curley_sw.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw.gif (1967 bytes)

.......... .

 

TCN VÀ CUỘC THỬ THÁCH TIN LÀNH
 
[Một Hoạt Cảnh Giả Tưởng Không Hẳn Huyễn Hoặc
Nhân đọc “Thư Không Ngày Tháng” của Mrs. NTP]

Trần Chung Ngọc

Vài lời giới thiệu:

      Phê bình về nụ cười “thiếu nghiêm trang” của người Việt, ngày trước ông Nguyễn văn Vĩnh một nhà Nho pha Tây viết   An Nam ta có cái lạ là gì cũng cười. Hay cũng cười, dở cũng cười. Khen cũng cười, chê cũng cười. Nhăn răng một tiếng mọi việc hết nghiêm trang”. Mấy nhà hủ Nho thường nghiêm khắc đã đành, nhưng có thêm chút Tây học nữa thì khi phê bình cái dở của người mình càng bộc lộ sự nghiêm khắc lớn hơn. Bởi mấy ông nghĩ  đã học, đã nắm chắc được cái hay của người Tây phương rồi. Nhưng “gì cũng cười” chưa hẳn là dở xét trên khía cạnh tâm lý thực dụng. Gì cũng cười có khi là tâm lý cầu tài, nhưng thông thường là cầu an, cầu sự yên vui, cầu cho được việc, xuề xòa, sao cũng được, chín bỏ làm mười. Cái cười của một kẻ yếu, biết an phận thủ thường, yêu cái hòa. Sống trong một xã hội bị trị, người dân lao động bị một cổ hai tròng, thế lực áp bức bên trong và thế lực bóc lột ở ngoài, không cười thì chỉ còn thái độ vùng dậy, làm cách mạng!  Nếu chúng ta đồng ý với phê phán rằng “gì cũng cười” là dở, thì nụ cười nhận lấy nắm xôi của thằng Bờm từ sự trao đổi của phú ông, đâu còn là triết lý nữa? Người xưa ở nước ta thường học ở người vội vã, nên tạo ra sự trọng vọng người cũng vội theo, quên đi trong nụ cười của dân nước ta cũng mang đậm triết lý sống “cận nhân tình”. Bàn về “cận nhân tình” của người Đông phương, nhà văn Lâm ngữ Đường (Lin Yutang)  trong “The Importance of Living” (Cụ Nguyễn hiến Lê dịch là “Một Nghệ Thuật Sống Đẹp”) cho rằng một thế giới toàn hảo về mọi phương diện là một thế giới người ta phải biết giải quyết mọi xung đột, mâu thuẫn một cách hợp lý. Muốn vậy, người ta phải có sự giản dị trong tư tưởng, một triết lý vui tươi và một tinh thần tế nhị. Ba điều này là đặc tính của tinh thần hài hước. (Now it happens that subtle common sense, gaiety of philosophy and simplicity of thinking are characteristics of humor and must arise from it. Sđd, the John Day Book, 1937, trang 80)

      Lời phê phán của ông Nguyễn văn Vĩnh áp dụng cho công dân Mỹ, có lẽ đúng hơn. Người Mỹ ở trong môi trường nào cũng thích cười: trong lúc ăn, trong lúc chơi, trong lúc học, trong lúc nghỉ ngơi, và ngay cả ở trong nhà thờ... Chúng ta sống ở Mỹ, đa số đều có dịp để xem các show truyền đạo Chúa trên tivi (Televangelical), có nhiều khi cũng rất vui nhộn. Chúng tôi có lần ngồi xem một show truyền đạo kiểu này : ông mục sư mặc đồ lớn trông rất sang trọng, đứng trên bục cao, tay cầm cuốn Kinh thánh, miệng nói không ngừng. Ở dưới tín đồ ngồi chật cả hội trường, họ ăn mặc rất đẹp, nhưng trông nét mặt mỗi người mỗi vẻ. Có kẻ chăm chú, có kẻ lơ đãng, có kẻ như đang mơ mộng, có kẻ ngủ gật. Bỗng ông mục sư, lật cuốn Kinh thánh, đọc lên một đoạn rồi ông rống lên: Chúa đã sửa soạn cho chúng ta là tình yêu Chúa! Chúng ta phải yêu Chúa! Tôi nói có đúng không, đúng không? Thì cùng lúc cả hội trường bừng đậy, mặt người nào cũng cười tươi và cùng la lên: Yea! yea! yea!!! Đến nhà thờ và học Kinh thánh kiểu này thì vui quá đi, có ai thấy chán ngán và khô khan đâu? Bởi người Mỹ đi “nhóm” (đi nhà thờ) không cốt tới đó để tìm chân lý, xem xét trong Kinh thánh đúng hay sai, bịa đặt hay có thật, Chúa là ai?. Họ đến nhà thờ để có dịp chung nhau một tiếng cười... xả hơi.

      Và người Mỹ không chỉ thích hài hước ở nhà thờ, lúc học Kinh thánh, họ còn hài hước về các nhân vật lãnh đạo chính trị của chính họ nữa. Ở sân khấu Broadway, New York, tối thứ bảy nào cũng có show hài hước về loại này qua nhà hài hước Tom Miller, rất có biệt tài. Ông điều khiển một show hài hước có tên là “Political Incorrect” (Chính trị sai đường). Có lần ông đem tổng thống Clinton ra ‘chế nhạo’ dí dỏm và ý nhị đến độ chúng tôi nghĩ nếu hôm đó có tổng thống coi show này, ông cũng phải cười...

Nụ cười có khi làm cho sự sai lầm, mâu thuẫn trở nên dễ tha thứ hơn, nếu tất cả chúng ta đều biết cười trên sự sai lầm đó. Đó cũng là ý nghĩa khi chúng tôi muốn giới thiệu bài viết rất “dí dỏm” này của giáo sư Trần chung Ngọc.   Phụ trách Web Gđ, nvh.
gd-leafblack.gif (2810 bytes)

      Một buổi xấu trời, Trần Chung Ngọc nổi hứng nộp đơn xin đầu quân Tin Lành.  Ông Tin Lành Huỳnh Thiên Hồng và Tiến sĩ Tin Lành Lê Anh Huy phụ trách interview TCN.  Hai ổng cho TCN biết: Không phải ai muốn đầu quân Tin Lành cũng được, cần phải qua một sự thử thách xem có đủ khả năng và đức tin hay không.   Nếu đầu óc như của những con trẻ, ai nói gì cũng tin, như Chúa muốn trong Thánh Kinh, thì không cần phải thử thách.  Nhưng TCN đã trưởng thành, nên cần phải thử thách.  Thử thách mà TCN phải vượt qua là phải hướng dẫn thành công một lớp K-12 (Mẫu giáo tới lớp 12) học về chuyện “sáng thế” trong Thánh Kinh.  Sau đây là nội dung buổi học trên, được đặt dưới sự giám sát và chấm điểm của ông Tin Lành Huỳnh Thiên Hồng và Tiến Sĩ Tin Lành Lê Anh Huy.

*       *
*

    TCN:  Hôm nay, tôi được giao phó một trách nhiệm trọng đại: khai mạc lớp học Thánh Kinh và dìu dắt các em K-12 (mẫu giáo đến lớp 12) trong việc học tập Thánh Kinh.  Vì hôm nay là ngày đầu tiên của lớp học Thánh Kinh này, vậy chúng ta hãy bắt đầu từ đầu, chương Sáng Thế Ký 1.  Các em hãy mở cuốn Kinh Thánh bằng tiếng Mỹ, cuốn Holy Bible: The New King James Version của American Bible Society ở New York xuất bản năm 1982.  Em nào không biết tiếng Mỹ thì có thể mở bản tiếng Việt, cũng của American Bible Society ở New York xuất bản năm 1998, trang 1.  Còn em nào không đọc được cả tiếng Mỹ lẫn tiếng Việt thì cũng không sao vì tôi sẽ đọc bằng cả hai thứ tiếng, Mỹ và Việt.  Đây là lớp học song ngữ (bilingual) cho nên tôi sẽ nói cả hai thứ tiếng, khi tiếng Việt, khi tiếng Mỹ.  Tiếng Việt có khi khó hiểu chứ tiếng Mỹ thì rất dễ hiểu.

      Muốn hiểu Holy Bible các em phải tin rằng God của chúng ta là bậc toàn năng, nghĩa là làm cái gì cũng được, và toàn trí, nghĩa là cái gì cũng biết, trong quá khứ cũng như trong tương lai.  Cũng vì vậy mà Holy Bible, chúng ta được dạy rằng đó là những lời mạc khải của God, cho nên không thể nào sai lầm. Do đó, nguyên lý chỉ đạo Tin Lành của chúng ta là chỉ tin vào Holy Bible (The protestant principle is “sola scriptura”, “only by the Bible”).  Chúng ta chỉ tin vào Thánh Kinh vì chúng ta có một hi vọng: được God ban cho ân huệ.   Nhưng các em không nên cho rằng chỉ cần tin vào Holy Bible, hay đóng tiền cho nhà thờ, hay làm các việc thiện, hay giết người không tin God của chúng ta, hay dụ người khác vào đạo của chúng ta v..v.. là các em sẽ được cứu rỗi, được ân huệ của God.   Bởi vì nhà thần học Tin Lành Karl Barth của chúng ta đã khẳng định là, chúng ta không được cứu rỗi vì chúng ta tin, hay làm việc tốt, mà tất cả tùy thuộc hứng và lòng thương của God (We are saved “sola gratia” – “only by grace”, without any works of our own).  Cho nên, nếu các em làm bậy nhưng nếu God thương thì các em vẫn có thể được God của chúng ta ban ân sủng cho.  Và dù các em có tự nguyện làm tôi tớ, xiêng năng hầu việc Chúa, loan báo Tin Mừng đi khắp thế giới, dụ được người vào đạo v..v.. nhưng nếu God không thương thì công của các em cũng là công cốc.  Vì khó có thể biết được là God sẽ thương ai, nên các em cần có hi vọng.  Biết đâu các em sẽ trúng số độc đắc và được God thương.  Vì đạo của chúng ta tin tất cả vào Holy Bible (sola scriptura), mà Holy Bible, theo chúng ta được dạy, thì toàn là Good News cả , cho nên đạo của chúng ta có tên là đạo Good News.  Sau này khi các em lớn lên tự đọc Holy Bible, có thấy những Bad News trong đó thì các em cũng đều phải coi chúng là những Tin Lành.  Đó là điều các em phải nhớ kỹ, không được quên.  Theo nguyên tắc, trong lớp học của Tin Lành này, chỉ có Thầy là có quyền nói, còn các em chỉ có quyền nghe.  Tại sao?  Mục sư Ruben Alves giảng trong cuốn Protestantism and Repression, trang 85, về các lớp giảng dạy Tin Lành cho các tín đồ, nhất là những tín đồ tân tòng (new converts) , như sau:  “Họ được dạy để tự coi mình như là những người không biết gì.  Kiến thức của họ được đặt trong hai dấu ngoặc và cần phải xét lại.  Họ không được phép viện dẫn những điều mà họ nghĩ rằng họ biết để phê bình kiến thức mà cộng đồng giáo hội của họ muốn truyền cho họ.  Tại sao?  Vì kiến thức của họ là di sản của một thời kỳ tăm tối và bị đày đọa về trước.  Đầu óc họ được biến thành những trang giấy trắng.  Họ không có gì để nói; công việc của họ là nghe.  Như là những kẻ tập sự và học hỏi, họ phải tuân phục một cách yên lặng trước định chế giáo hội của họ.  Nay họ biết rằng định chế tôn giáo của họ có độc quyền về sự hiểu biết tuyệt đối, do đó có độc quyền để nói.. Mục sư nói, kẻ học hỏi giữ yên lặng; Mục sư giảng, kẻ học hỏi nhắc lại.  Cách phát biểu ý kiến thích hợp cho những kẻ học hỏi là nhắc lại, như sách giáo lý đã vạch rõ. Giáo lý là chủ yếu cho những kẻ học hỏi.   Chúng chứa những câu hỏi và câu trả lời đã được định sẵn.  Khi nào thì các kẻ học hỏi biết giáo lý.  Khi họ có thể đọc thuộc lòng những câu trả lời đã được in sẵn trong đó.  Thể thức học hỏi của giáo hội được định nghĩa theo loại kiến thức như vậy và sự khảo hạch kiến thức là khả năng học thuộc lòng và nhắc lại những câu hỏi và câu trả lời về giáo lý.  Thế còn vấn đề tự do tìm hiểu thì sao?  Thế còn vấn đề để cho những kẻ tân tòng tự mình mở mang kiến thức.?  Không thể tìm thấy ở đâu trong giáo hội..”  [..They are taught to view themselves as people who know nothing.   Their own knowledge is placed between parentheses and called into doubt.  It is not permissible for them to appeal to what they think they know in order to criticize the knowledge that the church community wishes to transmit to them.  Why?  Because their knowledge is a heritage from their earlier period of darkness and damnation.  Their minds are reduced to blank pages.  They have nothing to say; their job is to listen.  As apprentices and learners, they must submit silently to the church institution.  They now know that the institution has a monopoly on absolute knowledge, hence a monopoly on the right to talk... The teachers speak, the learners keep quiet; the teachers teach, the learners repeat...The proper mode of speech for the learners is repetition, as catechisms clearly illustrate.  Catechisms are primers for learners.  They contain questions and ready-made answers.  When do learners know their catechism?  When they can recite by heart the printed answers in it.  The learning of the church community is defined in terms of that knowledge, and the test of learning is the ability to memorize and repeat the catechism questions and answers...What about free inquiry?  What about letting converts break their own ground?  That is nowhere to be found.]  Vậy các em hiểu rồi chứ.  Nếu muốn là một tín đồ Tin Lành giỏi, các em chỉ cần học thuộc lòng và nhắc lại như con vẹt những điều các em được giảng dạy.  Hai ông HTH và LAH đang ngồi kia là những tín đồ giỏi nhất của Tin Lành đó, xin các em cho họ một tràng pháo tay (Tiếng vỗ tay rào rào).  Tuy nhiên, thời đại man rợ trí thức đã qua, cho nên có thắc mắc điều gì, không hiểu điều gì, các em cứ hỏi.  Đừng có sợ sệt gì, chúng mình là con người mà.  Thầy không trách phạt các em đâu.

     Bây giờ chúng ta bắt đầu đọc Holy Bible của người Do Thái, Sáng Thế Ký 1: 1-5:

     In the beginning God created the heaven and earth.  Ban đầu Thượng đế tạo nên trời và đất.  The earth was without form, and void.  Đất không có hình dạng gì, và trống không; and darkness was on the face of the deep; sự tối tăm phủ trên mặt vực sâu.  And the Spirit of God was hovering over the face of the waters.  Và Thần Khí của Thượng đế lơ lửng trên các vùng nước.  Then God said: “Let there be light”; and there was light.  Rồi Thượng đế nói: “Có ánh sáng nè” ; và thế là có ánh sáng.  And God saw the light, that it was good;  Và Thượng đế nhìn thấy ánh sáng, và hài lòng; and God divided the light from the darkness.  và Thượng đế chia ánh sáng ra khỏi sự tối  tăm.  God called the light Day, and the darkness He called Night.  Thượng đế gọi ánh sáng là Ngày, và gọi sự tối tăm là Đêm.  So the evening and the morning were the first day.  Vậy có buổi chiều và buổi sáng, đó là ngày thứ nhất.

     Các em thấy không?  Các em nhìn thấy mọi vật là vì có ánh sáng.  Có phải như vậy không?  Ai tạo ra ánh sáng?  Chính God của chúng ta.  Vậy các em phải biết ơn God, nguyện làm tôi tớ, xiêng năng hầu việc Jesus Christ vì ông ta là con một của God. Tại sao chúng ta phải làm tôi tớ xiêng năng hầu việc Chúa Giê-su?  Vì Mrs. NTP cho chúng ta biết là có ông Mục sư Tin Lành nói rằng:   “Chúa Giê-su có thể tự biện hộ để thoát chết, nhưng Chúa chịu chết thay cho chúng ta.  Cám ơn Chúa, Ngài thật tốt với chúng ta.”  Thường thường thì người nào đối xử tốt với mình thì mình đối xử tốt lại với người đó, và ngay cả khi người ta không tốt với mình mình cũng nên đối xử tốt với họ, chứ ít có ai lại chịu làm tôi tớ đi hầu việc họ.  Có phải như vậy không?  Nhưng Giê-su không phải là người mà là Chúa, Chúa của những người như chúng ta, tin ông ta là Chúa.  Ông ta chịu chết thay cho chúng ta tuy chẳng có ai nhờ vả ông ta chết thay cho chúng ta.  Thế mới là một sự hi sinh vĩ đại bất vụ lợi mà chỉ thiệt thân.  Ông ta chịu chết thay cho chúng ta nhưng chúng ta vẫn chết như thường, có phải như vậy không?  Nhưng các em phải hiểu rằng, dù có chết các em cũng chỉ chết giả vờ như ông ấy.  Vì chỉ chưa tới ba ngày sau là Chúa của chúng ta sống lại.  Còn các em sau này chết đi không biết bao giờ mới sống lại nhưng dù sao cũng chỉ là chết giả vờ, vì còn có hi vọng sống lại.  God tạo ra hết thảy chúng ta nhưng chúng ta chỉ là con rơi con vãi, tương tự như những đứa con ngoại hôn, Jesus Christ mới chính là đứa con chính thức duy nhất của God với bà Maria.  Những người mù không thấy được ánh sáng của God chính là vì ý của God muốn như vậy.  Làm sao chúng ta biết là ý của God là như vậy?  Chúng ta không biết, nhưng mấy ông Mục sư nói là họ biết, và dạy chúng ta là đầu óc con người không thể nào hiểu được God.  Vì họ không là người nên họ mới hiểu được God và dạy chúng ta God muốn thế này, God muốn thế nọ.  Đây là một huyền nhiệm của God, các em không cần thắc mắc về những người mù làm chi.  God muốn họ mù thì cứ để cho họ mù, chúng ta chỉ cần biết là mắt chúng ta sáng, điều này chứng tỏ ít ra God cũng thương chúng ta hơn những người mù.  Cho nên chúng ta cần cám ơn God và xiêng năng hầu việc đứa con duy nhất của Ngài là Jesus Christ.  Khi đọc Holy Bible, đọc đoạn nào chúng ta cần phải hiểu rõ đoạn ấy.  Có em nào thắc mắc gì về đoạn Thầy vừa mới đọc không?  Có chỗ nào không hiểu, cứ hỏi, nếu Thầy biết Thầy sẽ trả lời, không biết thì Thầy sẽ nói là không biết, Thầy không bao giờ lừa dối các em, không biết mà lại cứ nói là mình biết.

TCN: Em Ác giơ tay, em có thắc mắc gì?

Em Ác: Thưa Thầy, “Ban đầu” là khi nào?

TCN: Thánh Kinh không có viết rõ “ban đầu” là khi nào.  Trong bài “Nguồn Gốc Con Người Và Đức Tin” Tiến sĩ Tin Lành Lê Anh Huy của chúng ta đang ngồi kia viết trong phần Kết Luận: “Trải qua mấy ngàn năm qua con người như ở trong một phòng có nhiều cửa số đóng kín cheo leo trong vũ trụ.  Nhờ vào chút chất xám trong não bộ họ đã và đang cố gắng mở từng cánh cửa sổ một để được trông ra vũ trụ sâu thẳm.  Nhưng trong vài ngàn năm đó, cứ mỗi lần mở được một cánh cửa, con người lại thấy hiện trên bầu trời dòng chữ sau: “Ban đầu Thượng đế dựng nên trời và đất”.  Các em thấy, ông Tiến sĩ Lê Anh Huy đã chép  câu này từ Thánh Kinh ra và chép không sai một chữ.  Xin các em cho ông ta một tràng pháo tay.  (Lại có tiếng vỗ tay rào rào).

Tuy ông ta chép đúng như vậy, nhưng thầy nghĩ ông ta cũng không biết “ban đầu” là khi nào, vì ông ấy chỉ chép ra chứ không giải thích.  Thầy cũng nghĩ trong đầu ông ta thiếu nhiều chất xám cho nên ông ta mới viết con người mới “trải qua mấy ngàn năm nay”.  Thực ra thì các em K-12  học ở trường cũng đã được dạy rằng con người đã xuất hiện trên trái đất ít ra là mấy trăm ngàn năm, nhiều ra là vài triệu năm.  Có phải như vậy không?  Có thể ông ấy học quá cao rồi, tới cấp Tiến sĩ lận, nên quên mất những bài học trong chương trình K-12.  Tuy nhiên, Thầy cũng đưa ra vài con số để các em cập nhật hóa kiến thức của các em.  Vào thế kỷ 17, Tổng Giám Mục James Usher ở Ái Nhĩ Lan, dựa trên những con số trên Thánh Kinh, tính ra được rằng cái lúc “ban đầu” đó   là vào năm 4004 trước thời đại thông thường của chúng ta (B.C.E. = Before Common Era) nghĩa là năm 4004 Trước Thường Lịch (TTL), cách đây khoảng 6000 năm.  Cũng trong thế kỷ này, sau đó Tiến sĩ John B. Lightfoot, ở đại học Cambridge bên Anh, “adding insult to injury”, tuyên bố biết rõ lúc “ban đầu” đó là lúc 9 giờ sáng ngày 23 tháng 10, năm 4004 TTL.  Con số của Tổng Giám Mục Usher đã được chấp nhận là đúng trong một thời gian lâu, trong ánh sáng của Thập Giá và Lưỡi Gươm, và đã có thời được ghi vào trong cuốn Thánh Kinh của chúng ta.  Cũng vì vậy mà Tiến sĩ Tin Lành Lê Anh Huy của chúng ta ngày nay mới viết “Trải qua mấy ngàn năm qua con người...”  Khoa học ngày nay chứng minh được rằng vũ trụ mà chúng ta sống trong đó có tuổi là vào khoảng 15 tỷ năm, và trái đất mà chúng ta sống trên đó đã “già” khoảng 4 tỷ rưỡi năm, tổ tiên xa của chúng ta đã xuất hiện trên trái đất vào khoảng 7 triệu năm, và con người hiện đại đã giẫm chân trên trái đất khoảng 2 triệu năm trước đây (Dr. Trịnh Xuân Thuận: The primates evolved some 20 million years ago, and about 2 million years ago the first representatives of Homo sapiens trod the earth).  Nếu con số của các khoa học gia là đúng thì con số “vài ngàn năm” của Tiến sĩ Tin Lành Lê Anh Huy  có một sai số rất nhỏ, chỉ sai khoảng 99.7% mà thôi.  Các em nên biết, khoa học không chính xác như đạo Tin Lành của chúng ta, vì khoa học dựa trên các sự kiện đã được kiểm chứng.  Còn đạo Tin Lành của chúng ta thì không dựa trên bất cứ sự kiện nào, cho nên nó rất là chính xác.  Chính xác vì chúng ta tin rằng nó chính xác, giản dị có vậy thôi.  Cũng vì vậy khoa học không thể xác định được lúc “ban đầu” là lúc nào.  Em Bịp giơ tay, em có gì không hiểu?

Em Bịp: Thưa Thầy, Thượng đế lấy gì tạo ra trời và đất?

TCN: Em quên lời Thầy rồi hay sao?  God của chúng ta là bậc toàn năng, làm gì mà không được?  Đâu cần có gì mới có thể tạo ra trời và đất.  Vì toàn năng nên Ngài có thể làm ra một hình tròn có 3 góc còn méo, tạo ra một phiến đá mà chính Ngài cũng không vác nổi, hoặc một bức tường cao mà chính Ngài cũng không nhảy qua được v..v.. Rồi các em sẽ thấy, muốn tạo ra cái gì Ngài chỉ cần phát ngôn, tự nhiên cái đó sẽ có liền.  Em không nên thắc mắc cái chuyện lặt vặt ấy mà mang tội với Thượng đế.   Tại sao?  Vì hỏi như vậy là em đã nghi ngờ thuộc tính toàn năng của God, là em hàm ý rằng sự khôn ngoan của em vượt sự khôn ngoan của God.  Trong đạo Tin Lành của chúng ta, tội này lớn lắm, lớn hơn cả những tội giết người, ăn cướp, hiếp dâm ở ngoài đời.  Thượng đế mà giận, đày em xuống hỏa ngục có ngọn lửa vĩnh hằng thiêu đốt thì đời em tàn đó em ạ.  Em phải biết, ngọn lửa dưới hỏa ngục của Chúa của chúng ta thì nóng hơn ngọn lửa thường, nóng hơn cả ngọn lửa trong những lò thiêu xác Do Thái của Đức Quốc Xã trước đây rất nhiều, cho nên khi mới tới đất Mỹ này, những nhà truyền giáo mang Tin Lành của chúng ta đến cho các thổ dân ở đây nhưng các thổ dân đó lại không chịu coi đó là những Tin Lành, nên một số không nhỏ thổ dân cứng đầu không chịu theo đạo Tin Lành của chúng ta đã “được” những người mang Tin Lành thiêu sống trong ngọn lửa thường để tránh cho họ khỏi bị thiêu đốt bởi ngọn lửa quá nóng của Chúa của chúng ta dưới hỏa ngục vì cái tội họ không tin Chúa.  Các em thấy không, đạo Tin Lành của chúng ta hết sức nhân từ, muốn cứu vớt linh hồn không riêng gì những người sống như các em ngồi đây, mà còn cả những người chết nữa.

Em Bịp (gãi đầu sợ sệt): Dạ thưa Thầy, em không dám có thắc mắc lặt vặt nữa ạ. (Nghĩ thầm:  Thắc mắc đó mà Thầy cho là lặt vặt, vậy thắc mắc nào mới đúng là thắc mắc?)

TCN: Em Chích, em giơ tay, em có thắc mắc gì?

Em Chích: Thưa Thầy, Đất không có hình dạng gì, và trống không, vậy cái vực sâu đó nó nằm ở đâu vậy, và tại sao lại gọi nó là vực sâu?

TCN:  Thầy cũng không rõ, Thầy chưa học được câu trả lời cho câu hỏi này.  Để Thầy về hỏi mấy ông Mục sư Tin Lành tân tòng.  Ừ nhỉ, thắc mắc của em có lý, vực sâu là so sánh với cái gì không sâu.  Không hình dạng và trống không thì không thể so sánh với bất cứ cái gì.  Theo thầy nghĩ, rất có thể là cái vực sâu đó nó nằm trong đầu của người viết chương Sáng Thế Ký 1, hiển nhiên là trong cái vực đó không có chất xám. Em Dối, em giơ tay, em muốn hỏi gì?

Em Dối: Thưa Thầy, em cũng có thắc mắc giống như  em Chích, Đất không có hình dạng gì, và trống không, vậy mấy cái vùng nước đó nó nằm ở đâu?  và Thần Khí của Thượng đế là cái gì, em không thể nào hình dung được.

TCN: Thầy cũng không rõ, Thầy cũng chưa học được câu trả lời cho câu hỏi này.  Thắc mắc của em cũng có lý như thắc mắc của em Chích.  Những vùng nước đó cũng ở trong đầu người viết chương Sáng Thế 1, đúng như những lời mạc khải của God, ở một thời đại mà chất xám trong đầu còn hiếm hoi, không đội trời chung với logic.  Nhưng Thần khí của Thượng đế là cái gì thì Thầy biết.  Trong đạo Tin Lành của chúng ta, Thần khí của God còn có tên gọi là Thánh Linh hay Chúa Thánh Thần.  Đạo của chúng ta có nhiều Thánh lắm.  Các em ở trong Hội Thánh Tin Lành các em có biết không?  Hội Thánh Tin Lành là Hội tuyệt đối tin vào sự không thể sai lầm của Thánh Kinh (sola scriptura).  Các em phải nhớ kỹ trong đầu, bất cứ cái gì trái ngược với Thánh Kinh của chúng ta đều là xấu cả.  Khoa học mà không đúng như trong Thánh Kinh viết là khoa học xấu, tiếng Mỹ gọi là “bad science”.  Thánh Linh là một thực thể phi vật chất, không ai thấy và biết nó như thế nào.  Nhưng những bậc lãnh đạo trong Ki Tô Giáo nói chung, đạo Tin Lành của chúng ta nói riêng, đã ban cho Thánh Linh rất nhiều thuộc tính.  Thầy không có thì giờ để kể ra tất cả những thuộc tính của Thánh Linh.  Sau này lớn lên, các em có thể tìm hiểu Thánh Linh trong cuốn Giáo Lý Của Giáo Hội Công Giáo (Catechism of the Catholic Church), trong đó có môn thần học Ki Tô Giáo nói rất nhiều về Holy Spirit mà những người ngoại đạo hỗn xược như Ngô Triệu Lịch gọi là “thần học đoán mò” vì ông ta cho rằng không biết mà nói chỉ là đoán mò.  Thánh Linh có hai nhiệm vụ chính:  thứ nhất là làm cho bà Maria mang thai rồi sinh ra Chúa Giê-su của chúng ta, để cho những người như hai ông HTH và LAH đang ngồi kia tình nguyện làm tôi tớ,xiêng năng hầu việc Chúa.  Các em đừng có cho là làm tôi tớ cho Chúa là hèn hạ.  Đây là một vinh dự không phải ai cũng có được.  Chỉ có khoảng 3, 4 trăm triệu tín đồ Tin Lành của chúng ta trên số hơn 6 tỷ người trên thế giới là có cái vinh dự đó.   Những người ngoại đạo không bao giờ được cái vinh dự làm tôi tớ, hầu việc Chúa.  Thứ nhì là phải túc trực 24 trên 24 để bất cứ khi nào và bất cứ ở đâu, có ông mục sư, linh mục, hay giám mục nào gọi là phải đến ngay, thí dụ như trong “bí tích” rửa tội, các ông linh mục, giám mục v..v.. thường ra lệnh, dưới hình thức cầu xin, cho Chúa Thánh Thần vào ngự trong người chịu phép rửa.  Nếu sau này, người ấy không tuân theo luật của giáo hội thì mấy ông linh mục, giám mục v..v.. lại có thể đuổi Chúa Thánh Thần ra khỏi người đó bằng phép “excommunication”.  Các em thấy không, Thánh Linh của chúng ta quyền phép vô cùng, Ngài có phép phân thân, có thể hiện diện cùng một lúc ở nhiều nơi khác nhau và cùng lúc ở trong nhiều người.

Em Dối (cười khúc khích):  Thầy giảng hay quá, y như chuyện Tề Thiên Đại Thánh.

TCN:  Không hay sao được.  “Chẳng hay sao lại đỗ ngay Tú Tài”.  Cho các em biết, Thầy đã đỗ Tú Tài rồi đó.   Tề Thiên Đại Thánh và Thánh Linh, cả hai đều là Thánh cả.  Chỉ có điều, Thánh Linh không có cây Lang Nha Bổng.  Thánh Linh chỉ có một con là Chúa Giê-su, mà Chúa Giê-su lại không lấy vợ, cho nên có thể nói là Thánh Linh tuyệt giống.  Trái lại, Tề Thiên Đại Thánh nguyên là một con khỉ, và cái thằng cha Darwin nào đó lại nói bậy là khỉ là tổ tiên của loài người chứ không phải là ông tổ Adam và bà tổ Eve của chúng ta.  Thật là bậy bạ hết chỗ nói.  Thế mà cái lão giáo hoàng của bọn Công giáo lại lên tiếng chấp nhận thuyết Tiến Hóa của tên Darwin đó.  Có phải chúng là tà đạo không, vì đã phủ nhận God của chúng ta tạo ra loài người từ cái thuở chưa có thuốc đánh răng Colgate hay Crest bằng cách hà hơi vào cục đất sét có hình dạng giống ông ta để cho nó có sinh khí.   Bọn chúng nó đã không tin God lại còn không tin cả Holy Bible của chúng ta.  Chúng dạy tín đồ: “Chúng ta được cứu rỗi “chỉ bởi giáo hoàng”” (We are saved “sola papa” [only by the Pope]) trái hẳn với đức tin của chúng ta là We are saved “sola scriptura” (only by the Bible), được cứu rỗi “chỉ bởi Thánh Kinh”.  Em Ếm giơ tay, em có gì muốn hỏi?

Em Ếm:  Thưa Thầy, cái Holy Bible đó viết: Rồi Thượng đế nói: “Có ánh sáng nè” ; và thế là có ánh sáng.  Khi Thượng đế nói thì ai ở đó mà nghe thấy Thượng đế nói “Có ánh sáng nè” để rồi kể lại trong chương Sáng Thế 1?

TCN:  Các em đã biết, Holy Bible là những lời mạc khải của God.  Mạc khải là nói riêng, “cấm ngoại thủy không ai được biết”.  Theo truyền thống giải thích của Ki Tô Giáo của chúng ta thì God đã mạc khải cho Môi-sẻ (Moses) và Môi-sẻ viết 5 cuốn đầu trong Cựu Ước gọi là Ngũ Kinh, cuốn đầu tiên là cuốn Sáng Thế Ký.  God bảo sao thì Môi-sẻ viết vậy chứ không phải là Môi-sẻ nghe thấy tiếng God phán.  [[Bỗng nhiên, TCN nghe thấy tiếng của Mrs. NTP văng vẳng bên tai: “Anh Ngọc ơi!  Anh dạy thế là anh đầu độc đầu óc các em rồi đó.  Anh thừa biết chuyện Sáng Thế là chuyện phịa mà anh cứ dối trá đối với trẻ con.  Anh thừa biết rằng ngày nay tất cả các học giả nghiên cứu Thánh Kinh đều khẳng định rằng Ngũ Kinh tuyệt đối không phải là những lời “mạc khải” của God cho Moses, vì Moses không phải là tác giả của Ngũ Kinh trong Cựu Ước. Các học giả Ki Tô Giáo gồm các Giám mục, Linh mục, Mục sư, qua các công cuộc nghiên cứu của họ, đều đồng thuận là Cựu Ước được viết cách đây khoảng từ 2500 đến 2900 năm, thời gian 400 năm bốn môn phái Jehovah (J), Elohim (E), Deuteronomy (D), và Priest (P) dùng để viết Ngũ Kinh mà "người ta" vẫn rao giảng là do God mặc khải cho Moses viết..  Cho nên, ngay từ đầu, chuyện Sáng Thế trong Cựu Ước chỉ là chuyện phịa, hoàn toàn vô nghĩa vì không ai có thể biết được God làm gì lúc “ban đầu” và không ai nghe được God nói gì khi đó.  Tất cả chỉ là đoán mò, và Ki Tô Giáo đã được xây dựng trên một nền Thần Học đoán mò, đúng như Ngô Triệu Lịch đã viết.]]  TCN giật mình tỉnh ngộ nói tiếp:  Nhưng đó chỉ là điều khẳng định của các giáo hội Ki Tô chúng ta, những kết quả nghiên cứu khoa học về chuyện này thì lại khác.  Nhưng các em đừng tin những kết quả nghiên cứu khoa học của các ông Giám mục, Linh mục, Mục sư học giả kia, vì như ông HTH của chúng ta ngồi kia tuyên bố, chúng nó đều là đồ ngu si vô trí cả, chưa có trình độ trung học, không biết đọc Thánh Kinh như ông ấy.

Em Ếm:  Thầy ơi!  Em cũng làm được như God.

TCN:  Em không được nói láo, xúc phạm đến God.

Em Ếm: (mếu máo)  Thật mà Thầy!   Tối qua em vào phòng em thấy tối om.  Em liền nói: “Có ánh sáng nè” và đưa tay bật cái công tắc điện, ánh sáng bèn tỏa ra khắp phòng.

TCN:  Em nói sai rồi, việc em làm không giống như việc của God.  Ánh sáng của em là ánh sáng của đèn điện, do con người phát minh ra sau này, nên ai làm cũng được.  Còn ánh sáng của God là loại ánh sáng đặc biệt, chỉ có God làm được vì Ngài có thể lấy ánh sáng đó ra từ sự tối tăm như trong đoạn Sáng Thế chúng ta đọc ở trên.  Thôi, sắp hết giờ rồi, có em nào còn muốn hỏi cđiều gì nữa không? Em Gian giơ tay, trông em đã lớn con, em học lớp mấy rồi, em có thắc mắc gì?

Em Gian:  Dạ thưa Thầy, em đang học lớp 12, cuối năm nay thi Tú Tài, sắp bằng Thầy rồi đó, ha..ha..  Cái Holy Bible viết: Thượng đế chia ánh sáng ra khỏi sự tối  tăm. Thượng đế gọi ánh sáng là Ngày, và gọi sự tối tăm là Đêm. Vậy có buổi chiều và buổi sáng, đó là ngày thứ nhất.  Năm ngoái em có học ở lớp 11 là ngày và đêm chỉ có nghĩa đối với con người trên trái đất, và tùy thuộc vị trí của mặt trời đối với trái đất.  Thí dụ, ở bên Mỹ (tùy nơi) là 12 giờ đêm thì ở Việt Nam đã là trưa ngày hôm sau.  Cho nên, chúng ta không thể có một ý niệm nào về  ngày và đêm nếu không có mặt trời và chuyển động biểu kiến (có nghĩa là trông thấy vậy mà không phải vậy)   của mặt trời đối với trái đất.  Thời gian mặt trời soi sáng phần nào của trái đất thì ở đó ta gọi là ngày.   Khoảng thời gian không có ánh sáng mặt trời chiếu vào thì gọi là đêm.  Vì thế mới có buổi sáng, khi mặt trời mới mọc, và buổi chiều, khi mặt trời lặn. Trong ngày thứ nhất, God chưa tạo ra mặt trời, mặt trăng, sao v...v..., vậy làm sao có ngày và đêm, có sáng và chiều.  Mặt khác, tối tăm là vì không có ánh sáng chứ không phải tối tăm gồm có 2 phần: tối tăm và ánh sáng mà có thể lấy ánh sáng từ tối tăm ra.  Em thật không hiểu Thánh Kinh muốn viết cái gìo:p>

TCN:  Em quên mất một điều rồi hay sao?  God của chúng ta quyền phép vô cùng, làm gì chẳng được.  Em chất vấn như vậy là thách đố sự sáng suốt và thông thái của God.  God là để tin chứ không phải để thắc mắc về những việc làm của God trong Thánh Kinh.  Không hiểu cũng phải tin vì đó là điều kiện cần và đủ để em được lên thiên đường sau này.  Thầy nói sau này nhưng thầy không thể khẳng định là khi nào.  Đáng lẽ Chúa Giê-su của chúng ta đã trở lại trần từ lâu rồi, theo như lời hứa hẹn của Ngài trong Thánh Kinh, nhưng không hiểu vì sao Ngài lại thất hẹn và loài người chúng ta đã chờ Ngài trở lại cả 2000 năm nay rồi.  Một đức tính của con người là kiên nhẫn.  Em nên kiên nhẫn chờ đợi, có thể Chúa sẽ trở lại ngay ngày mai, mà cũng có thể 5, 7 tỷ năm nữa, khi đó God của chúng ta đã thu lại sự sáng tạo của mình, nghĩa là không còn mặt trời và trái đất nữa.

Cả lớp đồng thanh:  Từ đầu tới giờ, thầy nói về God rất nhiều, nhưng chúng em vẫn không biết God là cái gì, là ai, hình giáng như thế nào?

TCN:  Theo như lời dạy của các giáo hội Ki Tô thì không ai thấy được God và biết God là cái gì, là ai, hay hình giáng như thế nào.  Nhưng cái hay của Ki Tô Giáo là người ta vẫn vẽ ra được hình giáng của God.  Vì God tạo ra người da trắng giống như hình ảnh của Ngài nên trên trần nhà của Thánh đường Phê-rô ở Rô Ma có vẽ hình God là một ông già da trắng mũi lõ, mắt sâu, râu rậm đang chỉ tay xuống.  Nhưng hình giáng của Ngài không quan trọng.  Điều quan trọng đối với chúng ta là Ngài đã “sáng tạo” ra vũ trụ mà chúng ta sống trong đó.  Vì vậy chúng ta phải thờ phụng Ngài.

Cả lớp:  Làm sao biết được God sáng tạo ra vũ trụ hiện hữu?

TCN:  Vì Holy Bible viết vậy.

Cả lớp:  Làm sao biết được Holy Bible viết đúng?

TCN:  Vì Holy Bible là những lời mạc khải của God.

Cả lớp:  Làm sao biết được đó là những lời mạc khải của God?

TCN:  Vì đó là Holy Bible.

Cả lớp:  Làm sao biết được Holy Bible viết đúng?

TCN: Vì Holy Bible là những lời mạc khải của God.

Cả lớp: Làm sao biết được đó là những lời mạc khải của God?

TCN: Vì đó là Holy Bible.

Cả lớp: Làm sao biết được Holy Bible viết đúng?

TCN:  Hết giờ rồi, tuần sau chúng ta học tiếp...

*      *
*

Sau lớp học:  HTH nói với LAH trước mặt TCN:  Tiến sĩ nghĩ sao, tên này kiến thức chỉ ở trình độ tiểu học, vả lại không có đủ đức tin, chúng ta có nên kết nạp hắn vào Hội Thánh của chúng ta không?  LAH:  Hắn nói là hắn đã đỗ Tú Tài rồi mà, tín đồ Tin Lành của chúng ta đâu có mấy người có Tú Tài?  Chúng ta....

*     *
*

     Bỗng nhiên TCN thấy đau nhói bên cạnh sườn.  Tỉnh giậy hóa ra bà xã nằm bên cạnh thúc cho một cái.  Bà hỏi:  anh nằm mơ thấy ác mộng hay sao mà cứ ú ớ hoài?  TCN phàn nàn:   Em làm tan giấc mộng đầu quân Tin Lành của anh rồi.  Bà xã phán: Đúng là một ác mộng, thôi, đừng nghĩ vớ vẩn nữa , ngủ đi.   Bây giờ mới tỉnh thật, ngủ không được TCN nhớ lại giấc mộng và nghĩ thầm “Bọn trẻ K-12 bây giờ chúng có đầu óc và biết nhiều hơn các ông HTH và LAH nhiều”.

 

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........