-
- THÊM VÀI NHẬN ĐỊNH VỀ BỨC THƯ Của TỔNG GIÁM MỤC PHẠM MINH MẪN
- Gửi LINH MỤC NGUYỄN TẤN
KHÓA...
Đã có vài nhận định khác
nhau về bức thư của TGM Phạm Minh Mẫn, đề ngày 25-12-2002, gửi LM Nguyễn
Tấn Khóa, Quyền Chủ Tịch Ủy Ban Đoàn Kết CGVN và các Đại Biểu Đại
Hội Những Người CGVN Xây Dựng và Bảo Vệ Tổ Quốc Lần Thứ IV. Đây
là một bức thư mà nội dung là: tuy bận việc mục vụ nên không dự
Đại Hội được nhưng cũng góp vài ý kiến với các Đại Biểu trong nhiệm
vụ xây dựng đất nước và bảo vệ tổ quốc.
I. Nhận Định Của “Phật Tử” Lý Đại Nguyên.
Trước hết là ông Lý Đại
Nguyên ở Cali., một “Phật tử Thống Nhất hải ngoại đặc biệt”, đặc
biệt vì với óc tưởng tượng, có thể nói là hoang tưởng, rất đặc biệt
của một nhà văn, đã cho rằng bức thư của TGM Phạm Minh Mẫn không phải
là một “gáo nước lạnh” mà là một “thùng nước sôi hất
vào mặt bọn lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam”, cái bọn lãnh đạo đã
cho phép vợ chồng ông xuất ngoại đi Mỹ đoàn tụ với gia đình.. Ông “Phật tử Thống Nhất hải ngoại
đặc biệt” Lý Đại Nguyên không hài lòng với “gáo nước lạnh”, có
tác dụng làm con người tỉnh cơn say hay nguội đi cơn nóng giận, mà muốn
đó là một thùng nước sôi để hủy hoại mặt của người khác. Cái
tâm “Phật tử đặc biệt” và óc tưởng tượng của một nhà văn văn
chẳng ra văn thật là vượt quá sự tưởng tượng và cái tâm của một
Phật tử thông thường, đúng nghĩa là một Phật tử. Vì vậy tôi xin
phép được gọi ông là Lý Đại Ngôn cho nó hợp tình hợp cảnh, như sẽ
được chứng minh trong một đoạn sau.
Các Phật tử miền Nam trước
đây, trong đó có tôi, hiện nay ở hải ngoại, đều thuộc “Phật Giáo
Thống Nhất” cả, nhưng hiển nhiên cũng có nhiều hạng “Phật tử Thống
Nhất”. Thầy Thích Thiện Siêu đã
nói đến hạng người chuyên làm khổ mình, khổ người. Đó là hạng chuyên sống với một tâm
tình nhỏ hẹp, xấu xa, hận thù, nói những lời độc ác để thu lợi về
cho mình v..v.. Ông Lý Đại Ngôn lên
án Đại Hội V Phật Giáo và Đại Hội Những Người CGVN Xây Dựng và Bảo
Vệ Tổ Quốc Lần Thứ IV đều là
“Quốc Doanh”, chẳng buồn để ý là có bao nhiêu vị thuộc Giáo Hội Phật
Giáo Việt Nam Thống Nhất khi xưa ở miền Nam, và bao nhiêu Linh Mục thuộc
Giáo Hội Công Giáo Việt Nam nằm trong những giáo hội “Quốc Doanh”
này. Cách đây trên 2 năm, vào tháng
10, 2000, Ông Lý Đại Ngôn này cũng đã từng viết bài đả kích, lên lớp,
dạy khôn Thầy Thích Thanh Từ chỉ vì Thầy được xuất ngoại hoằng Pháp,
thể theo lời mời của một số Phật tử ở ngoại quốc. Chúng ta hãy đọc vài lời của ông trong
bài đó nói về mục đích của ông: “hy vọng giúp cho quý ngài
nhận ra trách nhiệm của mình đối với Dân Tộc và với thân phận
khốn khổ của toàn dân Việt Nam”. Chúng
ta có thấy một Phật tử nào huênh hoang và xấc láo như ông Lý Đại Ngôn
chưa? Nhưng trách nhiệm gì? Trách nhiệm phải chống Cộng như ông Lý
Đại Ngôn. Ông Lý Đại Ngôn lấy tư
cách gì để chống Cộng? Ông giải
thích: “tư cách của một Phật tử đã ghi trong tâm tư mình một căn
cước tỵ nạn Cộng Sản.” Nhưng
ông lại không phải là người “tỵ nạn Cộng Sản”. Vì, như trên đã nói, nhà nước đã mở
lượng hải hà cho ông xuất ngoại đoàn tụ với gia đình. Nghe chính lời ông kể thì sau 1975 ông bị
10 năm tù. Sau khi ra tù thì ở Việt
Nam trong nhiều năm không ai nghe ông nói đến trách nhiệm với dân tộc. Đến thập niên 1990, ông được chính quyền
Việt Nam cho phép xuất ngoại đoàn tụ với gia đình ở Mỹ. Điều chắc là ông cũng phải ngoan ngoãn,
vận động, chạy chọt để được xuất ngoại, chứ chẳng phải Cộng Sản
sợ dư luận quốc tế mà cho ông, một người chẳng ai biết đến tên tuổi
và thành tích chống Cộng ở Việt Nam, xuất ngoại. Tới nơi không có Cộng,
ông bắt đầu chống Cộng, chống hăng hơn cả những người có “căn cước
tỵ nạn CS” thực sự, và chống Cộng lếu láo đến độ viết bài để
giúp những bậc lãnh đạo tôn giáo như ĐC Huỳnh Văn Nghi và Hòa Thượng
Thích Thanh Từ nhận ra trách nhiệm của mình đối với Dân Tộc và với
thân phận khốn khổ của toàn dân Việt Nam.
Chưa hết, ông còn lộng ngôn cho rằng “Những vị được nhà nước
Cộng Sản cho xuất ngoại, nếu không trực thuộc sự lãnh đạo của đảng
thì cũng đã quy thuận đảng rồi.” và
sự xuất ngoại của Hòa Thượng Thích Thanh Từ là để “thiết lập
một hệ thống Phật Giáo “Đảng Doanh”” ở ngoại quốc và “những
Chùa cúng cho thầy Thanh Từ đương nhiên là Chùa của Đảng Doanh.” Tôi
chưa thấy ai chống Cộng một cách đần độn và láo lếu như vậy. Tôi xin lỗi độc giả vì không thể nào
kiếm được từ nào thích hợp hơn.
Không ai có thể cho rằng
các quý Hòa Thượng Huyền Quang ở trong nước, và Mãn Giác ở hải ngoại,
là “Quốc Doanh”. Nhưng đọc bản Thông
Điệp Xuân Quý Mùi , chúng ta thấy rõ
Ngài Huyền Quang đã biết rõ tình hình Giáo hội và nhận thức rõ sự
nguy hại của những xung đột, phân hóa, chia rẽ nội bộ. Đọc Thư Ngỏ Kỷ Niệm Bốn Mươi
Năm Phật Giáo Nhập Cuộc 1963-2003 của Hòa Thượng Thích Mãn Giác gần
đây, chúng ta cũng thấy Ngài đã đưa ra một thông điệp khuyên răn Phật
tử đừng rơi vào cạm bẫy của những “kinh nghiệm đắng cay của
tình trạng tiến thối lưỡng nan “Ấn Quang – Quốc Tự” trước năm
1975 và “Phật Giáo quốc doanh – Phật Giáo quốc gia” hay “Phật Giáo
quốc doanh – Phật Giáo thống nhất” sau năm 1975.” Hai bậc Cao Tăng của “Phật Giáo Việt
Nam không Quốc Doanh” đã thấy rõ sự phân
hóa, chia rẽ, giữa “Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất khi xưa
ở miền Nam” và “Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam ngày nay của cả
nước Việt Nam” mà những người chống Cộng hải ngoại gọi là
Giáo Hội Quốc Doanh, là một cái gai đâm vào cạnh sườn Phật Giáo Việt
Nam bấy lâu nay. Tình trạng phân hóa,
chia rẽ này được các thế lực vô minh chống Phật Giáo, thuộc đen cũng
như đỏ, khai thác và nuôi dưỡng với ý đồ làm suy yếu Phật Giáo. Một số Phật tử có đầu nhưng không
có óc đã phụ họa sách lược phá ngầm Phật Giáo này và đi làm công việc
múc nước cho người ta rửa chân. Cũng
may số này không nhiều và tiếng nói của họ cất lên chỉ là những tiếng
“nói với trăng” lạc lõng, bâng quơ bên đường, chẳng thể ngăn cản
được đoàn lữ hành đang tiến bước.
Hiện
tượng chống Cộng lố lăng đến độ đần độn và lếu láo không chỉ
ở những cá nhân như Lý Đại Ngôn mà còn ở cái gọi là Giáo Hội Phật
Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Úc Đại Lợi – Tân Tây Lan qua
Thông Cáo Báo Chí của Văn Phòng Ngoại Vụ ngày 9 tháng 3, 2003, trong đó
câu mở đầu là:
“Hòa
Thượng Thích Huyền Quang bị đưa đi Hà Nội chữa ung thư. Xin mọi người cầu nguyện và đòi hỏi
CS Việt Nam chịu trách nhiệm về sinh mạng của Ngài.”
Bản
thông cáo cũng cho biết “Vị Tăng Thống 85 tuổi đang bị nhiều chứng
bệnh nội tạng”.
Là một Phật tử, tôi xin cầu nguyện và mong cho Hòa Thượng qua khỏi
được kiếp nạn này, nếu không thì tôi cũng mừng cho Ngài đã giải được
nghiệp, nhưng làm sao tôi có thể đòi hỏi CS Việt Nam phải chịu trách
nhiệm về sinh mạng của Ngài, một người đã 85 tuổi, đang bị nhiều chứng
bệnh nội tạng và ung thư? Ngài
không qua khỏi được kiếp nạn này là trách nhiệm của CS hay sao. Những người Chống Cộng Chết Bỏ có biết
lý lẽ là gì hay không? Kiểu chống Cộng
như vậy chỉ làm cho các Phật Tử càng ngày càng xa lánh cái tự nhận là
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại. Một năm trên thế giới này có biết bao
nhiêu người, trẻ có già có, chết vì đủ loại thứ bệnh và ung thư vì
y học ngày nay chưa có thuốc chữa trị? Hòa
Thượng đã 85 tuổi đời. Thất thập
cổ lai hi, con người sống quá 70 là đếm từng ngày, dù không bị ung thư
cũng có thể về với tổ tiên bất cứ lúc nào.
Hơn nữa, Hòa Thượng Huyền Quang không phải là không biết được lý
Vô Thường của vạn Pháp. Đòi hỏi
CS Việt Nam phải chịu trách nhiệm về sinh mạng của Hòa Thượng khi Ngài
đang bị nhiều bệnh nội tạng và ung thư là sỉ nhục Ngài chứ không phải
là tôn vinh Ngài, vì điều đòi hỏi này hết sức vô lý và quá thiếu
trí tuệ. Các ông chống Cộng kiểu
gì mà lạ vậy? Không sợ CS họ cười vào mũi cho hay sao? Cũng may đó chỉ
là tác phẩm của một tổ chức địa phương tự nhận là GHPGVNTNHN tại
Úc Đại Lợi – Tân Tây Lan, chẳng đại diện cho ai và Phật tử như tôi
chẳng buồn biết đến làm chi. Cộng đồng Phật Giáo hải ngoại tuyệt
đối không có trách nhiệm gì về việc làm vô ý thức của những tổ chức
trên.
II. Nhận Định Của
Trí Thức Công Giáo Đỗ Mạnh Tri.
Thứ đến là ông Đỗ
Mạnh Tri ở Pháp, một tín đồ Công Giáo đã từng khẳng định “tin
là một cách sống, chết, không liên quan gì đến cái biết và hiểu”
(Xin đọc “Ngón Tay và Mặt Trăng”), và cũng đã từng khẳng định
là "Trên bình diện luân lý, trong lịch sử giáo hội chưa có
thời nào giáo sĩ, tu sĩ và giáo phẩm đáng kính phục như ngày nay"
(Xin đọc “2000 Năm Một Thuở..”), bất kể đến vấn nạn loạn dâm của hàng ngàn linh mục CG
trên khắp thế giới, rất chủ quan khi cho rằng:
“Ông Lê Quang Vinh, Trưởng ban tôn
giáo chính phủ, các thứ công an tư tưởng và công giáo vận, nhìn bản chụp
lá thư hai trang của đc Mẫn với chữ ký hẳn hoi, tung tăng trên mạng lưới
toàn cầu, chắc bực lắm.”
Tôi thực tình không nghĩ
như vậy. Tôi e rằng thay vì bực
mình, rất có thể họ sẽ mừng thầm trong bụng, vì bức thư của TGM Phạm
Minh Mẫn không có nhiều giá trị trí thức, không có ý kiến nào đặc biệt,
không có đề nghị nào rõ ràng, thiết thực, khả thi, vì đặt sai vấn đề,
như tôi sẽ phân tích trong một phần sau. Nhưng
trước hết, chúng ta hãy xét vài nhận định của ông Đỗ Mạnh Tri.
Ông Tri cho bức thư của
TGM Phạm Minh Mẫn là “một cái gõ vào đầu gối để làm choáng váng
cái đầu”, nên hiểu đầu gối đây là Ủy Ban Đoàn Kết CGVN, và
cái đầu đây là Đảng Cộng Sản. Chỉ
có điều, một cái gõ vào đầu gối thì nhiều nhất là làm cho bắp chân
dưới co giật lên một chút chứ không thể làm choáng váng cái đầu. Đây là một phản ứng thông thường mà
bất cứ người nào đã từng đi khám tình trạng sức khỏe tổng quát định
kỳ đều biết. Nghe đâu ông Đỗ Mạnh
Tri là một giáo sư Triết, nhưng cái Triết của ông ta thuộc loại lắt
léo, như chính ông ta đã thừa nhận. Thật
vậy, ông Tri viết như sau:
“Đức cha viết: “công việc mục
vụ không cho phép tôi đến dự Đại hội”. Tôi hiểu: "không cho phép" Đc Mẫn không đi dự Đại hội,
không phải vì bận, mà vì chính trách nhiệm mục vụ không cho phép một
giám mục đến dự một Đại hội như thế. Hiểu như vậy quả là
lắt léo. Nhưng cái lối vừa viết vừa lách tại Việt Nam khiến
người đọc cứ phải bới bèo ra bọ mới nắm bắt được ý người viết
hoặc sự kiện khách quan.”
Hay thật. Hay quả là hay. Giáo sư Tri lý luận, vì TGM Phạm Minh Mẫn nghĩ một đàng, viết một
nẻo, nói nôm na là viết lắt léo, cho nên Giáo sư cũng phải hiểu lắt léo. Chỉ có một tâm lắt léo của một con
chiên trí thức Công giáo cỡ Đỗ Mạnh Tri mới hiểu được lối viết lắt
léo của vị chủ chăn, một TGM Công giáo Việt Nam. Ông TGM Phạm Minh Mẫn
ơi! Ông có biết rằng con chiên của
ông đang mạ lỵ ông không?
III. Nhận Định
Của Tiến Sĩ Gioan Nguyễn Phúc Liên.
Sau cùng là Giáo sư Tiến
sĩ Kinh tế Gioan Nguyễn Phúc Liên, một ông CG tu xuất, ngoài nghề dạy học
còn làm nghề rao bán món hàng “Công giáo chống Cộng” rất hung hăng,
cho rằng bức thư của TGM Phạm Minh Mẫn có nội dung chỉ đạo đường lối
nhập cuộc đấu tranh của giáo dân theo hai mặt:
-
Một mặt chúng ta nắm tay nhau, quyết hợp nhất với những
Vị Chủ chăn chân chính, Giám mục và Linh mục, để CẤT TIẾNG NÓI nói lên LẼ THẬT;
-
Một mặt khác chúng ta thẳng tay quét sạch đám Giáo gian quốc
doanh đã là những con vi trùng do Thế quyền độc tài xử dụng đặt vào
trong thân thể của Mẹ Giáo Hội để làm cho Mẹ chúng ta phải yếu sức
trong một số thời gian qua.
Tiến sĩ Nguyễn Phúc Liên
không cho biết sẽ thẳng tay quét sạch đám Giáo gian quốc doanh ở Việt
Nam như thế nào khi ông đang an vị ở Thụy Sĩ.
Chẳng trách là đã gần 30 năm rồi mà đám giáo gian quốc doanh vẫn
bình chân như vại, ung dung làm...giáo gian quốc doanh.
Hiển nhiên là chúng ta thấy
ba nhân vật trên đã nhận định bức thư của TGM Phạm Minh Mẫn theo cảm
tính và tâm tư của mình. Cả ba ông
đều chống Cộng hết mình, lẽ dĩ nhiên, ở nơi không có Cộng. Nhưng để cho mấy ông đó độc diễn chống
Cộng một chiều thì nó mất vui, cho nên tôi lại phải lăn vào vòng thị
phi để đưa ra những nhận định cá nhân về bức thư của TGM Phạm Minh
Mẫn. Phương pháp nhận định của tôi
không dựa trên cảm tính cá nhân mà là dựa trên một sự phân tích khoa học,
dựa trên logic, chứ không phải là cứ viết bừa, nói bừa một cách vô
trách nhiệm.
IV. Và Thêm Vài
Nhận Định Của Trần Chung Ngọc.
Trước hết, đọc kỹ bức
thư của TGM Phạm Minh Mẫn, tôi thấy đây đúng là bức thư của một ông
TGM Công Giáo chính hiệu Việt Nam, về từ cũng như về ý. Từ thì không chính xác, ý thì mập mờ,
không rõ ràng, đề nghị thì không tưởng và nguy hiểm. Tôi không hiểu TGM Mẫn có biết là mình
đã viết những gì không, hay viết chỉ để mà viết? Sau đây là phần phân tích chứng minh.
Mở đầu bức thư, TGM Phạm Minh Mẫn
viết:
“Trước hết tôi
xin gởi lời chào thăm sức khỏe và kính chúc bình an của Chúa Kitô đến
với các Đại biểu.”
Chúng ta có thể hiểu
câu trên của TGM Phạm Minh Mẫn ra sao?
Tôi xin phân tích câu trên dựa theo cấu trúc của Kinh Tin Kính của
Công Giáo, một sự pha trộn những sự kiện với những huyền thoại và
kèm theo những Tín lý.
1). Sự Kiện: Một sự kiện trong Kinh Tin
Kính là: “Chúa Ki Tô đã bị đóng đinh, chết, và táng xác”
cách đây gần 2000 năm. Vậy bằng
cách nào mà Chúa Ki Tô gởi lời chào thăm sức khỏe và kính
chúc bình an đến các Đại biểu?
Chúa Ki Tô là người Do Thái, vậy lời chào thăm sức khỏe
và kính chúc bình an của Chúa Kitô đến với các Đại biểu bằng
tiếng nước nào. Có hai giả thuyết:
một là Chúa đã đi học một “cua” cấp tốc tiếng Việt trước khi Đại
Hội họp, hai là: Chúa đã mạc khải cho TGM Mẫn và truyền lệnh cho TGM phải
dịch những lời đó từ tiếng Aramaic ra
tiếng Việt, với điều kiện TGM Mẫn phải biết tiếng Aramaic, ngôn ngữ
Chúa dùng khi còn sống, nay chỉ còn tồn tại trong một vùng nhỏ ở Syria? Cả hai giả thuyết này đều không đứng
vững trước trình độ hiểu biết của con người ngày nay.
2). Huyền Thoại: Nếu chúng ta tin huyền thoại về sự sống
lại của thân xác Chúa Ki Tô, điều mà ngày nay hầu hết các nhà thần học
và học giả chuyên gia về Ki Tô giáo, ở trong cũng như ở ngoài giáo hội
Công giáo, đã bác bỏ, thì tại sao Chúa không đích thân đến Đại Hội,
mang theo một thông ngôn nếu cần, để chào thăm sức khỏe và
kính chúc bình an các Đại biểu, đồng thời ra lệnh cho các
Đại Biểu không được làm giáo gian nữa, như vậy có phải là làm một
cú ngoạn mục, ngoạn mục hơn cú Đức Mẹ hiện ra ở La Vang, dẹp tan
ngay được đám giáo gian quốc doanh, khỏi làm bận tâm Tiến sĩ Nguyễn Phúc
Liên ở Thụy Sĩ. Tại sao Chúa lại
phải nhờ đến trung gian là TGM Phạm Minh Mẫn?
Chúa quyền phép vô cùng, nếu Chúa muốn làm gì Chúa có thể làm
ngay, đâu cần nhờ đến trung gian? Vậy
vai trò trung gian của TGM Phạm Minh Mẫn không cần thiết, thực chất chỉ
là tự phong, vô giá trị.
3). Tín Lý:
Vậy chỉ còn cách giải thích sau đây tôi cho là hợp lý nhất. Thực ra thì Chúa Ki Tô đã chết thật rồi,
vì gần 2000 năm nay có ai thấy Chúa ở đâu, trừ trong những đầu óc đã
được phép rửa đi những neuron từ nhỏ. TGM Phạm Minh Mẫn viết như trên để nhắc
nhở cho các Đại Biểu một tín lý mà giáo hội Công Giáo đưa ra để tạo
thần quyền cho giới chăn chiên: “Cha cũng như Chúa”, và trước đám
tín đồ Công giáo Việt Nam thì TGM Mẫn chính là Chúa Ki Tô. Chính Ngài đã viết bức thư trên bằng
tiếng Việt chứ không phải là Chúa Do Thái viết, và những lời chào
thăm sức khỏe và kính chúc bình an của Chúa Kitô đến với các Đại biểu
chính là những lời của TGM Phạm Minh Mẫn, đóng vai Chúa Ki Tô theo đúng
tín lý “Cha cũng như Chúa” của Công giáo..
Điều giải thích này hợp lý nhất
nhưng lại đưa đến vài vấn nạn.
Theo Tiến sĩ Kinh Tế Nguyễn
Phúc Liên thì các Linh mục trong Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo Việt Nam và Những
Người CGVN Xây Dựng và Bảo Vệ Tổ Quốc là “Giáo gian quốc doanh”, vậy
tất nhiên TGM Mẫn là “Giáo ngay Vatican doanh”.
Vì làm công việc Xây Dựng và Bảo Vệ Tổ Quốc Việt Nam thì là quốc
doanh, còn làm công việc Xây Dựng và Bảo Vệ Vatican, nói đúng ra là nô lệ
Vatican, thì phải là Vatican doanh. TGM Mẫn
đóng vai Chúa Ki Tô, nghĩa là “Chúa ngay ở Vatican”. Nhưng theo tín lý “Cha cũng như Chúa” của
Công giáo, thì các linh mục giáo gian quốc doanh cũng là những “Cha cũng
như Chúa”. Vậy ắt hẳn họ phải
đóng vai “Chúa gian ở Việt Nam”, tôi lại khai triển theo ý của Tiến sĩ
Kinh Tế Nguyễn Phúc Liên. Những Linh
Mục này chưa hề bị Tòa Thánh lột chức Linh Mục cho nên “de facto” họ
vẫn còn là “Cha cũng như Chúa”. Nếu
TGM đóng vai “Chúa ngay ở Vatican” gởi những lời chào
thăm sức khỏe và kính chúc bình an đến với các Đại biểu
thì các Linh mục Giáo gian quốc doanh cũng có thể đóng vai “Chúa gian ở
Việt Nam” gửi những lời chào thăm sức khỏe và kính chúc
bình an đến đến các vị trong Politburo Việt Nam. Vậy Tiến sĩ Kinh Tế Nguyễn Phúc Liên
tính sao? Chúa Ki Tô của ông ngay hay
gian? Và ai dám khẳng định Chúa nào
mới đích thực là Chúa? Ông Tiến sĩ
nên nhớ, trong cấu trúc của Công Giáo, là một tín đồ hay tu xuất Công
giáo Việt Nam, ông chỉ có một quyền là “cúi đầu quên mình trong vâng
phục”. Nếu không thì phiền lắm,
ông đừng có hòng lên thiên đường, khoan nói đến chuyện bị đầy hỏa
ngục trong ngọn lửa vĩnh hằng, vì các “Cha cũng như Chúa”, kể cả
các Cha phạm tội loạn dâm hay các Cha Giáo gian quốc doanh, nếu chưa bị lột
chức, đều có quyền “tha tội cho ai thì người ấy được tha, cầm giữ
ai thì người ấy bị cầm giữ”. Các
Cha Vatican doanh thì cho phép ông lên thiên đường, giả thử có một thiên
đường. Nhưng các Cha quốc doanh lại
cầm giữ ông, không ông cho lên thiên đường mà lại đầy ông xuống hỏa
ngục để cho ngọn lửa vĩnh hằng thiêu đốt ông. Vậy ông tính sao? Tôi luận như vậy có điều gì sơ sót
không? Mong quý ông chỉ dạy.
Trong thư của TGM Phạm
Minh Mẫn, Ngài có đưa ra 2 chủ đề để cho các “Giáo gian quốc doanh”
dựa theo đó mà xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ Quốc Việt Nam, theo
tiêu chuẩn của vị “Giáo ngay Vatican doanh”.
Chủ đề thứ nhất là: Xóa Bỏ Những Khuyết Tật Lớn Nhất
Của Xã Hội.
Điều này hàm ý xã
hội Việt Nam ngày nay có rất nhiều “khuyết tật”. Có những khuyết tật lớn nhất, lớn vừa
vừa, nhỡ, và nhỏ, và TGM Mẫn quan tâm đến những khuyết tật lớn nhất. Cách dùng từ của TGM Mẫn thật là đặc
biệt. Ông dùng từ “khuyết tật”,
thông thường được hiểu là một sự thiếu sót bẩm sinh của con người
về một điểm nào đó so với những người bình thường, thí dụ, do ân
sủng đặc biệt của Thượng đế, con người sinh ra bị mù mắt, tai điếc,
thọt chân v..v... TGM Mẫn dùng từ “khuyết
tật” để mô tả những tệ nạn hoặc chiều hướng sinh hoạt trong xã hội. Chỉ có điều, một tệ nạn xã hội, một
chiều hướng sinh hoạt trong xã hội thì có thể thay đổi, còn một “khuyết
tật” thì thường khó có thể thay đổi, khoan nói đến chuyện xóa bỏ.
Theo TGM Phạm Minh Mẫn thì
những “khuyết tật” lớn nhất cần phải xóa bỏ là : 1). Hiện tượng
tha hóa con người, và 2). Cơ chế bất công và tha hóa con người.
1). Xóa bỏ hiện tượng tha hóa con người.
Theo TGM Phạm Minh Mẫn
thì hiện tượng tha hóa con người là hiện tượng làm mất “chân lý
phẩm giá con người”. TGM Mẫn
không định nghĩa thế nào là “chân lý phẩm giá con người”. Lẽ dĩ nhiên, không thể nào định nghĩa
được, vì chân lý thì có tính phổ quát và được chấp nhận khắp nơi,
trong khi phẩm giá con người là một qui ước xã hội và thay đổi tùy
theo quan niệm, triết lý xã hội, vì vậy cho nên không có cái gì có thể
gọi là chân lý phẩm giá con người. Tiến
sĩ Kinh Tế Nguyễn Phúc Liên giảng: “Tha hóa nghĩa là con người sống
không phải là con người mang nhân phẩm, nghĩa là không còn mang những giá
trị nhân bản căn bản và tâm linh.” Đây
cũng lại là những lời giải thích mơ hồ, giải thích mà không giải
thích, vì quan niệm về nhân phẩm và giá trị tâm linh của con người không
có tính nhất quán. Thí dụ, những
tín đồ Công Giáo hay Tin Lành cho rằng mình làm đầy tớ Chúa, hầu việc
Chúa là có giá trị tâm linh, nhưng người ngoại đạo lại cho đó là sự
mê tín lạc hậu của những người không có đầu óc. Một thí dụ khác là người Công giáo
cho rằng “quên mình trong vâng phục”, tuyệt đối tuân theo lệnh của
Vatican là có nhân phẩm, trong khi người ngoại đạo cho đó chỉ là những
kẻ nô lệ, dù là nô lệ tôn giáo, do đó đã tự mình đánh mất đi nhân
phẩm của mình. Chúng ta có thể thấy
rõ vấn đề này hơn khi tôi trích dẫn một câu của Giáo sư Đỗ Mạnh
Tri về vấn đề tự do trong một phần sau.
TGM Mẫn đưa ra những nguyên nhân
gây nên hiện tượng tha hóa con người:
a). Khi
chủ nghĩa tiêu thụ đưa đẩy con người vào trong một mạng lưới những
thỏa mãn hời hợt giả dối.
Tiếng chuông chống “chủ
nghĩa vật chất” hay “chủ nghĩa duy vật” (materialism) ở Vatican đã
rung thì TGM Phạm Minh Mẫn, thuộc tập đoàn “Giáo ngay Vatican doanh”, cũng
phải họa theo, nhưng lại lẫn lộn chủ nghĩa vật chất với chủ nghĩa
tiêu thụ (consumerism). Điều này
không lấy gì làm lạ. Tại sao
Vatican lại chống chủ nghĩa vật chất? Vì
Vatican cho đó là một trong những nguyên nhân làm cho Công giáo suy thoái ở
trên thế giới, vì con người ngày nay bị ám ảnh về vật chất, tiện
nghi thân xác, mà không chú ý đến các giá trị tinh thần của Công Giáo,
giả thử Công giáo có một giá trị tinh thần nào đó. Công giáo muốn con người phải quay lại
những giá trị tinh thần của Công giáo trong thời Trung Cổ mà sự hưởng
thụ vật chất là đặc quyền của các giới chăn chiên. Còn các con chiên chỉ nên “đóng tiền, cầu nguyện, và vâng
phục”, không cần “no”, để cho các bề trên “no”, cả phần xác lẫn
phần hồn.. Nhưng thật ra, nguyên
nhân chính làm cho Công giáo suy thoái trên thế giới là sự thức tỉnh của
Tây phương về phương diện tôn giáo, kéo theo sự thức tỉnh tôn giáo ở
Phi Châu, Nam Mỹ, và Á Châu. Ngày nay,
Tây phương nhận thức được rằng, làm mất phẩm giá con người không phải
là chủ nghĩa vật chất, vì sự phát triển tiện nghi vật chất nằm trong
luật Tiến Hóa của nhân loại, mà chính là những giáo lý đã lỗi thời
của Công Giáo, bắt mọi tín đồ phải “quên mình trong vâng phục” và
tin những tín lý mà ngày nay không còn mấy giá trị trong thế giới văn
minh tiến bộ Âu, Mỹ, thí dụ như “Đức Mẹ Maria đồng trinh trước và
sau khi sinh ra ít nhất là 7 đứa con”, “Giáo Hoàng là đại diện của Chúa
trên trần”, “Giáo hội Công Giáo là giáo hội duy nhất, thánh thiện,
tông truyền” v...v... Mặt khác, chủ
trương chống chủ nghĩa vật chất của Vatican là đạo đức giả, vì ai cũng
biết Giáo hội Công Giáo hoàn vũ là một giáo hội giàu nhất thế giới,
tài sản lên đến cả ngàn tỷ đô la. Riêng
ở Mỹ, chúng ta chỉ cần nhìn vào số tiền lên đến cả tỷ đô la để
bồi thường cho các nạn nhân của các linh mục loạn dâm ở Hoa Kỳ thì
biết. Giáo hoàng mặc áo lụa tía,
có nhà nghỉ mát riêng, có hồ tắm riêng, đi đâu có máy bay riêng, cũng
được tín đồ cung phụng đủ mọi tiện nghi, uống sâm banh, ăn bít tết
v..v..., trong khi đám tín đồ đông đảo ở Phi Châu, Nam Mỹ, Phi Luật Tân
và cả ở những ốc đảo Công Giáo ở Việt Nam như Bùi Chu, Phát Diệm
v..v.. sống ra sao, trong hoàn cảnh vật chất như thế nào, không ai mà
không biết. Vậy mà Giáo hoàng lên
tiếng kết án chủ nghĩa vật chất, nếu không là đạo đức giả thì là
cái gì?
Không
nên lẫn lộn “chủ nghĩa vật chất” với “chủ nghĩa tiêu thụ”. “Chủ nghĩa tiêu thụ” là một quan niệm
về kinh tế xã hội, cho rằng “Sự tiêu thụ nhiều các hàng hóa thì
có lợi cho nền kinh tế” (Theo Tự Điển The American Heritage
Dictionary, Consumerism : The theory that a progressively greater consumption of
goods is economically beneficial). Thực ra,
tiêu thụ là một nhu cầu của con người, không phải là một chủ nghĩa. Một người theo chủ nghĩa vật chất là
một người bị ám ảnh và đặt nặng vấn đề hưởng thụ vật chất,
coi vật chất trên hết, do đó dùng mọi thủ đoạn để đạt được những
thỏa mãn vật chất, khác với tiêu thụ là nhu cầu tiêu dùng theo khả năng
của mỗi người. Tiêu thụ không làm
mất phẩm giá con người. Không ai có
thể phủ nhận Hoa Kỳ là nước tôn trọng phẩm giá con người, theo qui ước
về phẩm giá con người trong xã hội Mỹ, vào
bậc nhất thế giới, nhưng Hoa Kỳ cũng là nước khuyến khích tiêu thụ
vào bậc nhất thế giới. Cả tỷ đô
la đổ vào những dịch vụ quảng cáo trên radio, trên TV, cũng chỉ nhằm mục
đích khuyến khích dân chúng tiêu thụ. Tại
sao? Vì tiêu thụ là động lực làm
cho kinh tế phát triển, mang lợi nhuận đến cho quốc gia, tài hóa lưu thông,
người dân có công ăn việc làm v..v.., những yếu tố làm cho dân giàu nước
mạnh. Nếu người dân chỉ để tiền trong ngân hàng, hay mua vàng tích trữ,
không chịu tiêu dùng, thì hàng sản
xuất ra không bán được, ít người mua, nền kinh tế quốc gia sẽ đi xuống. Việt Nam đang ở trên đà phát triển kinh
tế, nhưng coi chừng, không nên bắt chước Hoa Kỳ. Tại sao? Vì
tiêu thụ chỉ có lợi cho nền kinh tế quốc gia khi người dân đã được
bảo đảm về vấn đề an sinh xã hội (social security), không còn phải lo lắng
về một mức sống tối thiểu nhưng tương đối đầy đủ. Chủ nghĩa vật chất, đặt nặng vật chất
trên mọi thứ khác, mới đưa đến những tệ đoan trong xã hội, vì tính
ưa hưởng thụ và đua đòi của con người, không ý thức được chân lý
vô thường của vạn pháp. Còn tiêu
thụ có chừng mực, trong khả năng của mình, thì không liên quan gì đến
việc làm mất phẩm giá con người.
b). Khi
diễn ra sự đảo ngược giữa phương tiện và mục đích: con người vốn
là mục đích của sự phát triển thì lại bị biến thành đơn thuần là
phương tiện sản xuất.
TGM Phạm Minh Mẫn viết chỉ
để mà viết, vì câu trên chẳng có nghĩa gì, dù chúng ta có cố tình hiểu
một cách lắt léo “à la Đỗ Mạnh Tri” như thế nào đi chăng nữa. Thứ nhất, về phương diện logic,
phương tiện, có thể có nhiều phương tiện khác nhau, được dùng để đạt
mục đích, vậy sự đảo ngược giữa phương tiện và mục đích
là như thế nào, lấy mục đích làm phương tiện, hay phương tiện làm mục
đích? TGM Mẫn giải thích câu vô nghĩa
trên bằng một câu vô nghĩa khác: con người vốn là mục đích của sự
phát triển thì lại bị biến thành đơn thuần là phương tiện sản xuất.
Bằng cách nào con người
là mục đích của sự phát triển? Chúng ta chỉ có thể nói “mục đích
của con người là...” chứ không thể nói “con người là mục đích..”,
nhất lại là mục đích của sự phát triển.
Phát triển cái gì, và phát triển như thế nào? Phát triển về vật chất hay tinh thần? Phát triển trí tuệ hay phát triển đức
tin không cần biết không cần hiểu? Do
đó, viết rằng “con người là mục đích của sự phát triển” là vô
nghĩa, không hợp logic, khoan kể đến ý nghĩa hàm hồ trong đó. Mặt khác, làm sao có thể biến con người
đơn thuần là phương tiện sản xuất? Chế
độ nô lệ đã cáo chung trên thế giới từ lâu, đơn thuần là phương tiện
sản xuất chỉ còn là những người máy (robots).
Viết một câu mà ý chẳng ra ý, từ chẳng ra từ, thế mà Giáo sư
Đỗ Mạnh Tri cũng hạ bút viết một câu như sau: “Sau đây không nhằm
phân tách nội dung một lá thư mà người mù chữ cũng hiểu, nhưng để trình
bày vài nhận xét râu ria chung quanh lá thư.” trong bài ông nhận định
về lá thư của TGM Phạm Minh Mẫn. Đúng
vậy, chỉ có những tín đồ Công giáo mù chữ mới hiểu được thư của
TGM Phạm Minh Mẫn, không phải vì TGM Mẫn viết rõ ràng và đúng từ đúng
ý, mà vì Phạm Minh Mẫn là một TGM Công giáo, thuộc giới chăn chiên, còn
tín đồ Công giáo thuộc giới con chiên, chỉ có bổn phận nhắm mắt mà
ca tụng bề trên, hiểu hay không hiểu không phải là vấn đề. Còn đối với những người có đôi chút
chữ nghĩa thì thư của TGM Phạm Minh Mẫn được viết bởi một người...không
hiểu là mình đang viết cái gì.
c). Khi
tự do được coi như là quyền được làm bất cứ điều gì mình thích, bất
cứ điều gì mà cảm tính của mình cho là có lợi trước mắt cho bản thân,
cho phe phái, thay vì được coi như là quyền làm những gì mà lương tâm thấy
được phép làm vì công ích, vì lợi ích của thế hệ hiện tại và mai
sau. Khi tách lìa chân lý về phẩm giá con người, tự do chỉ còn là sự
tùy tiện hoặc ngẩu hứng của những kẻ có quyền lực và thế lực. Tự
do như thế, thay vì đem lại an cư lạc nghiệp và hạnh phúc cho mọi người,
có nguy cơ tạo ra những bất công chồng chất trong xã hội.
Viết như trên, TGM Phạm
Minh Mẫn công nhận rằng, tự do không phải là muốn làm gì thì làm, mà tự
do đó không được tách lìa chân lý về phẩm giá con người. Như trên tôi đã trình bày, không có cái
gì có thể gọi là “chân lý về phẩm giá con người.” Cho nên câu trên trở thành những tiếng
gõ vào một cái thùng rỗng, vì căn bản
vấn đề đã đặt sai. Tuy nhiên,
chúng ta hãy nghe Giáo sư Đỗ Mạnh Tri giải thích thế nào là tự do, khi
ông nhận xét câu trên của TGM Phạm Minh Mẫn.
Ông Tri viết:
“Tự do không được "tách lìa chân lý về phẩm giá con người".
Tín lý công giáo gắn liền Tự do và Chân lý. Đối
với người công giáo, con người hoàn toàn tự do nhưng con người chỉ thật
sự tự do khi con người hướng về Thiên Chúa. Suy xét tới cùng, tự do
là đón nhận, ít nhất là chấp nhận.”
Phạm Minh Mẫn là một TGM
Công giáo. Và quan niệm về tự do của
người Công giáo, theo bậc trí thức Công Giáo Đỗ Mạnh Tri, là hoàn
toàn nhưng chỉ thật sự tự do khi con người hướng về Thiên Chúa, là đón
nhận, chấp nhận Thiên Chúa. Nếu
không như vậy thì không phải là sự tự do thật sự. Vậy cái gì gọi là tự do hoàn toàn? Nhưng thật ra hướng về Thiên Chúa có phải
là sự tự do hay không, hay chỉ là sự mù lòa tin bướng tin càn? Và cái tự do “không hướng về Thiên
Chúa” có phải là tự do hay không? TGM
Phạm Minh Mẫn viết lá thư gửi các Đại Biểu Những Người CGVN Xây
Dựng và Bảo Vệ Tổ Quốc. Tổ
quốc đây là tổ quốc Việt Nam, không phải là “tổ quốc” Vatican. Vậy TGM Phạm Minh Mẫn và ông Đỗ Mạnh
Tri hi vọng mang cái thứ tự do mà thực chất là tinh thần nô lệ mù
quáng này để xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam trong đó có 93%
dân số không theo Công giáo hay sao? Các
ông muốn 93% dân chúng Việt Nam không Công giáo cũng phải hướng về Thiên
Chúa của các ông và đón nhận, chấp nhận Thiên Chúa, sản phẩm của một
nền thần học dối trá đầy những điều hoang đường mà thế giới Tây
phương đang từ từ loại bỏ hay sao? Như
vậy, ý kiến của các ông có giá trị gì trong nhiệm vụ xây dựng và bảo
vệ tổ quốc? Không lấy gì làm khó
hiểu nếu chúng ta thấy những đại biểu vứt lá thư này vào xọt rác
và đảng Cộng Sản thì ngồi rung đùi vuốt râu cười: “Chúng nó ngu
thật, viết như vậy thì chỉ có phản tác dụng mà thôi”.
2. Xóa bỏ khuyết tật lớn thứ hai là cơ
chế bất công và tha hóa con người.
Cơ
chế xin-cho là một điển hình về cơ chế bất công và tha hóa. Cơ chế
xin-cho là một cơ chế bất công và tha hóa con người vì những lý do sau
đây:
Cơ chế xin-cho biến những
quyền tự do của công dân thành những thứ quyền Nhà Nước nắm trong tay
và ban bố lại cho người dân dưới dạng những cái phép. Như thế cơ chế
xin-cho vừa xóa đi các quyền tự do của người dân, vừa biến một NhàNước
của dân, do dân và vì dân thành một chủ nhân ông nắm trong tay các quyền
tự do của người dân và thi ân cho họ theo cảm tính hoặc ngẫu hứng của
mình.
Ở đây, TGM Phạm Minh Mẫn
cũng lại đặt sai vấn đề khi giải thích cơ chế xin – cho đã biến
những quyền tự do của công dân thành những thứ quyền Nhà Nước nắm
trong tay và ban bố lại cho người dân dưới dạng những cái phép.
TGM Phạm Minh Mẫn không hiểu
rằng cơ chế xin-cho là một cơ chế phổ quát trong mọi quốc gia, kể cả
trong những quốc gia dân chủ, tự do nhất.
Một quốc gia bao giờ cũng có những cơ quan hành chánh, phòng, sở
v..v.. để đáp ứng những nhu cầu của nhân dân. Nếu nhân dân tự do làm theo ý mình thì nước
trở thành loạn, vô trật tự, vô luật pháp.
Tôi muốn xây một cái nhà, tôi phải xin phép chính quyền. Chính quyền sẽ xét họa đồ của căn nhà
tôi sẽ xây, trên vùng đất nào, có hợp pháp không, có đúng tiêu chuẩn
của địa phương không v..v.. Nếu hội
đủ điều kiện thì chính quyền sẽ cho phép, và tôi chỉ có thể xây
nhà nếu được phép của chính quyền. Đây
là một thí dụ điển hình của cơ chế xin-cho.
Còn vấn đề tham nhũng của các viên chức trong cơ chế xin-cho
này lại là chuyện khác. Cho nên,
không thể nói là cơ chế xin–cho đã biến những quyền tự do của
công dân thành những thứ quyền Nhà Nước nắm trong tay và ban bố lại
cho người dân dưới dạng những cái phép.
Nhà nước, bất cứ ở đâu, cũng giữ quyền xét những cái “xin”
của người dân, và “cho phép” nếu cái xin đó hội đủ điều kiện và
tiêu chuẩn qui định bởi nhà nước. Đây
là cách điều hành hành chánh trong một quốc gia. Hơn nữa, quyền tự do của công dân
không có tính phổ quát, vì những quyền này thay đổi tùy theo quan niệm
và triết lý xã hội của mỗi quốc gia. Nước
Mỹ là nước tự do nhất thế giới và quyền hút thuốc lá là quyền tự
do của người dân, nhưng dân Mỹ lại không được phép hút thuốc lá
trong những nơi công cộng như tiệm ăn, trường học, trung tâm thương mại
v..v... Tin Chúa và cầu nguyện Chúa là quyền tự do của người dân, nhưng
sinh viên, học sinh lại không được tự do cầu nguyện Chúa trong các trường
học. Tin vào thuyết Sáng Tạo là quyền
tự do của người dân, nhưng các trường học lại không được quyền dạy
thuyết Sáng Tạo vì thuyết Sáng Tạo không được công nhận là một thuyết
như thuyết khoa học, có thể kiểm chứng.
TGM Phạm Minh Mẫn chỉ nói khơi khơi những quyền tự do của công
dân mà không nói đó là những quyền tự do nào thì đó là lối nói
bâng quơ, vô trách nhiệm và vô tác dụng.
Tôi nghĩ rằng, phân tích
vài điểm như trên thuộc chủ đề I trong thư của TGM Phạm Minh Mẫn kể
ra cũng tạm đủ để cho quý độc giả thấy rõ thực chất nội dung và
giá trị bức thư của TGM Phạm Minh Mẫn ra sao.
Do đó tôi sẽ không đi vào chi tiết trong chủ đề II: Phát
Huy Những Giá Trị Nhân Bản Làm Cho Xã Hội Càng Ngày Càng Nhân Bản Hơn. Tuy nhiên, để cho quý độc giả thấy rõ
hơn, tôi sẽ lướt qua vài điểm trong chủ đề này.
TGM Phạm Minh Mẫn khuyên
phải “Phát huy phẩm giá và nhân cách con người”, nghĩa là “phải
hướng các sinh hoạt văn hóa, kinh tế, xã hội đi đến sự phát triển
và thăng tiến con người toàn diện với cả ba mặt vật chất, tinh thần
và tâm linh làm nên phẩm giá và nhân cách con người.” và ông ta phê
bình: “Hình như hệ thống giáo dục trong xã hội ngày nay chỉ nghiêng
về chuyển giao kiến thức chuyên môn hơn là quan tâm phát triển nhân cách
con người. Định hướng nầy có nguy cơ tạo ra những lớp người hụt hẫng,
què quặt, dị tật cho dân tộc.”
Một điểm son trong đề
nghị này là TGM Phạm Minh Mẫn đã chú trọng đến vấn đề “nhân bản”. Và đây cũng là khuynh hướng chung của thế
giới, đặt căn bản trên con người. Con
người phải giải quyết những vấn đề của con người, không thể dựa
vào một ý niệm Thần quyền, vì ngày nay con người đã thấy rõ, ý niệm
về một Thiên Chúa can thiệp vào những việc thế gian là một ý niệm đã
lỗi thời, không có một nền thần học nào có thể biện minh cho điều này. Nhưng TGM Mẫn đã quy trách không đúng chỗ
khi ông đổ trách nhiệm cho hệ thống giáo dục chuyên môn không quan tâm
phát triển nhân cách con người. Giáo
dục chuyên môn là ở bậc Trung Học cấp 2, những lớp 10, 11, 12, và ở cấp
đại học. Những căn bản luân lý
trong xã hội như có hiếu với cha mẹ, kính trên, nhường dưới, tiên học
lễ hậu học văn, kính trọng và biết ơn thầy cô v..v.. đã được dạy
ở bậc tiểu học. Lên cao nữa thì
rèn luyện nhân cách con người không phải là nhiệm vụ của giáo dục đại
chúng. Đó là trách nhiệm của giáo dục
gia đình, của các bậc phụ huynh, của tự bản thân, và trong những cộng
đồng tôn giáo, của các bậc lãnh đạo tôn giáo. Mỗi ngày có 24 tiếng đồng hồ. Sinh viên, học sinh chỉ tiếp xúc với
nhà trường 5, 7 tiếng một ngày là nhiều, và chưa đủ để thu thập những
kiến thức tổng quát và chuyên môn giúp cho họ xây dựng một nghề nghiệp
chuyên môn, có một tương lai tốt đẹp. Giao
phó mọi sự cho nhà trường là một quan niệm sai lầm, trốn trách nhiệm
của các bậc cha mẹ và người lớn trong gia đình.
TGM Phạm Minh Mẫn cũng còn
đề nghị “phải loại trừ mọi gian dối xảo trá ngày nay đang tràn
lan trong mọi lãnh vực của cuộc sống con người và xã hội.”
Tôi cho đây là một điều
không tưởng. Tôi xin hỏi ngài: bằng
cách nào có thể loại trừ mọi gian dối xảo trá trong xã hội. Gian dối xảo trá hiện hữu trong mọi xã
hội, càng văn minh tiến bộ bao nhiêu, như nước Mỹ, càng có nhiều gian dối
xảo trá bấy nhiêu. Ngay trong nội bộ
giáo hội CG VN cũng đầy những gian dối xảo trá. Ngay trong Tòa Thánh Vatican cũng đầy gian dối
xảo trá. Huống chi là trong một xã hội
đa dạng với hơn 80 triệu dân. Chúng
ta chỉ có thể nói, phải có luật pháp nghiêm minh, phải phát triển nền
kinh tế quốc gia để cho con người khỏi “đói ăn vụng, túng làm càn”,
phải dùng những phương tiện truyền thông để giáo dục, khuyên răn quần
chúng để giảm thiểu những sự gian dối xảo trá trong xã hội, chứ
không thể nào loại trừ được mọi gian dối xảo trá trong xã hội. Đưa ra những đề nghị mà biết rằng
không thực hiện được thì thà chẳng đưa ra còn hơn.
Sau cùng, trong đoạn kết
của bức thư, TGM Phạm Minh Mẫn có đưa ra một ý kiến khá nguy hiểm. Đó là:
“Tôi nghĩ rằng người công giáo mong
đợi các đại biểu góp phần vào sự nghiệp xây dựng đất nước
và bảo vệ Tổ quốc theo phong cách, theo lương tâm và theo niềm tin của
người công giáo, là những yếu tố làm phong phú nền văn hóa và
nội lực của dân tộc Việt Nam.”
Sự nguy hiểm ở đây nằm
trong câu “theo phong cách, theo lương tâm và theo niềm tin công giáo”. Bởi vì xây dựng đất nước và bảo vệ
tổ quốc “theo phong cách, theo lương tâm và theo niềm tin công giáo”
của 7% Công giáo rất có thể không phù hợp với sự xây dựng đất nước
và bảo vệ tổ quốc theo niềm tin của tuyệt đại đa số, 93% người dân
Việt Nam. Chứng minh?
Phong cách, lương tâm, và
niềm tin Công giáo đã mang lại cho nhân loại những gì?
Lịch sử thế giới cho biết
Công giáo đã mang đến cho nhân loại những cuộc Thánh Chiến, những Tòa
Án Xử Dị Giáo, những sự kỳ thị phái nữ, tạo tâm cảnh thù hận người
Do Thái trong các tín đồ, đưa Âu Châu vào thời đại “man rợ và đen tối
trí thức” (The ages of barbarism and intellectual darkness) kéo dài cả ngàn năm
được biết dưới tên Thời Đại Đen Tối (The Dark Ages) hay Thời Đại
Trung Cổ (The Middle Ages). Chúng ta
không nên quên, ngày 12 tháng 3, 2000, Giáo Hoàng John Paul II đã cùng với một
số Hồng Y, Tổng Giám Mục, tại Thánh đường Phê-rô, lên tiếng cáo thú
7 núi tội lỗi của Công giáo đối với nhân loại. Chúng ta có thể cho rằng đó là những
chuyện quá khứ. Không hẳn vậy. Vì Giáo hội Công Giáo vẫn tiếp tục khẳng
định Công giáo là tôn giáo chân thật duy nhất có thể mang lại sự cứu
rỗi của Chúa Giê-su cho con người, giả thử con người cần đến sự cứu
rỗi của Giê-su, và đang có âm mưu cải đạo Á Châu, nghĩa là dùng mọi
thủ đoạn để kéo ngưới Á Châu vào đạo.
Chính sự khẳng định về việc giáo hội “nắm trong tay chân lý”
và sách lược cải đạo, nghĩa là xâm lăng văn hóa và tôn giáo của Công
Giáo đã đưa nhân loại vào những thảm họa như trong quá khứ. Ôn cố tri tân, Việt Nam không thể chấp
nhận đường lối xây dựng đất nước và bảo vệ tổ quốc “theo
phong cách, theo lương tâm, và theo niềm tin công giáo” của 7% Công
giáo trong nước.
Thật vậy, lịch sử Việt
Nam cũng cho thấy “phong cách, lương tâm, và niềm tin công giáo”
đã xây dựng đất nước và bảo vệ tổ quốc như thế nào. Với “phong cách, lương tâm, và niềm
tin công giáo”, Nguyễn trường Tộ, Pétrus Ký, Paulus Huỳnh Tịnh Của,
Trần Bá Lộc, Ngô Đình Khả v..v.. đã trở thành những thành phần trung
gian bản xứ phục vụ đắc lực nhất cho thực dân Pháp; linh mục Trần Lục đã dẫn 5000 giáo dân
đi hỗ trợ quân Pháp để tấn công và hạ trung tâm kháng chiến Ba Đình;
giám mục Nguyễn Bá Tòng đã lên tiếng thay mặt toàn dân Việt Nam cám ơn
quan Đại Pháp đã đến bảo hộ xứ này; dưới
thời Ngô Đình Diệm, Cần Lao Công Giáo đã thề tiêu diệt Phật Giáo ma
quỷ và ra tay diệt các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo, và toan tính diệt
luôn Phật Giáo trong chính sách độc tài gia đình trị, tôn giáo trị, cưỡng
ép Phật tử và những người ngoại đạo phải vào đạo để được yên
thân; linh mục Hoàng Quỳnh đã dẫn một đám giáo dân cuồng tín vác đao
búa gậy gộc về làm loạn ở Saigon với khẩu hiệu “Thà mất nước
không thà mất Chúa..” ; Linh mục
Trịnh Văn Phát, trong bài “Cảm Nghĩ Một Chuyến Đi”, đã nói lên nhiệm
vụ của một linh mục Công giáo: “Giúp quê hương không phải là bổn
phận trực tiếp của tôi, tôi không có tự do chọn lựa, tôi được huấn
luyện là để phục vụ cho nhu cầu của giáo hội.” (Xin đọc Nguyễn
Mạnh Quang, Thực Chất Của Giáo Hội La Mã, Quyển I, trang 54); nhà
trí thức Đỗ Mạnh Tri cho rằng con người chỉ có tự do thật sự khi hướng
về Thiên Chúa, đón nhận và chấp nhận Thiên Chúa của Ki Tô Giáo; giáo hội
công giáo Việt Nam hoàn toàn tuân phục và nhận lệnh, thi hành lệnh của
Vatican, nghĩa là của một ngoại bang, vì thực tế, Vatican có đủ tính chất
pháp lý của một quốc gia trong cộng đồng thế giới.
Trên đây chỉ là những sự
kiện lịch sử điển hình. Nhưng từng
đó cũng đủ để nói lên thực chất của “phong cách, lương tâm, và
niềm tin công giáo” trong việc xây dựng và bảo vệ tổ quốc như thế
nào. Đưa ra những sự kiện lịch sử
như trên không có nghĩa là cho rằng trong số 6, 7 triệu người Công giáo
ngày nay ở Việt Nam, không có ai đóng góp gì trong việc xây dựng và bảo
vệ tổ quốc Việt Nam. Sự đóng góp
của người dân thường Công Giáo vào việc xây dựng và bảo vệ tổ quốc
thì tỷ lệ với số người Công Giáo trong nước, nghĩa là 7% dân chúng, nếu
không muốn nói là ít hơn, vì chính niềm tin Công giáo đã tạo cho một số
tín đồ một tâm cảnh phi quốc gia thể hiện trong lời cầu nguyện hàng
ngày trong Kinh Nhựt Khóa của Công Giáo: “Xin Chúa làm cho tôi khinh dễ
sự đời là chốn chim muông cầm thú, xin làm cho tôi đặng về quê thật
hiệp làm một cùng Vua David.” Nhưng chúng ta cần hiểu rằng, những sự
đóng góp này bắt nguồn từ tinh thần dân tộc của những cá nhân Công
giáo, không liên quan gì đến niềm tin Công giáo.
Vì niềm tin Công giáo là những niềm tin như “Đức Mẹ Đồng Trinh”,
“Chúa sống lại”, “Tin Chúa thì sẽ được Chúa cứu rỗi”, “Giáo
hoàng là đại diện của Chúa trên trần”, “Giáo hoàng hay các giám mục
có quyền tuyệt thông tín đồ nghĩa là không cho tín đồ lên thiên đường”
v..v.. Những niềm tin thuần túy Công giáo này không dùng gì được trong việc
xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Người Công giáo Việt Nam
có thể góp phần hữu hiệu trong việc xây dựng và bảo vệ tổ quốc nếu
họ có thể cất bỏ được sự nghi ngờ của tuyệt đại đa số người
dân Việt Nam do lịch sử quá khứ của Công giáo ở Việt Nam gây nên. Muốn như vậy, người Công giáo Việt Nam
phải có can đảm cáo thú tội lỗi trong quá khứ đối với dân tộc, như
Giáo hoàng đã cáo thú tội lỗi của Công giáo đối với nhân loại, và lập
nguyện sẽ không bao giờ vì niềm tin tôn giáo của mình mà gây tác hại
cho quốc gia nữa. Ngoài ra, nếu Giáo hội Công giáo Việt Nam thực sự muốn chứng
tỏ là một giáo hội yêu nước, một giáo hội đặt quyền lợi Tổ Quốc trên hết, một Giáo hội
của người Việt, có thể thực sự góp phần xây dựng
và bảo vệ tổ quốc, thì việc nên làm là
dứt khoát từ bỏ tinh thần nô lệ Giáo Hoàng và Tòa Thánh Vatican. Đây chính là truyền thống bất khuất của
dân tộc Việt Nam, không chịu làm nô lệ cho ngoại bang dưới bất cứ hình
thức nào. Giáo hội nên tuyên bố độc lập với Tòa Thánh Vatican, giành quyền tổ
chức Giáo hội Việt Nam sao cho hợp với dân tộc tính, giành quyền
bổ nhiệm linh mục, giám mục riêng v..v.. Mối liên hệ giữa Giáo hội
Công giáo Việt Nam và Tòa Thánh Vatican nhiều nhất là liên lạc trên căn bản
bình đẳng với Tòa Thánh về những vấn đề liên hệ đến niềm tin tôn
giáo. Giáo hội Công giáo Việt Nam cũng cần ra thông cáo chính thức tuyên
bố đặt quyền lợi quốc gia trên hết, nêu cao khẩu hiệu "Giáo hội
Công giáo Việt Nam của người Việt Nam", khẳng định sự độc lập
của giáo hội, bình đẳng đối với mọi giáo hội Công giáo trên thế giới,
kể cả đối với Tòa Thánh Vatican, và chính thức tuyên cáo rộng rãi
trong khắp các giáo xứ, bỏ những đòi
hỏi phi lý như bắt phải học đạo trong vấn đề hôn phối, bắt đứa
con sinh ra trong một cuộc hôn phối hỗn hợp phải rửa tội và theo đạo Công
giáo v...v.., chấm dứt xuyên tạc lịch sử,
chấm dứt những âm mưu xuyên tạc và phá ngầm Phật Giáo cũng như
các tôn giáo khác ở Việt Nam v...v...thì lo gì mà không lấy lại được lòng
tin cậy của người dân Việt Nam. Người
Việt Nam bản chất vốn hiền hòa và dễ tha thứ, trừ trường hợp phải
đối phó với sự xâm lăng
của ngoại bang và với những
người theo gót ngoại bang, phản bội dân tộc.
Lịch sử đã chứng minh như vậy.
Rất
có thể Giáo hội Công giáo Việt Nam sẽ có một chỗ đứng trong lòng dân
tộc nếu họ dứt khoát với quá khứ và thực sự đi vào con đường phục
vụ dân tộc, bằng hành động chứ không chỉ bằng lời nói. Người Việt Nam vốn tính dễ dãi, không
hay nuôi hận thù, nên dễ dàng quên quá khứ để đổi lấy sự hòa hợp
tôn giáo trong đại khối dân tộc. Điều
này chỉ có thể thực hiện được nếu họ có một bảo đảm nào đó.
Có
như vậy, Giáo hội Công giáo Việt Nam mới có thể gọi là một giáo hội
yêu nước, có tinh thần dân tộc, và lấy được sự tin cậy của dân Việt
Nam trong công cuộc cùng nhau xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Về trang Nghiên cứu
& đối thoại tháng 3-2003
Home | Go top page
| Về
trang mục lục