kinh.  Mặt khác, chưa có dịp nghe hoặc chẳng thèm nghe thì làm sao biết được đó là những lời giải thích xuyên tạc, vô trí?    Một câu vô nghĩa, phi lôgic như vậy mà cũng viết lên được thì thật là tài.  Nhưng điều này chứng tỏ rằng, những tín đồ Tin Lành như ông Hồng chỉ được nghe những giải thích Thánh Kinh người ta muốn cho ông nghe, còn những giải thích khác, bất kể là của ai, khả năng chuyên môn ra sao, dù chưa nghe chưa đọc, chỉ đóan mò là không hợp với lời giải thích mà người ta muốn ông nghe, đều là xuyên tạc, vô trí hết.   Sống trong bóng tối quen rồi, ra ngòai ánh sáng sẽ bị chói mắt.  Nhưng với thời gian cảnh vật đẹp đẽ bên ngòai mới là những cái đáng nhìn.  Có phải như vậy không?

     Chúng ta hãy đọc tiếp:

      Nhưng nói là "người trong đạo thường không đọc Thánh Kinh" thì thật là không biết phải đánh giá "trí thức" của các "đại trí thức gia" Giao Điểm như thế nào!”

     Xưng là "trí thức" đuợc đào tạo trên căn bản lương thiện mà không biết rằng nếp sống đạo của Cơ đốc nhân dựa trên mối tương giao mật thiết với Đức chúa Trời bằng hai yếu tố bất khả phân ly: sự cầu nguyện và sự đọc Kinh Thánh. Cầu nguyện được gọi là hơi thở tâm linh, còn Kinh Thánh được gọi là thức ăn tâm linh của người theo Chúa. Đời sống đức tin của người theo Chúa chỉ có thể tăng trưởng khi người ấy cầu nguyện và đọc Kinh Thánh. Những sách giải kinh, những bài giảng về những câu Kinh Thánh Trần Chung Ngọc trích dẫn trong Chương II của cuốn "sách" CGSLAGDNG, nhiều đến nỗi hầu như một người không có đủ thời gian để mà đọc cho hết, vậy mà các "trí thức" Giao Điểm dám nói khơi khơi là "người ngoại đạo và người trong đạo thường không đọc Thánh Kinh, và dĩ nhiên, chẳng có ai mang những điều này ra giảng trong các nhà thờ."

     Ông không hiểu ý của tôi trong câu trên.  Người ngọai đạo cũng như người trong đạo là những người dân thông thường, những tín đồ thông thường, không phải là những lãnh đạo tôn giáo, giải thích lươn lẹo Thánh Kinh để đưa tín đồ vào vòng mê tín. Thí dụ:  những nhà “giải thích” Thánh Kinh đều lấy câu Isaiah 7: 14 trong Cựu Ước để chứng minh là sự sinh ra của Giê-su từ một nữ đồng trinh phù hợp với lời tiên tri trong Cựu Ước.  Nhưng đó chỉ là thủ đọan trích dẫn Thánh Kinh một cách lắt léo, chứ đọc tòan phần Isaiah 7: 14-16 thì rõ ràng câu Isaiah 7: 14 chẳng liên quan gì đến sự sinh ra của Giê-su cả.  Những cách cắt xén chọn lọc Thánh Kinh để giải thích cho tín đồ, ngày nay ai mà không biết, chỉ có những tín đồ là không biết mà thôi.  Những tín đồ u mê thì vì không đọc Thánh Kinh nên người ta giảng sao nghe vậy, còn các người ngọai đạo thì vì không đọc Thánh Kinh nên rất dễ rơi vào vòng u mê tin nhảm nhí, tin bướng tin càn. Ở trên tôi đã chứng minh là ông Hùynh Thiên Hồng không đọc Thánh Kinh nên mới đặt câu hỏi cái hình nhà truyền giáo thiêu sống thổ dân Mỹ thì có liên quan gì đến Chúa Giê-su và những lời giảng dạy của Chúa?  Nhưng không chỉ có thế, vì không đọc Thánh Kinh nên ông Hùynh Thiên Hồng, một người Việt Nam, mới mơ tưởng vào sự cứu rỗi của một người Do Thái tên là Giê-su, trong khi trong Thánh Kinh đã viết rất rõ, và rất nhiều học giả ngày nay, ở trong cũng như ở ngòai các giáo hội Ki Tô, đều đồng thuận là Giê-su chẳng qua chỉ là một người Do Thái, vì đọc Cựu Ước nên mắc bệnh hoang tưởng, tin rằng mình chính là con của Thần Gia-vê của Do Thái, là cứu tinh của dân Do Thái, và chỉ xuống trần để cứu dân Do Thái mà thôi. Nếu đọc Thánh Kinh thì phải biết Giê-su coi những người phi Do Thái là chó và khẳng định chỉ cứu người Do Thái mà thôi. Và nhiều đọan khác trong Thánh Kinh, qua những lời nói của Giê-su, đều chứng tỏ là Giê-su chỉ tin mình là cứu tinh của dân Do Thái mà thôi.  Những câu nói này tôi đã trình bày khá đầy đủ trong cuốn sách, trang 78..  Đó là cái hại của những người chỉ tin Thánh Kinh mà không đọc Thánh Kinh.

     Chúng ta hãy đọc tiếp:

    Các "trí thức" Giao Điểm hình như không thèm biết cái "sự thật"  Kinh Thánh là một cuốn sách được dịch ra nhiều thứ tiếng nhất trên thế giới, được in ra nhiều nhất trên thế giới, và thay đổi cuộc đời của nhiều người nhất trên thế giới. Nếu người trong đạo và ngay cả người ngoài đạo không đọc Kinh Thánh (chẳng biết Trần Chung Ngọc, quý "trí thức gia" Giao Điểm, và quý "trí thức gia" được Trần Chung Ngọc trích đăng, thuộc về người trong đạo hay người ngoài đạo?) thì Kinh Thánh được dịch và in ra để làm gì, từ năm này sang năm khác, và giá bán một quyển Kinh Thánh hoặc các sách giải kinh, các sách thần học không phải là rẻ, nếu so với các loại sách khác.”

      Qua những cuốn sách và những bài tôi đã viết, tôi đã chứng tỏ là tôi đã đọc kỹ Thánh Kinh và tôi hi vọng không bị rơi vào trường hợp phải đối thọai với những tín đồ Ki Tô không hề đọc Thánh Kinh như Đỗ Mạnh Tri, Lê Anh Huy, Phan Như Ngọc, Huệ Nhật và Khuất Minh.  Trời chẳng chiều lòng người nên nay tôi lại phải chỉ cho ông Hùynh Thiên Hồng, người mà tôi biết chắc là không đọc kỹ Thánh Kinh, nhiều lắm là chỉ đọc những đọan người ta mang ra giảng cho ông, biết thực chất của Thánh Kinh ra sao..

      Có thể nói, cuốn Thánh Kinh là cuốn sách đã được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới nhất, được các giáo hội Ki Tô và các thương gia bỏ tiền ra in nhiều nhất, được phát  không ở đầu đường trong các đại học nhiều nhất, và bán chạy nhất, nhưng lại ít được đọc nhiều nhất.   Lý do là tuyệt đại đa số Ki Tô hữu hay Cơ Đốc nhân thuộc thành phần thấp kém, ít học, cho nên có dị ứng với chuyện đọc Thánh Kinh vì có đọc cũng không hiểu Thánh Kinh nói cái gì trong đó.  Họ được dạy từ nhỏ là đó cuốn Thánh Kinh (sic) và tin vào những lời “giải thích Thánh Kinh” của giới chăn chiên nên chẳng buồn tìm hiểu xem cuốn đó có chất “Thánh” ở chỗ nào.  Trong phương trời Âu Mỹ, hầu như mỗi nhà tín đồ Ki Tô Giáo đều có ít nhất là một cuốn Thánh Kinh (Đặc biệt là TCN có tới 4 cuốn), thường được dùng làm vật trang trí hay vật hứng bụi (dust collector) vì chẳng có mấy ai đọc nó, kể cả ông Hùynh Thiên Hồng như tôi sẽ chứng minh sau đây.  Joseph Lewis đã từng nhận định: “Chỉ có những người nào không đọc Thánh Kinh mới tin Thánh Kinh, câu này đã trở thành một thành ngữ thông thường và là một định đề..” (It has become a common expression and axiom, that only those believe the Bible who have not read it).  Và khoa học gia Ira Cardiff cũng đã đưa ra nhận xét:

     “Hầu như không có mấy người thực sự đọc cuốn Thánh Kinh.  Cá nhân mà tôi nói đế (một Cơ Đốc nhân thông thường) chắc chắn là có một cuốn Thánh Kinh, có thể là cuốn sách duy nhất mà họ có, nhưng họ không bao giờ đọc nó, đừng nói đọc cả cuốn.

     Nếu một người thông minh đọc cả cuốn Thánh Kinh với một óc phê phán thì chắc chắn họ sẽ vứt bỏ nó đi.”

     (Virtually no one reads the Bible.  The above mentioned individual (an ordinary Christian) doubtless has a Bible, perhaps the only book he owns, but never reads it – much less reads all of it.

     If an intelligent man should critically reads it all, he would certainly reject it)

     Vậy thì, những cái “nhất” của Thánh Kinh như được dịch ra nhiều thứ tiếng nhất, bán chạy nhất và nhiều nhất, không có nghĩa là cuốn sách đó là một tác phẩm có giá trị nhất, hay được nhân lọai đọc nhiều nhất và tin theo nhiều nhất.  Tại sao?  Vì trong cuốn Thánh Kinh chúng ta thấy có những điều tàn bạo hạng nhất, phi luân hạng nhất, nhơ nhớp hạng nhất, dâm lọan hạng nhất, phản khoa học hạng nhất, và dĩ nhiên, hoang đường hạng nhất.  Thảm họa của nhân lọai là, chính những cái “nhất” trong Thánh Kinh này đã đưa đến những tội ác trải dài trong 2000 lịch sử  của Ki Tô Giáo. Đây không phải là những nhận xét vô căn cứ, mà bắt nguồn từ chính những điều viết trong Thánh Kinh, nếu chúng ta chịu khó mở cuốn Thánh Kinh ra và đọc từ đầu đến cuối.

     Vì đây là cuốn Kinh căn bản của một tôn giáo lớn trên thế giới, đã có thời làm bá chủ Âu Châu và có ảnh hưởng nhiều trên các xã hội Âu Mỹ nên cuốn sách này cũng là một cuốn sách mà các học giả Tây phương, ở trong cũng như ở ngòai các giáo hội Ki Tô, đã đưa lên bàn mổ nghiên cứu, phân tích, thẩm định giá trị khả tín v..v.. kỹ nhất và đầy đủ nhất.  Người ta đã phân tích từng câu, từng chữ trong Thánh Kinh, tìm hiểu xuất xứ, ai viết và viết bao giờ, viết trong tâm cảnh nào v..v..

     Riêng về Tân Ước, một nhóm cả trăm học giả chuyên về Thánh Kinh (Bible Experts), thuộc mọi tông phái Ki Tô, đã thành lập Hội Nghiên Cứu Giê-su (The Jesus Seminar), cùng nhau nghiên cứu Tân Ước trong nhiều năm, từ 1985.  Một trong những kết quả nghiên cứu là:

     - Giê-su không thực hiện một phép lạ nào.  Những phép lạ mà người ta gán cho Giê-su chỉ là vay mượn từ các huyền thọai Hi Lạp của Homer (The Seminar scholars believe the Gospel writers borrowed from the Greek poet Homer), hoặc phóng đại quá mức để nhấn mạnh quyền năng của Giê-su (The Seminar fellows suggest that the Gospel writers exagerated the stories in order to emphasize Jesus’ power).

      Tôi xin nhắc, đây là công cuộc nghiên cứu trí thức của chính các chuyên gia Ki Tô Giáo chuyên gia về mọi ngành, dựa trên rất nhiều tài liệu và sự kiện lịch sử viết bằng cổ ngữ, văn bản gốc Thánh Kinh viết bằng tiếng Hi Lạp, những sự kiện khoa học v..v.., chứ không phải là của những người ngọai đạo.

     Những kết quả nghiên cứu khác về cuốn “Thánh Kinh” cũng đã chứng tỏ một điều: niềm tin của tuyệt đại đa số Cơ Đốc nhân được xây dựng trên những ngụy tạo, lừa dối của giới giáo sĩ trong các giáo hội Ki Tô.  Có bao nhiêu tín đồ Ki Tô Giáo, Công giáo cũng như TinLành, biết đến những công cuộc nghiên cứu “Thánh Kinh” của giới thức giả trong những xã hội Tây Phương?  Có bao nhiêu tín đồ Ki Tô Giáo nói chung đã đọc những tác phẩm của những chuyên gia phê bình Thánh Kinh từng câu, từng chữ một và vạch ra những điều sai trái trong Thánh Kinh, trái ngược hẳn với những lời giảng lệch lạc, méo mó, ngòai tòan bộ vấn đề (out of context) của giới chăn chiên trong các giáo hội Ki Tô, những người có thể đã biết đến sự thật, nhưng vì quyền lợi vật chất và tinh thần trên đám tín đồ thấp kém, nên vẫn tiếp tục dấu kín, lừa dối tín đồ, giam chặt tín đồ trong bóng tối của ngục tù trí tuệ, của kiến thức. Ông Hồng là một nạn nhân của chính sách “ngu dân dễ trị” này nên cho rằng tất cả những công cuộc nghiên cứu Thánh Kinh của các bậc học giả lừng danh trên thế giới đều là “rác rưởi”, không có trình độ trung học.

     Các giáo hội Ki Tô rất sợ tín đồ biết đến cái bản chất thực sự của giáo hội cũng như những sai lầm trong Thánh Kinh, những sai lầm mà chính giáo hòang cũng như các giáo hội Ki Tô đều không thể phủ nhận.  Nhưng đối với đám tín đồ thấp kém thì họ vẫn tiếp tục dạy Thánh Kinh là những lời mạc khải của Thiên Chúa cho nên không thể sai lầm và vẫn tiếp tục trích dẫn vụn vặt những câu lạc lõng trong Thánh Kinh để giảng dạy cho tín đồ, giữ tín đồ trong vòng u mê tăm tối.  Chúng ta cũng nên nhớ là đã một thời Giáo hội cấm tín đồ đọc Thánh Kinh, vi phạm luật này có thể bị xử tịch thu tài sản, bị vạ tuyệt thông hay xử tử hình. Ở bên Anh, vào thế kỷ 15, một đạo luật ra đời: “Bất cứ người nào đọc Thánh Kinh bằng tiếng mẹ đẻ đều bị tịch thu tài sản: nhà cửa, đất đai, gia súc, và ngay cả của cải của những người thừa kế vĩnh viễn, và bị kết tội là lạc đạo trước Thiên Chúa, kẻ thù của Vua, và cực kỳ phản bội đối với quốc gia.”

(Joseph Lewis, Ingersoll, The Magnificient, p. 130:  In the 15th century the following was in force in England: That whoever reads the scriptures in the mother tongue, shall forfeit land, cattle, life, and goods from their heirs forever, and so be condemned for heretics to God, enemies to the crown, and most arrant traitors to the land.)

      Trong năm đầu sau khi đạo luật ra đời, 39 người bị treo cổ rồi mang thây đi thiêu vì đã vi phạm luật này (During the first year this law was in force 39 were hanged for its violation and their body burned).

     Đến cuộc cải cách Tin Lành của Martin Luther, Thánh Kinh bắt đầu được dịch ra tiếng địa phương và tín đồ Tin Lành được phép đọc Thánh Kinh bằng tiếng mẹ đẻ nhưng chỉ được hiểu theo lời diễn giảng của giới chăn chiên. Chúng ta thấy rõ là cho tới ngày nay, ông Hùynh Thiên Hồng cũng không ra ngòai lệ.

      Trong bài nhận định này, tôi không có ý định đưa ra tất cả những kết quả nghiên cứu về “Thánh Kinh” cũng như không có ý định trích dẫn những “rác rưởi” trong Thánh Kinh thuộc lọai vi phạm thuần phong mỹ tục, phi luân, vô đạo đức, tàn bạo, phi lý trí, phản khoa học v..v..  Nếu quý độc giả muốn đọc những thứ này, xin hãy tự mở cuốn “Thánh Kinh” ra mà đọc.  Nếu ngại công tìm kiếm thì tôi xin giới thiệu một số tác phẩm trong đó các tác giả đã trích dẫn sẵn những đọan mà độc giả muốn đọc, khỏi cần mất công tìm kiếm trong Thánh Kinh:

      - “The X-Rated Bible: An Irreverent Survey of Sex in the Scripture” của Ben Edward Akerley: cuốn sách dày hơn 400 trang, liệt kê những chuyện dâm ô trong Thánh Kinh.

      - “All The Obscenities in the Bible” của Kasmar Gene: cuốn sách dày hơn 500 trang, liệt kê tấc cả những chuyện tục tĩu, tàn bạo, giết người, lọan luân v..v.. trong Thánh Kinh.

      - “The Bible Handbook” của W. P. Ball, G.W.Foote, John Bowden, Richard M. Smith et...: Liệt kê những mâu thuẫn (contradictions), vô nghĩa (absurdities), bạo tàn (atrocities) v..v.. trong Thánh Kinh.

      - “The Born Again Skeptic’s Guide to the Bible” của Bà Ruth Hurmence Green: Bình luận những chuyện tàn bạo, dâm ô, kỳ thị phái nữ v..v.. trong Thánh Kinh.

      - “One Hundred Contradictions in the Bible” của Marshall J. Gauvin: Liệt kê 100 điều mâu thuẫn trong Thánh Kinh.

      - “The Bible Unmasked” của Joseph Lewis: Lột mặt nạ Thánh Kinh, đưa ra những sai lầm trong Thánh Kinh.

      - “Christianity Cross-Examined” của William Floyd:  Phân tích từng quyển một trong Thánh Kinh.

      - “Christianity and Incest” của Annie Imbens & Ineke Jonker:  Ki Tô Giáo và vấn đề lọan luân, những sự kiện về lọan luân và kỳ thị phái nữ bắt nguồn từ Thánh Kinh.

     Tôi là một nhà khoa học, cho nên khi đọc những cuốn sách trên, bao giờ tôi cũng có quyển Thánh Kinh (King James Version) ở trước mặt để kiểm xem những câu trích dẫn có đúng hay không và tôi nhận thấy công việc nghiên cứu của các tác giả rất đúng đắn và lương thiện.  Tôi không nghĩ rằng ông Huỳnh Thiên Hồng có đủ can đảm để đọc những chuyện rác rưởi này.  Lẽ dĩ nhiên không ai mang những đọan này ra mà giảng trong nhà thờ. Trong trường hợp ông không sợ Chúa phạt, nói đúng ra chỉ là lời hù dọa của giới chăn chiên, thì ông có thể kiếm các cuốn trên đọc và kiểm chứng với cuốn Thánh Kinh mà tôi tin chắc ông chưa từng đọc hết.

   Sau cùng là câu ông Hồng phê bình một câu dịch của tôi:

   Chính trong phần "Dẫn nhập" Trần Chung Ngọc đã dịch "Justification by Faith" ra Việt ngữ là: "Đức Tin biện minh cho tất cả" đủ để cho thấy trình độ "trí thức" và mức độ "lương thiện" của tác giả trong sự quan tâm đến tôn giáo. (Justification by Faith là giáo lý về "sự xưng nghĩa bởi đức tin" của Cơ đốc giáo) "Đức Tin biện minh cho tất cả" có nghĩa là gì? Phải chăng, Trần Chung Ngọc muốn gieo rắc vào đầu người đọc một ấn tượng sai lầm về lẽ đạo quan trọng của Cơ Đốc Giáo?”

      Trước hết, “Xưng nghĩa bởi đức tin” là “Profession of faith” chứ không phải là “Justification by Faith”.  Giáo lý “Justification by Faith” là biện chứng pháp của Martin Luther đưa ra để biện minh cho những nghịch lý mâu thuẫn về tính thiện của Thiên Chúa trong Thánh Kinh. Đọc Luther chúng ta thấy ông ta thường coi lý trí (reason) là “dơ dáy” (dirty), là “con điếm” (a whore).  Nhưng “Justification by faith” là cái gì? Đó là một giáo lý đầy mâu thuẫn của thế kỷ 16 về thông điệp tha thứ của Thiên Chúa (The message of God’s forgiveness).  Sử gia Justo L. Gonzalez, trong cuốn sử  The History of Christianity, Vol.II, From The Reformation to Present Day, giảng rằng, trang 33: “Justification không phải là sự vắng bóng của tội lỗi mà là sự kiện Thiên Chúa tuyên xưng chúng ta là đúng, là công chính ngay cả trong khi chúng ta còn là những người tội lỗi.” (Justification is not the absence of sin, but the fact that God declares us to be just even while we are still sinners.).  Cái luận điệu thần học lắt léo này không còn có thể thuyết phục được giới trí thức ngày nay.  Thứ nhất, giáo lý trên dựa trên một giả định là có sự hiện hữu của một Thiên Chúa tòan năng, tòan trí, có quyền tha thứ và muốn tuyên xưng thế nào cũng được.  Thứ nhì, không ai nghe thấy Thiên Chúa “declare”, đó chỉ là luận điệu thần học của Tin Lành, nói là Chúa declare như vậy cho đám tín đồ.   Chủ đích của giáo lý “Justification by faith” là con người chỉ cần có đức tin (faith) vào Thiên Chúa, giả sử Thiên Chúa hiện hữu, điều mà chưa ai có thể chứng minh hay khẳng định, thì dù trên người có mang đầy tội lỗi, Thiên Chúa cũng tha thứ và tuyên xưng đó là người công chính, là đúng (justified).  Từ cái giáo lý này mà những nhà truyền giáo Tin Lành và các tín đồ Tin Lanh có thể làm bất cứ cái gì, kể cả thiêu sống người ngọai đạo mà không thắc mắc vì trước Thiên Chúa họ đã là người công chính rồi, tin rằng sự phán xét và tuyên xưng của Thiên Chúa, nhân danh là Thiên Chúa, là tuyệt đối.  Do đó tôi đã dịch thóat Justification by faith là Đức tin biện minh cho tất cả để lột ra ý nghĩa của cái giáo lý có tính cách biện minh này.

     Tôi nghĩ qua sự phân tích vài điểm trên, cũng đủ để cho quý độc giả thấy rõ trình độ và tâm cảnh của Tin Lành Hùynh Thiên Hồng.  Như Mục sư Ernie Bringas đã nhận định: đầu óc của đa số tín đồ Ki Tô Giáo có một khuyết tật, sự hiểu biết về tôn giáo của họ đã đưa họ trở về sự hiểu biết của thế kỷ 17.  Và tôi đã chứng minh ở trên là nhận định của Mục sư Ernie Bringas không sai.

 

Mark_03.gif (833 bytes) Về trang Nghiên cứu & đối thoại tháng 6-2003

 

Home  |  Top Page | Về trang mục lục

© Thư từ và bài viết cho mục này, xin gởi attachment về email: giaodiem@giaodiem.net

. ..........