-
- KHOA HỌC & TÔN GIÁO
- Nguyên tác: Albert
Einstein
Người dịch: Trần Chung Ngọc
Vài
lời nói đầu:
Ki Tô Giáo có truyền thống cắt
xén vụn vặt những đoạn trong Thánh Kinh, hoặc trích dẫn vụn vặt vài lời của các danh nhân, rồi diễn giải
theo ý mình để “chứng minh” những sự kiện không thể chứng minh được
trong Kinh Thánh, hoặc để tô hồng đánh bóng Ki Tô Giáo. Thí dụ: Matthew trong Tân Ước đã tách
riêng Isaiah 7, 14 để “chứng minh láo” là sự sinh ra của Giê-su phù hợp
với lời “tiên tri“ (sic) trong Cựu Ước.
Trong bản “Tông Huấn Giáo Hội Tại Á Châu” (Ecclesia in Asia), Giáo
hoàng John Paul II cũng tách riêng Thánh
Vịnh 68, 20 để “chứng minh láo” về cái gọi là “kế hoạch cứu độ
của Thiên Chúa trên đất Á Châu”, cho rằng cách đây 3000 năm, trong thời
đại của David, Thiên Chúa của người Do Thái thật sự đã biết đến toàn
thể Á Châu trong đó có các nước Trung Hoa, Nhật Bản, Việt Nam v..v....
Trong thời đại khoa học ngày nay,
nhân vật được giới khoa học tôn sùng nhất trong thế kỷ 20 là Albert
Einstein, cha đẻ của thuyết Tương Đối. Thật
ra thì chỉ có những người có một kiến thức nào đó về Vật Lý Học
mới có thể thưởng thức chân giá trị của thuyết Tương Đối, còn tuyệt
đại đa số nhân loại không biết gì nhiều về những thành quả khoa học
ngoạn mục nhất trong thế kỷ 20 do sự áp dụng thuyết Tương Đối của
Einstein. Theo một số khoa học gia
ngày nay thì một nhân vật còn nổi danh hơn Einstein, đó là Charles Darwin,
được coi là ông tổ của thuyết Tiến Hóa hiện đại. Chưa có một đóng góp nào cho nhân loại rộng lớn như thuyết Tiến Hóa vì ngày
nay, có thể nói là thuyết Tiến Hóa đã trở thành một sự kiện, và đi
vào mọi bộ môn của khoa học như vũ trụ học, sinh học, sinh hóa học, cổ
sinh vật học, nhân chủng học v..v... Thuyết
Tiến Hóa cũng còn giúp con người ra khỏi vòng mê tín của thuyết Sáng Tạo,
bác bỏ vai trò sáng tạo của Thượng đế trong Ki Tô Giáo, biến những
chuyện như “tội tổ tông”, “chuộc tội”, “cứu rỗi” v..v.. trong
Ki Tô Giáo thành những chuyện đàm tiếu trong lúc trà dư tửu hậu, tuy tất
cả những tác dụng thay đổi đầu óc con người trên không phải là mục
đích của thuyết Tiến Hóa. Hiển
nhiên là Ki Tô Giáo không đội trời chung với Charles Darwin cho nên chúng ta
thấy rất ít khi Ki Tô Giáo nhắc đến Darwin ngoại trừ lồng trong những
luận điệu chống đối rất ấu trĩ và cuồng tín.
Đối với Einstein thì khác. Các tín đồ Ki Tô Giáo mít nhà ta thường
trích dẫn vụn vặt những câu của Einstein, thí dụ như “Thượng đế không
chơi súc sắc” (God does not play dice) và “chứng minh” rằng Einstein tin
ở Thượng đế, và câu “Khoa học không có tôn giáo là què quặt, tôn
giáo không có khoa học là mù quáng” (Science without religion is lame, religion
without science is blind) và “chứng minh” rằng tôn giáo của Einstein là Ki
Tô Giáo. Họ không hề quan tâm đến chuyện Einstein nghĩ về Thượng đế
của họ như thế nào, và từ “tôn giáo” (religion) mà Einstein dùng trong
câu trên có nghĩa như thế nào.
Để giúp những tín đồ Ki Tô Giáo
ưa thích trích dẫn Einstein và diễn giải sai lạc để quảng cáo cho Ki Tô
Giáo mở mang đầu óc ra một chút và khỏi tiếp tục rơi vào sự lố bịch
trí thức, tôi xin dịch sau đây bài “Khoa Học và Tôn Giáo Phụ Thuộc Lẫn
Nhau” (Science and Religion Are Interdependent) của Albert Einstein trong cuốn
Science & Religion, Greenhaven Press, Inc., San Diego, 1988, trg. 92-96, hi vọng họ
có thể thấy rõ quan niệm về Thượng đế của Einstein tuyệt đối không
phải là Thượng đế của Ki Tô Giáo, và tôn giáo của Einstein cũng tuyệt
đối không phải là Ki Tô Giáo. Hơn nữa,
nếu đọc kỹ thì độc giả có thể thấy ảnh hưởng của những tư tưởng
triết lý Á Đông, nhất là Phật Giáo, trong cách lập luận của Einstein.
- KHOA HỌC & TÔN GIÁO PHỤ
THUỘC LẪN NHAU
- (SCIENCE & RELIGION ARE INTERDEPENDENT)
Albert Einstein
Chẳng có gì là khó khăn khi chúng
ta đồng ý với nhau về điều chúng ta hiểu khoa học như thế nào. Khoa học là nỗ lực trong nhiều thế kỷ
để góp lại với nhau, bằng sự suy tư có hệ thống, những hiện tượng
trong thế giới mà chúng ta nhận thức được, thành một kết hợp càng thấu
đáo càng tốt. Nói một cách rõ hơn, khoa học là toan tính tái tạo sự hiện hữu
bằng một quá trình thuộc khoa nhận thức bằng quan niệm (process of
conceptualization). Nhưng khi tôi tự hỏi
tôn giáo là gì tôi không thể nghĩ ra câu trả lời một cách dễ dàng. Và ngay cả sau khi tìm ra được một giải
đáp có thể làm cho tôi hài lòng, tôi vẫn tin tưởng rằng không bao giờ
và trong bất cứ trường hợp nào, tôi có thể góp lại với nhau tất cả
những giải đáp của những người đã suy tư nhiều về câu hỏi này.
Định
Nghĩa Của Tôn Giáo
Thay vì hỏi tôn giáo là gì, tôi cho rằng
nên hỏi đâu là đặc tính những khao khát của một người mà người này
đã gây cho tôi một ấn tượng họ là người có ý thức tôn giáo hay mộ
đạo (being religious): Đối với tôi,
một người mộ đạo sáng suốt là người, với tất cả khả năng của mình,
tự giải thoát ra khỏi những ràng buộc của những ham muốn ích kỷ, và
đặc biệt quan tâm đến những suy tư, cảm nghĩ, khao khát mà họ bám vào
đó vì cái giá trị cao cả của chúng. Đối
với tôi, điều quan trọng là nội dung của cái động lực cao cả đó,
và lòng tin tưởng sâu xa về ý nghĩa mạnh mẽ của nó, bất kể là có
toan tính nào kết hợp nội dung đó với một đấng thần linh, nếu không
như vậy thì chúng ta không thể kể Đức Phật và Spinoza như là những
nhân vật có ý thức tôn giáo. Và như
vậy, một người mộ đạo sùng đạo theo nghĩa anh ta không còn nghi ngờ
gì về ý nghĩa và sự cao cả của những mục đích cao thượng, những mục
đích không đòi hỏi cũng như không thể có một nền tảng thuần lý. Những mục đích cao thượng đó thật là
cần thiết đối với anh ta cũng như chính sự sống của anh ta. Theo nghĩa này, tôn giáo, từ thuở khai
sinh lập địa, là nỗ lực của nhân loại để trở thành sáng suốt và
ý thức được đầy đủ về những mục đích cao thượng và củng cố,
phát triển ảnh hưởng của những mục đích này trên con người. Nếu chúng ta quan niệm tôn giáo và khoa học
theo những định nghĩa như trên thì một sự xung đột giữa khoa học và
tôn giáo có vẻ như không thể nào xảy ra.
Bởi vì khoa học chỉ có thể xác minh một cái gì đó là như thế nào
(what is) chứ không phải là phải nên như thế nào (what should be), và ngoài
giá trị trong lãnh vực của khoa học, mọi loại phán đoán về các lãnh vực
khác đều là cần thiết. Mặt khác,
tôn giáo chỉ đánh giá tư tưởng và hành động của con người: tôn giáo
không có tư cách để nói đến các sự kiện (facts) và sự liên hệ giữa
các sự kiện. Theo sự diễn giải
này thì những sự xung đột quen thuộc giữa tôn giáo và khoa học là do sự
nhận thức sai lầm về bản chất của tôn giáo và khoa học.
Thí dụ, một sự xung đột xảy ra
khi một cộng đồng tôn giáo khẳng định là mọi điều viết trong Thánh
Kinh đều tuyệt đối đúng. Điều này
có nghĩa là tôn giáo đã can thiệp vào trong lãnh vực của khoa học; đây
chính là cơ sở chống những thuyết của Galileo và Darwin của giáo hội Ki
Tô. Mặt khác, khoa học thường toan tính
đạt tới những phán đoán căn bản đối với những giá trị và kết quả, dựa trên căn bản của
phương pháp khoa học, và trong đường hướng này đã đặt những giá trị
khoa học ở vị thế đối nghịch với tôn giáo. Những sự xung đột này đều bắt nguồn
từ những sai lầm nghiêm trọng.
Dù rằng những địa hạt tôn giáo
và khoa học tự chúng xa cách nhau, giữa khoa học và tôn giáo cũng có những
liên hệ và mối tùy thuộc lẫn nhau. Tuy
rằng tôn giáo xác định những mục đích của tôn giáo, tôn giáo cũng học
hỏi từ khoa học, theo nghĩa rộng nhất, những phương tiện góp phần vào
trong việc đạt tới những mục đích mà tôn giáo đã đặt ra. Nhưng khoa học chỉ có thể được tạo nên
bởi những người đã hoàn toàn thấm nhuần bởi sự khao khát sự thật
và hiểu biết. Và nguồn cảm nghĩ này
cũng nảy ra từ lãnh vực tôn giáo. Để
đi tới sự thật và hiểu biết, khoa học tin tưởng rằng có thể những
qui luật trong thế giới hiện hữu thì hữu lý, nghĩa là, có thể hiểu
được bằng lý trí. Tôi không thể
quan niệm một khoa học gia chân chính nào mà lại không có một đức tin vững
chắc như vậy. Tình trạng này có thể
biểu thị bằng một hình ảnh: Khoa học
không có tôn giáo thì què quặt, tôn giáo không có khoa học là mù quáng.
Tuy rằng tôi đã khẳng định ở trên,
rằng trong chân lý một sự xung đột giữa tôn giáo và khoa học không thể
hiện hữu. Tuy nhiên tôi phải khẳng
định rõ hơn trên một điểm quan trọng, dựa trên sự thực trong lịch sử
các tôn giáo. Điều này liên hệ đến
quan niệm về Thượng đế. Trong buổi
sơ khai của tiến trình tiến hóa tâm linh của nhân loại, con người đã tưởng
tượng và tạo ra những Thượng đế (gods) theo hình ảnh của chính mình,
những đấng mà theo như ý muốn của con người, có thể quyết định, hoặc
có ảnh hưởng đến thế giới các hiện tượng. Con người, bằng những trò quỷ thuật hoặc
những lời cầu nguyện, mưu cầu thay đổi những khả năng mà họ gán cho
Thượng đế để kéo Thượng đế về phe họ, giúp họ. Ngày nay, ý tưởng về một Thượng đế
(God) [Thần của Ki Tô Giáo, Do Thái Giáo, Hồi Giáo. TCN] chỉ là sự nâng
cao lên tột đỉnh quan niệm cổ xưa về các Thượng đế (gods) [Thần của
các tôn giáo dân gian. TCN]. Đặc tính
nhận thức Thượng đế phỏng theo hình thái con người (anthropomorphic) dược
thấy rõ, thí dụ như, qua sự kiện
là con người, trong những lời cầu nguyện, cầu khẩn Thượng đế hãy
hoàn thành những ước muốn của con người.
Lẽ dĩ nhiên, không ai có thể phủ
nhận ý tưởng về sự hiện hữu của một đấng toàn năng, công bình,
toàn nhân có thể mang lại cho con người sự an ủi, cứu giúp, và hướng
dẫn; và cái ý tưởng đơn giản đó dễ dàng thấm nhập vào những đầu
óc kém phát triển nhất (it is accessible to the most undeveloped mind). Tuy nhiên, một mặt khác, ý tưởng này lại
có những yếu kém mà chúng ta phải đau lòng gánh chịu từ khi lịch sử bắt
đầu. Đó là, nếu Thượng đế là
đấng toàn năng thì mọi sự việc xảy ra, kể cả mọi hành động, mọi
tư tưởng, mọi cảm tính, mọi khao khát của
con người cũng đều là tác phẩm của Thượng đế; vậy làm sao mà có thể
đổ trách nhiệm lên đầu con người về những việc làm hoặc tư tưởng
của con người trước một đấng toàn năng như vậy? Khi định ra những sự thưởng, phạt,
theo một mức độ nào đó, Thượng đế tất nhiên cũng phải tự phán
xét chính mình. Làm sao mà chúng ta có
thể kết hợp điều trên với những thuộc tính toàn thiện, công chính,
mà chúng ta gán cho Thượng đế?
Nguồn
Gốc Của Những Sự Xung Đột
Nguồn gốc của những sự xung đột ngày
nay giữa tôn giáo và khoa học nằm trong quan niệm về một Thượng đế
như trong Thánh Kinh (personal God). Mục
đích của khoa học là thiết lập những quy luật tổng quát xác định mối
liên hệ hỗ tương giữa vật chất và những biến cố trong thời gian và
không gian. Đối với những quy luật
này, hay luật thiên nhiên, chúng ta đòi hỏi chúng phải có một căn cứ vững
chắc tổng quát và tuyệt đối (absolutely general validity is required). Chính yếu, đây là một chương trình, và
một đức tin về những thành đạt mà trên nguyên tắc chỉ có thể xây dựng
trên những sự thành công một phần (founded on partial successes). Nhưng không ai có thể phủ nhận những
thành quả khoa học đó và cho rằng những thành quả đó chỉ là những
điều con người tự lừa dối mình.
Sự kiện là, đặt căn bản trên những
định luật thiên nhiên, chúng ta có thể tiên đoán sự diễn tiến của
các hiện tượng trong một vài lãnh vực với một độ chính xác rất cao,
đã ăn sâu vào trong tiềm thức của con người hiện đại, tuy rằng hắn
ta chỉ có thể nắm được rất ít nội dung của những định luật đó.
Tương tự, tuy không có cùng một độ chính xác, chúng ta có thể tính
toán trước phương thức vận hành của một động cơ điện, một hệ thống
truyền tin, hay một vật dụng không cần giây điện (wireless apparatus), ngay
cả khi chúng ta đang đối phó với một phát triển mới.
Điều chắc là, khi có quá nhiều những
nhân tố dự phần vào một hiện tượng phức tạp, phương pháp khoa học
sẽ thất bại trong hầu hết các trường hợp.
Chúng ta chỉ cần nghĩ đến vấn đề thời tiết, trong trường hợp
này khó có thể tiên đoán chính xác dù chỉ trước vài ngày...
Một
Vũ Trụ Hài Hòa, Có Trật Tự
Một người càng thấm thuần vào sự
hài hòa có trật tự của mọi biến cố trong vũ trụ bao nhiêu thì càng
tin tưởng là không có gì ở ngoài thiên nhiên có thể ảnh hưởng đến và
thay đổi làm cho thiên nhiên khác đi. Đối
với hắn, quy luật của con người hay của Thượng đế không thể hiện hữu
như là một nguyên nhân độc lập đối với những biến cố thiên nhiên. Điều chắc là, giáo lý về một Thượng
đế trong Thánh Kinh có thể xía vào (interfering) những biến cố thiên
nhiên không bao giờ có thể phủ bác được bởi khoa học, theo đúng nghĩa,
bởi vì giáo lý đó bao giờ cũng có thể nấp đàng sau những lãnh vực
mà khoa học chưa thể đặt chân vào.
Nhưng tôi tin rằng cách xử sự của
tôn giáo như vậy không những chẳng có giá trị gì mà còn nguy hại. Vì một giáo lý mà chỉ có thể duy trì
trong bóng tối chứ không phải trong ánh sáng (For a doctrine which is able to
maintain itself not in clear light but only in the dark), sau cùng sẽ mất đi ảnh
hưởng đối với nhân loại, và gây phương hại không thể lường được
cho sự tiến bộ của nhân loại. Trong
cuộc tranh đấu cho đạo đức, các nhà truyền giáo phải có can đảm bỏ
đi giáo lý về một Thượng đế trong Thánh Kinh, nghĩa là, bỏ đi cái nguồn
gốc của sự sợ hãi và hi vọng mà trong quá khứ đã đặt tất cả vào
quyền lực của các linh mục. Trong những
nỗ lực của mình, các linh mục phải sử dụng những ảnh hưởng ngõ hầu
có thể trau dồi Chân, Thiện, Mỹ trong chính con người. Điều này chắc chắn là sẽ khó khăn
hơn nhưng là một nhiệm vụ đáng giá không có gì có thể so sánh được. Sau khi hoàn thành những điều tinh tế trên,
những nhà tôn giáo sẽ sung sướng mà nhận ra rằng kiến thức khoa học
đã nâng cao một tôn giáo chân thật lên và làm cho nó trở nên sâu sắc hơn.
Vai
Trò Tinh Thần Trong Khoa Học
Nếu một trong những mục đích của
tôn giáo là tận lực giải thoát nhân loại khỏi những ràng buộc của những
tham muốn, và những sự sợ hãi, thì lý luận khoa học có thể giúp tôn
giáo theo một nghĩa khác. Đã đành rằng
mục đích của khoa học là khám phá ra những quy luật cho phép kết hợp
và tiên đoán các sự kiện, nhưng đây không phải là mục đích duy nhất
của khoa học. Khoa học cũng còn có mục
đích giảm bớt những mối liên hệ được khám phá ra thành một số tối
thiểu những quan niệm độc lập với nhau [Đây là ý tưởng mọi vật đều
liên hệ với nhau (tương duyên, tương túc) về sau được nhiều khoa học
gia hoàn chỉnh và chấp nhận. TCN]. Chính là trong nỗ lực theo đuổi sự hợp
nhất thuần lý của thế giới đa dạng mà khoa học có được những thành
quả to lớn nhất, dù rằng trong toan tính này khoa học có thể có nguy cơ
rơi vào vòng ảo tưởng. Tuy nhiên, bất
cứ người nào đã có những kinh nghiệm trong những thành công trong sự tiến
bộ thì cũng phải hết sức tôn trọng tính thuần lý nằm trong sự hiện
hữu. Bằng con đường hiểu biết
người này đã đạt tới sự giải thoát rốt ráo khỏi những gông cùm của
hi vọng, tham muốn cá nhân, và do đó đạt tới một thái độ khiêm tốn
trước sự vĩ đại của lý trí thể hiện trong sự hiện hữu.. Thái độ này, đối với tôi chính là
thái độ tôn giáo, theo nghĩa cao nhất của từ tôn giáo. Và vì vậy, đối với tôi, có vẻ như là
khoa học không những chỉ thanh tẩy những thúc đẩy tôn giáo về cách
nhìn Thượng đế theo hình thái con người trong tôn giáo mà còn góp phần
trong phần tâm linh tôn giáo đưa đến sự hiểu biết của chúng ta về sự
sống.
Kiến
Thức Hợp Lý
Sự tiến hóa tinh thần của nhân loại
càng tiến bao nhiêu thì tôi càng thấy rõ rằng con đường tôn giáo chân
chính không nằm trong sự sợ hãi về sự sống,
và sự sợ hãi về sự chết, và đức tin mù quáng, mà là nỗ lực theo
đuổi kiến thức hợp lý. Theo nghĩa
này tôi tin rằng một linh mục phải trở thành một ông thầy nếu ông ta
muốn thực hiện đúng đắn nhiệm vụ giáo dục của ông ta.
Về
trang Nghiên cứu & đối thoại tháng 3-2003
Home | Go top page |
Về trang mục lục