curley_sw_03.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard curley_sw_03.gif (1967 bytes)

.......... .
 

QUÊ MẸ! NHƯNG MẸ NÀO?

  • Trần Chung Ngọc

t-vva.JPG (28159 bytes)  Một cao một thấp, đứng so le; Cao chủ thấp tớ, tí tò te.  (ông Võ văn Ái và Lane Kirland, Chủ tịch Công đoàn Mỹ AFL-CIO, có những liên hệ với cơ quan NED. Hình của tạp chí Quê Mẹ số 111, 10.1990. Caption by GĐ)

Vài cảm nghĩ “mở đầu” qua bài viết của giáo sư Trần Chung Ngọc:

     Một nhân vật cộng đồng (public figure) là nhân vật có bộ mặt quen thuộc, nổi bật trong một nhóm quần chúng nào đó. Cho nên đề cập, mổ xẻ, phê bình một nhân vật cộng đồng không những là hành vi hợp pháp mà còn cần thiết nữa. Cần thiết bởi lẽ, nhân vật cộng đồng ấy có uy tín với một nhóm quần chúng này, nhưng không nhất thiết là có uy tín với nhóm cộng đồng khác, hoặc giả uy tín ấy có thể bị tin lầm vì sự ngụy trang bằng những mưu chước, phương tiện che đậy do nhân vật ấy tạo ra.

     Nhìn vào quan điểm này, ông Võ văn Ái là một nhân vật cộng đồng có uy tín với Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất; với một nhóm chống cộng cực đoan nào đó luôn luôn lợi dụng ông như một công cụ để tổ chức hội họp, biểu tình chống lại nhà nước Việt Nam hiện nay. Nói là “một nhóm cộng đồng nào đó” thôi, không phải là tất cả, vì không phải tổ chức chống cộng nào cũng ưa ông ta. Chẳng hạn như những tổ chức chống cộng của người Thiên Chúa giáo La mã thì ghét ông thậm tệ, một phần bởi chiếc áo Phật tử của ông, mà cũng bởi ông là chức sắc trong tổ chức Văn phòng II Viện Hóa Đạo, thuộc GHPGVNTN - một thực lực tôn giáo quần chúng đã đứng dậy đấu tranh chống độc tài, áp bức, đưa tới sự cáo chung của chế độ ‘ơn mưa móc’ của họ là cố Tổng thống Ngô đình Diệm.

     Trong gần ba thập niên qua, ông Võ văn Ái xây dựng tiếng tăm riêng cho mình qua tờ báo Quê Mẹ, đặt tòa soạn ở Pari. Trong thập niên đầu, tờ Quê Mẹ gặp nhiều khó khăn về tài chánh, có những tiếng đồn xa đồn gần, ông Võ văn Ái từng xử dụng những thủ thuật “bá đạo” để tiếm đoạt các phương tiện in ấn. Dù trong hoàn cảnh khó khăn, tờ Quê Mẹ vẫn được sự ủng hộ của một nhóm quần chúng cụ thể nào đó ở hải ngoại, vì nó đáp ứng được tâm lý “lưu vong" của chính họ. Có người nhận xét rằng ông Võ văn Ái có tài “múa bút” và làm báo. Có người kể rằng, chỉ trong một đêm thức trắng với vài ly cà phê, ông có thể hoàn tất một tờ báo với đầy đủ các mục, bài vở ký dưới các tên khác nhau. Mặt khác, ông còn là nhà hùng biện, ăn nói lưu loát, hấp dẫn qua giọng nói pha nửa Bắc, nửa Huế. Các dữ kiện này những người gần gũi ông có thể kiểm chứng được. Nhưng cũng có tiếng đồn khác, nhận xét rằng ông có tài mà không có đức. Chẳng hạn nhân cách của ông đối với những người từng cộng tác với ông. Khía cạnh này chúng ta có thể kiểm chứng được, ít ra qua hai dữ kiện: Một, chúng tôi có một người bạn từng cộng tác với tờ Quê Mẹ vào các năm sau 1975 ở Pháp. Sau đó thì chủ nhân và người cộng tác cơm không lành canh không ngọt. Nhân một bài điểm cuốn sách “Đảo Ánh Sáng” của Bernard Kouchner (của người bạn này) và phê bình một vài công việc của chiến dịch “Một chiếc Tàu cho Việt Nam” mà ông Võ văn Ái là một thành viên trong đó, có vài việc lem nhem về tiền bạc. Ông Võ văn Ái, dưới bút hiệu Trần phổ Minh, trong số Quê Mẹ Tân niên (46 & 47) và các số kế tiếp, đã mở đầu bằng một bài báo sỉ vả người bạn của chúng tôi dưới tựa đề: “Thái độ đê tiện của Trần Sĩ Hải, bí danh Lê Nguyên Diệp và đồng bọn, hay Cơm mới Chuyện cũ” (trang 99-101). Trong phần “Lời tòa soạn”, ông kết luận: “Lê Nguyên Diệp và đồng bọn là hiện tượng thứ nhất của chủ nghĩa Côn đồ chính trị”. Đoạn hai, phần vào đề, Trần phổ Minh (tức VVA), viết: “...Một năm sau, nhân điểm cuốn cuốn sách “Đảo Ánh Sáng” của Bernard Kouchner, Lê nguyên Diệp, tên thật là Trần Sĩ Hải, không làm công việc điểm sách thuần túy, mà đã lợi dụng cuốn sách để tiếp tục bôi bẩn chủ nhiệm Quê Mẹ...” . Trong phần kết luận, Trần phổ Minh (VVA) viết: “Phá hoại để làm gì và cho ai?  Với Cộng sản, ta còn biết chúng phá hoại dân tộc để thu lợi về cho Đảng và cho Liên-xô. Nhưng vụ phá hoại của Lê Nguyên Diệp và đồng bọn thì chẳng có mục đích hay lý tưởng gì. Bản thân đời sống, gia thế và quá khứ của chúng đã là thước đo cho chính sự đê tiện, thấp hèn và sát nhân của chúng...” (trang 101).

     Nội dung của bài báo có một giọng văn đầy sân hận, thù oán cá nhân, chúng tôi không muốn trích dẫn ra làm gì. Nêu ra một vài điểm biểu trưng, để chứng minh rằng ông Võ văn Ái không có đủ tư cách (qua cung cách đối xử với một người từng cộng tác và tuổi tác thuộc vào thế hệ đàn em ông) và đạo lý (ông Võ văn Ái ưa dùng chữ “tâm thức”, “tâm công”... để diễn đạt cho hành động đấu tranh cho Nhân quyền ở VN của ông) để gánh vác một trọng trách đòi hỏi phải có ở người lãnh đạo là tinh thần quân tử và vị tha.

     Dữ kiện thứ hai: Cách đây chừng 15 năm, trong một dịp đàm đạo với “nhà phê bình văn chương” Nguyễn hưng Quốc ở nhà một người bạn là giáo sư VTN. Ông Quốc từ Pháp mới sang Mỹ và chuẩn bị định cư ở Úc. Được biết ông Quốc từng cộng tác cho tờ Quê Mẹ, chúng tôi liền bộc bạch hỏi, “Anh nghĩ sao về nhân vật Võ văn Ái?”. Ông Quốc im lặng một lát, rồi trả lời trống: “Mấy đứa tư bản, thằng nào cũng giống nhau cả anh ơi!”. Mong rằng ông Nguyễn hưng Quốc tha thứ cho việc nhắc lại chuyện này ở đây, ông có thể đã quên chúng tôi và buổi đàm đạo hôm ấy, nhưng chúng tôi là người đặt câu hỏi nên không thể nào quên. Chắc hẳn, khi dùng chữ “tư bản”, ông Quốc không có ý nói Võ văn Ái là kẻ giàu có, vốn liếng đồ sộ. Tư bản ở đây, phải hiểu là ông Võ văn Ái đang “thủ đắc” từ kẻ khác một phương tiện để sản xuất, in ấn, làm báo... Dù đó không phải là một câu trả lời thẳng thừng, nhưng qua những liên hệ với vài giai thoại không mấy “tốt đẹp” về con người ông chủ nhiệm kiêm chủ bút tờ Quê Mẹ, chúng ta hiểu được rằng Võ văn Ái là con người “không chơi được”, ít nhất là về phương diện hợp tác làm việc!...

     Võ văn Ái sống trong cái “danh” chừng mực , trong sự thấp thỏm về tài chánh ấy trong chừng vài thập niên, cho đến lúc nhận được sự tài trợ từ Cơ quan NED (the National Endowment for Democracy) của Mỹ. Có tiền Mỹ cho, ông Võ văn Ái khởi sắc, bay đi đây đi đó, ra điều trần tố cáo chính phủ Việt Nam trước tổ chức Liên Hiệp Quốc. Trong vòng 5 năm vừa qua, ông Võ văn Ái là nhân vật "ồn ào” nhất của cộng đồng Việt ở hải ngoại.

     NED là một công cụ chính trị của Cơ quan Tình báo Mỹ (CIA). Ông B. Raman, Bí thư Nội các chính phủ Ấn Độ, Giám đốc Viện nghiên cứu Institute for TopicalStudies ở Chennai ghi nhận rằng: “...Tổ chức NED là phương tiện ít tốn kém nhằm khuyến khích các quốc gia tù túng tự giải phóng họ mà không cần Mỹ mở một cuộc thập tự chiến quân sự tốn kém và rủi ro để giải thoát họ khỏi chủ nghĩa cộng sản.” (The NED is a cost-effective way to encourage captive nations to liberate themselves without commiting the US to a prohibitively risky and costly military crusade to free them from communism. B. Raman, The National Endowment for Democracy of US, Website: South Asia Analysis Group).

     Tuy vậy, hai nhân vật chống lại đường lối thiếu chính nghĩa của NED là cô Barbara Conry, nhà phân tích chính sách đối ngoại của Học viện Cato Insttitute (Washington DC.) và ông Raph McGehee, cụu viên chức CIA đã có quan điểm rõ rệt về NED như sau:

Ngày 8/11/1993, trong một cuộc điều trần về chính sách ngoại giao, cô Conry nói: “NED đã tạo ra sự phẩn nộ ở nước ngoài về sự can thiệp của Mỹ; và thường đưa sự phẩn nộ đi xa hơn do sự đánh lừa họ đã nhìn chương trình này như một sự trợ giúp thuộc tư nhân... Trong một số trường hợp, NED đã thủ đắc vai trò tư nhân của mình để can dự vào các cuộc bầu phiếu, một hành động nằm ngoài cả phạm vi của các Cơ quan AID (Agency for Intrenational Development) hoặc USIA US Information Agency)... và vì vậy chỉ có thể coi đó là các hoạt ngầm của CIA....” (NED is resented (abroad) as American interference; it is often further resented because it attempts to deceive foreigners into viewing its programmes as private assistance... On a number of ocacasions, NED has taken advantage of its alleged private status to influence foreign elections, an activity that is beyond the scope of AID or USIA and would otherwise be posssible only through a CIA covert operation... Như đã dẫn).

     Trong một bản báo cáo khác ngày 19/1/1996, ông McGehee đã mô tả các hoạt động hậu-1991 của NED chính là “các hoạt động chính trị nhắm vào mục tiêu Trung Hoa và Cuba” (political operations targeting China and Cuba), và còn một số quốc gia khác nữa, trong đó có Việt Nam. Một thành viên của tổ chức Không-chính phủ (Non-govermental Organisation) phát biểu: “NED đã tham gia vào các loại hình can thiệp vào công việc nội bộ của nước ngoài. Các loại hình ấy là tiêu chuẩn của CIA” (NED engages in much of the same kinds of interference in the internal affairs of foreign countries, which were the hallmark of the CIA.  - Như đã dẫn trên).

     Nhưng không phải NED chỉ giới hạn hoạt động vào các quốc gia thứ ba hay đang phát triển mà thôi, các hoạt động của NED còn can dự vào nội bộ của nước Pháp, nơi mà ông Võ văn Ái đang ăn nhờ ở đậu, thụ hưởng các quyền lợi về y tế, xã hội... Trong các năm của thập niên 1980, dưới thời Tổng thống Francois Mitterand, NED đã chi phí 1.5 triệu đô cho một nhóm Cực Hữu trong Hiệp hội Liên-Đại-học Quốc gia Pháp (FTUI - the National Inter-University Union of France) để gọi là “thúc đẩy nền dân chủ ở Pháp” (to promote democracy in france), bằng cách khuynh loát các cuộc bầu phiếu ở Quốc Hội. Khi bị báo chí Pháp khui ra và làm rùm beng về vụ xìcăngđan chính trị này, chính quyền Reagan   bỉ mặt phải hủy bỏ triệt để các hoạt động của NED tại Pháp.

     Thử hỏi, chúng ta sẽ nghĩ gì khi một nhân cách như ông Võ văn Ái, miệng luôn luôn hô hào, cổ võ Nhân quyền, đấu tranh cho “Quyền làm người Việt Nam”, nhưng ngã tay nhận tiền tài trợ từ cơ quan NED, được gián tiếp giám sát bởi cơ quan CIA, phục vụ cho một nước ngoài vì mục tiêu quyền lợi của họ? Thử hỏi, Giáo hội Phật giáo VN Thống nhất tại hải ngoại, các bậc Tôn Đức trong hàng Giáo phẩm của Giáo hội trong nước nghĩ gì về hành vi của một kẻ luôn khoác chiếc áo chữ nghĩa của Phật giáo, hô hào bảo vệ văn hóa dân tộc, lại cúi đầu báo cáo trước ngoại nhân về các thành quả “tố cáo” quốc gia của mình?

     Đấy là câu hỏi lớn và nghiêm trọng. Bài viết của giáo sư Trần chung Ngọc là một mở đầu trong sự soi sáng vào các câu hỏi lớn đó.

Nguyễn văn Hóa
13.2.2003
pair2_mw.gif (7561 bytes)
I.   Thông Điệp Xuân Quý Mùi của HT Thích Huyền Quang.

   Ngày mồng 2 Tết năm nay, tôi cùng các con cháu đi tới khu phố Việt Nam ở Chicago xem Múa Lân và Đốt Pháo dọc theo đường Argyle.  Cảnh pháo nổ đì đùng, xác pháo hồng phủ đầy đường, làm tôi xúc động và nhớ tới thời xa xưa ở Quê Mẹ, Quê Mẹ Việt Nam chứ không phải là “Quê Mẹ Paris”, nơi đó có Hoàng Thượng Võ Văn Ái và “Thứ Phi Ỷ Lan” đang tranh đấu cho “Quyền Làm Người Việt Nam” theo tiêu chuẩn “Quyền Làm Người Mỹ, Người Anh”, hai quốc gia đang liên kết bắt tay nhau trong trận chiến tương lai, tước đoạt “Quyền Làm Người Iraq” để kiểm soát kho dầu hỏa lớn thứ nhì thế giới, ngụy trang đàng sau bình phong “chống khủng bố”, và chống cuộc “xâm lăng trong tương lai” với vũ khí nguyên tử, hóa học, v..v.. của Iraq “rất có thể sẽ xảy ra” nếu không kịp thời ngăn chận.

   Về tới nhà, mở máy điện toán thì nhận được từ địa chỉ bich.phan@immi.gov.au và gửi tới địa chỉ hocphat@zencomp.com (tôi không hiểu tại sao địa chỉ E-mail của tôi lại nằm trong địa chỉ “hocphat” này) bản Thông Cáo Báo Chí của “Quê Mẹ Paris” về bản Thông Điệp Xuân Quý Mùi – 2003 của Hòa Thượng Huyền Quang.  Điểm đặc biệt là trong Thông Cáo Báo Chí này lại có cả những lời  “giảng Thông Điệp” của “Quê Mẹ Paris”.  Chắc “Quê Mẹ Paris” sợ rằng không ai hiểu được Thông Điệp của Hòa Thượng Huyền Quang như “Quê Mẹ Paris” muốn mọi người đều phải hiểu theo cái hiểu của “Quê Mẹ Paris”.  Chỉ có điều “Quê Mẹ Paris”, vì mục đích chính trị thời thượng, nên đã giảng bậy, giảng láo Thông Điệp của HT Huyền Quang.   Sau đó vài hôm thì tôi lại nhận được, cũng từ địa chỉ trên, thêm bài đài Chân Trời Mới phỏng vấn Vô Thượng (Giáo) Sư Võ Văn Ái và “Thứ Phi Ỷ Lan” về những hoạt động của “Quê Mẹ Paris” trong năm 2002.  Đọc bài phỏng vấn chúng ta thấy người đi phỏng vấn cũng như những người được phỏng vấn đều có đầu óc thuộc loại “mì ăn liền” như sẽ được chứng minh trong một phần sau.

    “Tháng Giêng ăn Tết ở nhà”, thật là nhàn.  Nhưng “nhàn cư vi bất thiện” cho nên cái “bất thiện” này đã xui khiến tôi để chút thì giờ ra đọc và bình luận chơi bằng một bài phân tích bản Thông Điệp của HT Huyền Quang cùng đưa ra vài nhận định nghe chẳng mấy vui tai về bài phỏng vấn ông Võ Văn Ái và “Thứ Phi Ỷ Lan” của đài Chân Trời Mới. 

   Đối với những người để tâm theo rõi thời cuộc, nhất là những hoạt động tranh đấu cho Nhân Quyền, Dân Chủ, và Tự Do Tôn Giáo ở Hải Ngoại, thì chúng ta đã biết rằng “Quê Mẹ Paris” là xưởng sản xuất ra những bản văn chống Cộng trước đây như bản “Phúc Trình” (sic) của Đoàn Viết Hoạt về tình trạng nhân quyền ở Việt Nam, khi ông Hoạt đang ngồi trong một nhà tù khắc nghiệt nhất ở Việt Nam, bản “Nhận Định...” của Hòa Thượng Thích Quảng Độ trong đó có những câu không thể là của một Hòa Thượng đạo cao đức trọng (Xin đọc bài VÀI NHẬN XÉT VỀ VẤN ĐỀ TRANH ĐẤU CHO NHÂN QUYỀN & TỰ DO TÔN GIÁO Ở HẢI NGOẠI và bài NHÂN QUYỀN! CỦA AI VÀ CHO AI? của Trần Chung Ngọc trên www.giaodiem.com ), và những bản “phúc trình”, đúng nghĩa phúc trình, về những hoạt động của “Quê Mẹ Paris” theo đúng chỉ thị của cơ quan cấp phân (fund) là Tổ Chức Quốc Gia Tài Trợ Để Hoạt Động Cho Dân Chủ (National Endowment For Democracy = NED) của Mỹ v..v.. Tuy nhiên, nay chúng ta hãy tin ở sự lương thiện trí thức đột khởi của ông Võ Văn Ái và “Quê Mẹ Paris”, và chấp nhận bản Thông Điệp của HT Huyền Quang là “sao y chánh bản”, không hề được “edit” lại như bản “Phúc trình” của Đoàn Viết Hoạt cũng như bản “Nhận Định..” của HT Thích Quảng Độ trước đây.

   Bản Thông Điệp Xuân Quý Mùi – 2003 của Hòa Thượng Huyền Quang năm nay ngắn, chưa đầy 2 trang giấy, nhưng rất xúc tích.  Mở đầu bản Thông Điệp là một đoạn HT Huyền Quang chúc Tết chư liệt vị Hòa  thượng, Thượng tọa, Đại đức Tăng Ni, nam nữ Cư sĩ Phật tử trong và ngoài nước “một năm an lành, như ý và viên thành Phật  sự.”

   Sau đó Hòa Thượng viết:

   “Nói  đến Phật sự là nói đến quá trình hoằng dương Chánh pháp từ quá khứ  đến vị lai. Quá khứ Phật giáo Việt Nam huy hoàng, là nhờ chư lịch đại  Tổ sư dày công un đúc. Vị lai Phật giáo Việt Nam tùy thuộc ở hiện  tại. Mà hiện tại Phật giáo Việt Nam còn ngổn ngang trăm mối. Tuy  nhiên, người con Phật luôn tự tại vô ngại trước mọi hoàn cảnh thịnh  suy. Tự tại vô ngại mới thoát ly khỏi hai thái cực bi quan và lạc  quan, là sản phẩm nhất thời của những tình cảm nông nổi. Tự tại vô  ngại mới vượt khỏi vô minh, cố tín, để hoàn thành sự nghiệp cứu độ   và giải thoát quần sinh.”

   Lời diễn giải của “Quê Mẹ Paris” về ý nghĩa của “tự tại vô ngại” là “Quan  điểm Phật sự mà Đại lão Hòa thượng nhắc nhở cho Phật tử Việt Nam là sự bền tâm vững chí không lay động trước mọi hoàn cảnh thịnh hay  suy (tự tại vô ngại)”.  Lời diễn giảng này của “Quê Mẹ Paris” đã  biến một trạng thái tâm linh siêu việt trong Phật Giáo, “tự tại vô ngại”, thành “bền tâm vững chí” để thắng những khó khăn, trở ngại, nghịch cảnh v..v.. lẽ dĩ nhiên, để đạt được những mục đích thế tục, ví dụ như, tranh đấu cho “Quyền Làm Người Việt Nam” cho những người Việt Nam không phải là người, hoặc tranh đấu “tự do tín ngưỡng” cho những người ngày chủ nhật tấp nập kéo nhau đi lễ nhà thờ nếu không thì không được lên thiên đường, hay ngày rằm, mồng một, kéo nhau đến Chùa lễ Phật...  “Bền tâm vững chí” là một ý chí, chỉ có ý nghĩa trước suy, trước nghịch, chứ vô nghĩa trước thịnh, trước thuận, và không phải là một trạng thái tâm linh như “tự tại vô ngại”, một kết quả tu tập trong Phật Giáo mà không phải ai cũng có thể thành đạt, kể cả các bậc xuất gia. Trong cuốn Từ Điển Phật Học Việt Nam của HT Thích Minh Châu và Minh Chi, Tự Tại“Làm chủ được thân tâm, không bị ngoại cảnh dù nghịch dù thuận chi phối”. Chúng ta cũng biết, Quán Tự Tại là một tên khác của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát.  Hòa Thượng Huyền Quang cũng đã khai triển từ “tự tại vô ngại” rất rõ ràng ở trên, và không có nghĩa nào phù hợp với “bền tâm, vững chí” của “Quê Mẹ Paris”. Vì “bền tâm vững chí” rất có thể bắt nguồn từ vô minh, cố tín, chứ không thể “vượt khỏi vô minh, cố tín” như HT Huyền Quang đã giảng rõ.  Mục đích đạt được do “bền tâm vững chí” của “Quê Mẹ Paris” rất có thể là những mục đích kiếm sống bất lương trí thức, xảo quyệt, vô luân, gây phương hại cho tổ quốc v..v.., chứ chẳng liên quan gì đến “tự tại vô ngại” của Phật Giáo cả.    Cho nên, tôi đề nghị, từ nay về sau, “Quê Mẹ Paris” hãy dè dặt trong việc “giảng Thông Điệp theo ý mình”, nhất là những từ Phật Giáo mà các vị Cao Tăng dùng. 

   Tiếp theo HT Huyền Quang viết:

   "Bậc   chí nhân thị hiện, tất lo việc cứu người, không hạnh nào là chẳng  đủ, không việc gì là chẳng làm, không chỉ có sức định tuệ, mà cũng  có công phò tá". Đây là lời vua Lý Nhân Tông nói với thiền sư Mãn Giác gần một ngàn  năm trước. Đây cũng là tiêu chí của Phật giáo Việt Nam suốt hai ngàn  năm qua. Không riêng "sức định tuệ" của người xuất gia hay tại gia  trong công cuộc tu trì tự giác, mà còn phải "có công phò tá" việc   quốc gia, xã hội bằng chí nguyện lợi tha. Chẳng việc gì là không làm,  miễn việc đó nhằm cứu người, miễn việc đó giải thoát xã hội khỏi cảnh lầm than, bất công, miễn việc đó bảo vệ được chủ quyền đất  nước từ lãnh thổ đến văn hóa và tinh thần. Từ xưa, chư lịch đại Tổ sư biết rất rõ rằng, phục vụ đất nước là phục vụ cho Phật giáo, vì  Phật giáo đặt sự tồn tại của mình trong sự tồn tại của đất nước.  Vạn Hạnh thiền sư "trụ tích trấn vương kỳ" (chống gậy trấn kinh vua)  là người đã hoàn mãn tiêu chí ấy.

   Những lời dạy bảo của Hòa Thượng Huyền Quang trên đây không ngoài chủ trương “Phật Giáo Dấn Thân” của Phật Giáo ngày nay.  Dấn thân như thế nào?  Tất cả tùy thuộc vào trí tuệ Phật Giáo vì Phật Giáo là tôn giáo của trí tuệ.  Hòa Thượng đã vạch cho Phật tử chúng ta, Tăng cũng như tục, một con đường hành Đạo.  Đó là giúp nước bằng chí nguyện lợi tha, nghĩa là mang lợi ích đến cho người khác.  Nhưng mang những lợi ích gì và mang như thế nào, đó là cả một vấn đề.   Để tránh việc những “sư tử trùng” sử dụng lệch lạc chiêu bài lợi tha, Hòa Thượng Huyền Quang đã thu hẹp lợi tha trong vài điều thiết thực như trên, và hiển nhiên điều quan trọng nhất là “bảo vệ được chủ quyền đất  nước từ lãnh thổ đến văn hóa và tinh thần.”  Khai triển điều quan trọng này, Hòa Thượng Huyền Quang đã đi thêm vào chi tiết như sau:

   Nhằm   khẳng định bản lĩnh của nền văn hóa Phật giáo và văn hóa Việt Nam,  nên từ xưa, người Phật tử Việt Nam luôn ngăn chống những nền văn  hóa nô dịch, ngoại lai, để bảo vệ chủ quyền dân tộc, bảo vệ quyền  sống, quyền tự do tín ngưỡng, quyền hạnh phúc, quyền ấm no cho mỗi con  người. Ngoài nỗ lực bảo tồn nền văn hiến Việt Nam, sự khẳng định  này cốt làm cho đạo Phật là đạo "ở nhà có thể đem mà thờ  cha mẹ, giúp nước có thể đem giáo hóa dân, sống một mình có thể đem  trị thân", như Mâu Bác, bậc thức giả Trung quốc ở thế kỷ  thứ II Tây lịch nhận xét về Phật giáo nước ta.

   Như trên tôi đã nhận định, bản Thông Điệp của Hòa Thượng Huyền Quang là một bản văn rất xúc tích.  Ngài viết rất ngắn nhưng từng câu, từng chữ đều bao gồm những nhận định rất tinh tế của Ngài và đưa ra đường hướng cho Phật tử tri hành trong tương lai.  Thật vậy, Ngài dạy chúng ta phải “chống những nền văn  hóa nô dịch, ngoại lai, để bảo vệ chủ quyền dân tộc, bảo vệ quyền  sống, quyền tự do tín ngưỡng, quyền hạnh phúc, quyền ấm no cho mỗi con  người.”  Muốn thực hiện được những lời Ngài dạy, Phật tử Việt Nam phải biết nền văn hóa nào là nền văn hóa nô dịch, ngoại lai.  Ở đây, có lẽ chúng ta cần hiểu rằng, Hòa Thượng Huyền Quang không có ý chống tất cả những gì thuộc những nền văn hóa ngoại lai.  Ngài đã nói rõ, cái nền văn hóa phải chống là nền văn hóa nô dịch, ngoại lai.  Nền văn hóa nô dịch, ngoại lai là nền văn hóa chủ trương biến con người thành những kẻ nô lệ cuồng tín, là nền văn hóa khuyến khích tín đồ phải “cúi đầu trong tuân phục”, là nền văn hóa dựa vào “thần quyền” do đó làm mất đi phẩm cách của con người đúng nghĩa là một con người, là nền văn hóa nô lệ ngoại bang, nhận chỉ thị từ ngoại bang, nhận tước vị từ ngoại bang, dựa thế ngoại bang v..v..  Nói tóm lại, đó là nền văn hóa không phù hợp với nền văn hóa nhân chủ, nhân bản của Việt Nam, không phù hợp với lòng yêu nước, yêu dân tộc của Việt Nam, không phù hợp với tinh thần chiết trung, nghĩa là không bám chặt vào một ý thức hệ riêng biệt nào, của Việt Nam.  Đó là nền văn hóa chống lại việc thờ cúng ông bà cha mẹ; đó là nền văn hóa ngu dân, chống lại việc giáo hóa, mở mang trí tuệ người dân; đó là nền văn hóa “đức tin”, cho rằng “đức tin” sẽ giải quyết tất cả, cho nên không quan tâm đến việc trị thân.  Tất cả những “quyền  sống, quyền tự do tín ngưỡng, quyền hạnh phúc, quyền ấm no cho mỗi con  người” đều nằm trong nền văn hóa nhân chủ và nhân bản của Việt Nam.   Do đó, muốn bảo vệ nền văn hóa này, chúng ta cần phải tập trung nỗ lực trong việc chống lại những nền văn hóa nô dịch, ngoại lai.

   Trong đoạn tiếp theo, Hòa Thượng viết:

   Xã hội nước ta ngày nay nhân tâm ly tán, đạo lý suy vong, tệ nạn đầy   dẫy, đoàn thể phân hóa, bè đảng hoành hành. Người Phật tử không  thể nhắm mắt bước theo nếp sống bại hoại, suy đồi ấy. Mà phải kiến  tạo cộng nghiệp thanh cao, tốt lành, để giải trừ cộng nghiệp hắc ám,  bi thảm. Sáu phép Lục Hòa là bửu bối cho Giáo hội ta chữa trị những  loạn tưởng và lịch sử bi thảm của thời đại. Người đời tranh chấp,  giành giật, thì Giáo hội ta hỷ xả, từ bi. Người đời phân hóa, ly  tán, thì Giáo hội ta hòa hiệp như ánh sáng với không khí. Áp dụng  triệt để sáu phép hòa kỉnh này, nạn sư tử trùng và phân hóa mới  chấm dứt, đạo khí bình đẳng hình thành, xã hội bình quân, tương ái mới xuất  hiện.

   “Quê Mẹ Paris” giảng rằng: “Sáu  phép hòa kỉnh (Lục hòa) là căn bản sống chung hòa hiệp của cộng  đồng Phật giáo từ thời Đức Phật, nhằm ngăn chận sự phân hóa, ly  gián, hiện đang xâu xé nội bộ Phật giáo cũng như cộng đồng dân tộc.”

   Đọc kỹ đoạn trên, tôi cho rằng phần Thông Điệp này là để cho Tăng đoàn chứ không phải để cho các Phật tử nói chung, vì Lục Hòa không thể áp dụng trong cộng đồng dân tộc, tuy trong Lục Hòa có một hai điều Phật tử chúng ta có thể áp dụng.  Thật vậy, trong cuốn Phật Pháp: Chương Trình Của Gia Đình Phật Tử, các Hòa Thượng Minh Châu, Thiên Ân v..v.. đã viết rõ:  “Chính Đức Phật đã đặt ra sáu món Hòa-kỉnh này làm nguyên tắc căn bản cho các bậc xuất gia chung sống với nhau; và chính các ngôi chùa, các Tòng Lâm hàng trăm hàng ngàn Tăng chúng đã sống đúng theo sáu món Hòa-kỉnh này.  Sáu món Hòa-kỉnh này đem sự hòa đồng trong chúng Tăng, để cùng nhau sống theo lời dạy của Đức Phật, tinh tấn trên con đường giải thoát và giác ngộ của chư Phật.”

   Chúng ta nên để ý, Phật tử gồm có Tăng và Tục.  Nhưng trong đoạn trên, Hòa Thượng Huyền Quang đã dùng từ “Giáo Hội” khi nói về “Lục Hòa”.  Giáo Hội ở đây không có nghĩa gồm mọi Tăng, Ni và Phật tử, hay cộng đồng dân tộc, mà chỉ có nghĩa những vị có nhiệm vụ trong Giáo Hội để hoạch định công việc hoằng dương Đạo Pháp.  Chỉ theo nghĩa này, việc áp dụng sáu phép Lục Hòa mới có ý nghĩa.  Thật vậy, sáu phép Lục Hòa là: Thân Hòa Đồng Trú (Sống chung cùng một chỗ, khai triển ra thành cùng là thành viên của Giáo Hội), Khẩu Hòa Vô Tránh (Giải quyết những bất đồng trong sự ôn hòa), Ý Hòa Đồng Duyệt (Dung hòa các ý kiến đi tới sự đồng thuận), Giới Hòa Đồng Tu (Cùng nhau tu tập, giữ giới), Lợi Hòa Đồng Quân (Phân chia vật chất đồng đều), Kiến Hòa Đồng Giải (Cùng nhau học tập và giảng giải cho nhau).  Hiển nhiên là Lục Hòa không thể áp dụng cho cộng đồng tất cả các Phật tử, hay cộng đồng dân tộc, như “Quê Mẹ Paris” đã diễn giảng sai lầm.

   Trong đoạn Thông Điệp trên, chúng ta thấy rõ Ngài Huyền Quang đã biết rõ tình hình Giáo hội và nhận thức rõ sự nguy hại của những xung đột, phân hóa, chia rẽ nội bộ.  Cho nên Ngài đã nhắc lại sáu phép Lục Hòa trong Phật Giáo để cho Giáo Hội áp dụng nhằm giải quyết những vấn nạn trên.   Sự phân hóa, chia rẽ, giữa Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất và Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam mà những người chống Cộng hải ngoại gọi là Giáo Hội Quốc Doanh, là một cái gai đâm vào cạnh sườn Phật Giáo Việt Nam bấy lâu nay.  Tình trạng này được các thế lực vô minh chống Phật Giáo, thuộc đen cũng như đỏ, khai thác và nuôi dưỡng với ý đồ làm suy yếu Phật Giáo.

   Ý đồ này không phải là Phật Giáo Việt Nam không nhìn thấy.  Thầy Nhất Hạnh đã nhìn thấy từ lâu và đưa ra đường hướng hòa hợp.  Thầy ôm cả hai, quốc doanh cũng như thống nhất.  Giao Điểm và Chuyển Luân cũng đã nhìn thấy, và trong nhiều bài đã cảnh báo về tình trạng phân hóa này.  Trong bài tham luận Đại Hội V Phật Giáo Việt Nam ở Hà Nội, tiến sĩ Hồng Quang cũng nêu lên vấn đề nhiều Phật sự bị trở ngại nguyên do chỉ vì có hay không có chữ thống nhất. Và gần đây, trong tờ Phật Giáo Việt Nam, số 122, tháng 1, 2003, Hòa Thượng Thích Mãn Giác, trong Thư Ngỏ Kỷ Niệm Bốn Mươi Năm Phật Giáo Nhập Cuộc 1963-2003, cũng đã đưa ra một thông điệp:

   “Người Phật tử Việt Nam bất cứ nơi nào cũng phải cố gắng vươn lên khỏi những bận tâm về định chế hình thức, để hòa nhập với ước vọng và quyết tâm củng cố tự lực, tự cường và tự tín của cả quốc gia.  Càng sa lầy vào những bận tâm chấp tánh, chấp tướng, tham danh, tham lợi, Phật Giáo sẽ càng lệ thuộc vào quyền lợi thế tục.  Càng lệ thuộc vào quyền lực thế tục Phật Giáo càng đi xa con đường phục vụ đạo pháp và dân tộc cố hữu... Đó là bài học Phật tử đã rút tỉa được qua kinh nghiệm đắng cay của tình trạng tiến thối lưỡng nan “Ấn Quang – Quốc Tự” trước năm 1975 và Phật Giáo quốc doanh – Phật Giáo quốc gia” hay “Phật Giáo quốc doanh – Phật Giáo thống nhất” sau năm 1975.  Kỷ niệm 40 năm Phật Giáo nhập thế là thực hiện quyết tâm vượt khỏi những phiền trược danh tướng thế tục đó.”

   Nhưng làm sao giải quyết vấn nạn này?  Chúng ta thấy, hai bậc cao Tăng của Việt Nam, Hòa Thượng Thích Huyền Quang và Hòa Thượng Thích Mãn Giác, cùng có chung một ý tưởng: Phật Giáo Việt Nam phải đi vào con đường hòa hợp, từ bỏ những chướng ngại như chấp danh, chấp tướng, chấp ngã.  Đi vào con đường này như thế nào?  Hòa Thượng Huyền Quang đã chỉ rõ trong Bản Thông Điệp:

   Với   trí tuệ Bát nhã, chư lịch đại Tổ sư ở nước ta đã không ngừng khế cơ,  khế lý nền giáo lý cao cả của Đức Thế tôn vào mọi bối cảnh đương  thời, đương địa, đương cơ. Ngày nay, người Phật tử Việt Nam cần học hỏi  và kế thừa truyền thống khế cơ, khế lý của tiền nhân, mà sự sáng  tạo trên mọi lĩnh vực của đời sống sẽ là bửu bối cho công cuộc  hoằng dương Chánh pháp và cứu khốn trừ nguy.

   Khế cơ, khế lý trong Phật Giáo có nghĩa là Chân Lý Phật Giáo thì không thay đổi, nhưng phương pháp đưa Chân Lý Phật Giáo vào trong xã hội thì phải tùy theo từng hoàn cảnh xã hội và căn cơ tâm lý quần chúng.  Vì vậy chúng ta thường nghe đến câu “Tuỳ duyên bất biến”.  Tuy nhiên, nếu không hiểu rõ ý nghĩa của câu trên mà chỉ xét trên mặt văn tự thì có thể có người sẽ thắc mắc: Đã tùy duyên thì làm sao còn bất biến được?  Để cho ý nghĩa câu trên được rõ ràng hơn, tôi cho rằng chúng ta nên khai triển “Tùy duyên bất biến” là: “Phật Pháp bất biến, Tùy duyên vạn biến” mỗi khi chúng ta nói lên câu trên cho nó được rõ ràng hơn.

   Một khi đã từ bỏ chấp danh, chấp tướng, chấp ngã, và sử dụng phương thức “tùy duyên vạn biến” thì vấn đề thống nhất hay không thống nhất không còn là một vấn đề nữa.  Điều quan trọng không phải là hình thức mà là nội dung, là làm được việc.  Tôi có một thí dụ bản thân về “khế lý, khế cơ”:  Cuối năm 1996 tôi về thăm quê hương.  Ở Huế tôi có viếng thăm một ngôi Chùa ở thành nội.  Sau khi xem một số hình ảnh cứu lụt của Sư Cô Như Minh, tôi có hỏi Sư Cô là có gặp khó khăn gì trong những công tác cứu lụt, vì ở ngoại quốc tôi nghe tin nhà nước đã ngăn chận những xe cứu lụt của Phật Giáo Thống Nhất.  Sư Cô cười và trả lời:  “Không có đâu, tôi được nhà nước tận tình giúp, cung cấp xe cộ, vì tôi đến xin phép chính quyền hẳn hoi và nhờ họ giúp.  Người dân thấy cái đầu trọc và bộ quần áo của chúng tôi là biết chúng tôi là ai, thuộc tôn giáo nào rồi, chẳng cần phải treo cờ treo biển, căng biểu ngữ, nêu danh, nêu tướng, rồi cứ tự tiện hành động mà không cần biết đến ai.”  Tôi cho đây chính là truyền thống “khế lý, khế cơ” của Phật Giáo, và có trí tuệ Phật Giáo hay không chính là ở chỗ này.  Cuối năm 1999, tiện nội cùng với một nhóm bác sĩ và thân hữu về Huế, cùng Sư Cô Như Minh đi cứu lụt và không gặp bất cứ một trở ngại nào, vì đến đâu cũng báo cho chính quyền địa phương biết trước và xin họ giúp đỡ, cho mượn trụ sở, thông báo cho dân chúng biết ngày giờ v..v..

   Hòa Thượng Huyền Quang, cũng như Hòa Thượng Mãn Giác, đều thấy con đường Phật Giáo Việt Nam phải đi là con đường “khế lý, khế cơ”.  Và muốn đi trên con đường này thì phải bỏ danh, bỏ tướng, bỏ ngã.  Bởi vì, biết là vô ngã mà còn chấp ngã, biết là hư danh mà còn chấp danh, biết là giả tướng mà còn chấp tướng, thì những Phật sự cũng bị gò bó trong danh, tướng, ngã, không làm sao vượt được vô minh, cố tín, như HT Huyền Quang mong muốn.

   Đoạn cuối trong Thông Điệp của Hòa Thượng Huyền Quang đã rõ ràng, tôi nghĩ không cần thiết phải bàn thêm điều gì.

  Chưa  bao giờ trong lịch sử nước ta lại có đông đảo Cao tăng và Phật tử có  mặt và sinh sống trên năm châu thế giới như ngày nay. Tôi hết lòng kỳ vọng vào chư Liệt vị để tiếng đại hồng chung của Phật giáo Việt  Nam thành lời cảnh tỉnh và sức sống tâm linh trên toàn thế  giới.

     cảnh tù đày, quản chế, ước vọng ấy của hàng Giáo phẩm thuộc Hội  đồng Lưỡng viện, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, chưa đủ  duyên thi hành, thì nay trông cậy vào toàn thể chư liệt vị Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức Tăng Ni, nam nữ Cư sĩ Phật tử trong và ngoài  nước, hiện đang sống trong cảnh tự do, xin chư Liệt vị nỗ lực thực   hiện, làm nên một Nhân gian Phật giáo "cư trần lạc đạo" như tôi đã  nhắc đến trong Thông điệp Xuân năm ngoái.

II. Vài Nhận Định Về Bài Phỏng Vấn Võ Văn Ái Của Đài Chân Trời Mới.

      Sau đây tôi xin đi vào vài chi tiết trong bài đài Chân Trời Mới phỏng vấn giáo sư Võ Văn Ái.

   Câu đầu tiên Chân Trời Mới (CTM) hỏi là: “Xin cho biết nhận định của Giáo sư về tình hình nhân  quyền ở VN năm Nhâm Ngọ 2002”

   Ông Võ Văn Ái, thay vì trả lời thẳng vào câu hỏi trên, đã nhai lại những luận điệu tố Cộng đã nhàm chán và lỗi thời như:  “Bước thứ nhất, sau năm 1975 là cuộc trả thù toàn thể nhân dân  miền Nam với ba cơ chế : Trại tập trung cải tạo, Kinh tế mới, và chế  độ lý lịch.   Ba cơ chế này nhắm triệt tiêu quyền sống và quyền công  dân của một quốc gia có chủ quyền, so ra còn tệ hơn dưới thời thực dân Pháp.”. 

   Trả lời như trên, ông Ái quên mất vài sự kiện.  Thứ nhất, ngay dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa cũng có những trại tập trung cải tạo, chuồng cọp, vùng dinh điền, và lý lịch Cần Lao Công Giáo.  Nói như vậy không có nghĩa là tôi cho những biện pháp của CS đối với người dân miền Nam sau năm 75 là phải, mà chỉ muốn vạch rõ cho ông Ái thấy là những biện pháp này của CS đối với miền Nam mà họ cho là “ngụy” chẳng có gì là tệ hơn những biện pháp của chính quyền Ngô Đình Diệm đối với chính dân của mình. 

   Thứ nhì, ông Võ Văn Ái đã nói láo:  Sau 1975, Nam Việt Nam có bao nhiêu triệu dân?  Có bao nhiêu người bị bắt vào những trại cải tạo?   Có bao nhiêu người phải đi vùng kinh tế mới?  Bao nhiêu trại tập trung cải tạo chứa được “toàn thể nhân dân miền Nam”?  Bao nhiêu vùng kinh tế mới để cho “toàn thể nhân dân miền Nam” đến đó khai khẩn?  Và chế độ lý lịch nhắm vào những thành phần nào hay nhắm vào “toàn thể nhân dân miền Nam”?  Vậy tại sao ông lại phát ngôn bừa bãi một cách vô trách nhiệm như vậy.  Ông muốn chống Cộng thì cứ chống, nhưng phải chống cho ra lẽ.  Chứ chống ẩu như vậy thì chỉ có ảnh hưởng ngược lại. Không phải người ta sẽ thù hận Cộng Sản hơn như ông mong muốn, mà chính ông sẽ bị người đời khinh bỉ vì sự bất lương trí thức trong thủ đoạn xuyên tạc, phóng đại sự việc của ông. 

   Thứ ba, ông Ái chỉ biết chống Cộng lấy được, không hề nghĩ đến tâm lý con người sau những thảm họa gây ra bởi cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn kéo dài nhiều năm, đất nước tan tác, chết hại mấy triệu người, hận thù chồng chất, và kết quả cuộc chiến là có bên thắng bên bại.  Sau trận Nhật tấn công Pearl Harbor, Mỹ đã tập trung tất cả người Nhật sống trên đất Mỹ, già trẻ, lớn, bé, đưa vào những trại tập trung.   Gần đây, Mỹ đã công nhận đó là một biện pháp sai lầm.  Việt Nam, qua những biện pháp sửa sai như dẹp bỏ các trại cải tạo, cho các sĩ quan Việt Nam CH đi ngoại quốc đoàn tụ với gia đình theo chương trình H.O., những nhân vật nổi danh chống chế độ như Đoàn Viết Hoạt, Nguyễn Chí Thiện đều được thả cho đi ngoại quốc để tiếp tục dựa thế ngoại bang chống Cộng, tuy không nói lên nhưng cũng đã ngầm công nhận những biện pháp đối xử với dân miền Nam sau 1975 là quá đáng. 

   Thực ra thì, một cuộc “tắm máu” mà thế giới tự do “chờ đợi” đã không hề xảy ra.  Trong khi đó, những “cánh đồng tử thần” (Killing fields) của Pol Pot đã trải phủ trên dưới 2 triệu chiếc sọ người.  Có một sự kiện mà có lẽ ông Ái không biết hoặc có biết mà cũng lờ đi là, trong các trại tập trung cải tạo, khi nhà nước cho thăm viếng tiếp tế, thì tù nhân Quốc Gia cải tạo sống sướng hơn những cai tù Cộng Sản, ít ra là về phương diện vật chất.  Với cuộc chiến như vậy, với hận thù như vậy, với những chiến dịch của miền Nam như Tố Cộng, Phụng Hoàng (Phoenix), Săn Lùng & Tiêu Diệt (Search & Destroy) v..v.. và những cuộc bỏ bom tàn bạo ở ngoài Bắc của Mỹ đối với người CS, tôi cho là những biện pháp của CS đối với dân miền Nam tương đối còn là nhân đạo.  Trong đầu óc tôi, trước khi tôi chạy ra ngoại quốc năm 1975, tôi nghĩ chắc Cộng Sản còn đối xử với miền Nam tệ hơn nhiều.  Nhưng sự việc đã không xảy ra như tôi nghĩ.  Và ngày nay, tôi chỉ trách CS là không học được bài học lịch sử Việt Nam: Khoan Dung, Tha Thứ.  Nhưng tôi thông cảm đường lối của họ, vì họ không phải là thánh nhân.

   Ngày nay, ông Ái có quyền nhai lại những luận điệu khơi lại hận thù trên, nhưng câu “so ra còn tệ hơn dưới thời thực dân Pháp.” của ông là một câu chống Cộng hết sức vô ý thức.  Câu này có cùng một ý như hai câu thơ của Nguyễn Chí Thiện trong bài Đồng Lầy: “Ôi thằng Tây mà khi xưa người dân tốn bao xương máu đánh đuổi, Nay người dân xao xuyến luyến tiếc vô chừng.”  Nói lên câu trên, ông Ái đã chứng tỏ rằng mình không biết gì về lịch sử Việt Nam, không biết gì về cảnh người dân sống trong thời Pháp thuộc, và nhất là đã phủ nhận công ơn của bao nhiêu chiến sĩ Văn Thân, Cần Vương v..v.. và CS Việt Nam đã có công chống lại cuộc xâm lăng của Pháp, và công giành được độc lập cho nước nhà.  Tôi không thể tưởng tượng được một trí thức như ông Ái mà lại có thể có can đảm nói lên được một câu rất đáng khinh như trên.  Không ai có thể so sánh đời sống của người dân trong một nước độc lập, có chủ quyền, bất kể là như thế nào, với đời sống của người dân của nước đó khi bị nô lệ ngoại bang, đã mất đi chủ quyền, sống trong tủi nhục tinh thần và bị bóc lột vật chất.  Người Việt Nam, nếu thực sự là người yêu quê hương, yêu nước, bất cứ sống ở đâu và trong hoàn cảnh nào, cũng phải cảm thấy tự hào về sự kiện Việt Nam đã đánh bại 3 cường quốc: Tàu, Tây, Mỹ.  Ông cha ta đã nhiều lần đánh đuổi Tàu về nước, và một mình Cộng Sản đã đánh bại 2 cường quốc Tây, Mỹ.  Trên thế giới, người Việt Nam bất cứ ở đâu đều có thể ngẩng mặt lên đối diện với bất cứ ai.  Thế giới có thể chê Việt Nam nghèo khổ, chậm tiến, có thể không đồng ý với chế độ toàn trị chính trị hiện nay ở Việt Nam, nhưng không có nước nào dám khinh dân tộc Việt Nam.  Đây là một niềm hãnh diện không thể mua bằng bất cứ giá nào.  Những người như ông Võ Văn Ái, cho rằng người dân trong thời thực dân Pháp đô hộ còn tốt hơn thời Cộng Sản, là những người đầu óc tối mò, không biết mình đang nói cái gì, chung qui chỉ là đồ hại dân hại nước mà thôi, bất kể ngụy trang đàng sau chiêu bài nào, dưới danh từ hoa mỹ nào, như Nhân Quyền, Dân Chủ, Tự Do v..v... Chẳng trách là, gần 30 năm chống Cộng rồi mà ông có làm được cái gì ra hồn đâu.  Nhiều lắm là hốt được một mớ đô la của National Endowment for Democracy của Mỹ.

   Cái bệnh phát ngôn bừa bãi của ông Ái còn thể hiện trong những câu chống Cộng vô ý thức  như sau:

   “Họ áp dụng Nghị  định 31/CP quản chế bất cứ ai bất đồng chính kiến. Nghị định này biến  nhà ở thành nhà tù, biến chùa viện, giáo đường thành nhà giam tại chỗ... Nay làm xong công tác biến miền Nam cũ thành một Nhà tù lớn qua Nghị định quản chế hành chính 31/CP... “

   Tại sao lại là vô ý thức?    Nghị định năm 1997 31/CP của Chính Phủ chỉ có mục đích biến miền Nam cũ thành một nhà tù lớn hay sao?  Thế còn miền “Bắc cũ” thì sao?  Nghị định này có áp dụng cho “miền Bắc cũ” hay không?   Đã 22 năm kể từ 1975,  miền Nam vẫn tự do cho đến 1997 Cộng Sản mới nghĩ ra cái Nghị Định 31/CP  để biến miền Nam cũ thành một Nhà tù lớn.  Nói càn, nói ẩu như vậy mà cũng nói lên được thì thật là tài.  Ông Ái như con thiêu thân, lao đầu vào ngọn đèn chống Cộng để rồi chính mình bị thiêu đốt vì những luận điệu có thể nói là quá vô ý thức của mình.  Tôi không muốn nặng lời, nhưng tôi không kiếm được danh từ nào thích hợp hơn. 

   Bản tường trình về thế giới của Human Rights Watch/Asia năm 2000 viết: “Nghị định 31/CP vẫn còn hiệu lực.  Nghị định này cho phép các viên chức chính phủ bắt giữ những cá nhân nghi là đe dọa đến An Ninh Quốc Gia mà không cần đến trát Tòa.” (The 1997 Decree 31/CP remained in force.   It allowed officials to detain individuals suspected of posing a threat to National Security without a warrant or prior judicial approval.)

   Nhưng ông Võ Văn Ái lại suy diễn nghị định 31/CP như trên, thật là hết chỗ nói.  Nhưng sự suy diễn của ông Ái vào năm 2003 là một sự suy diễn lố bịch vì  chúng ta đã biết, sau vụ 9 tháng 11 ở New York, dưới chiêu bài chống khủng bố, chính quyền Mỹ đã đưa ra biện pháp An Ninh Nội Địa (Homeland Security) và Cảnh sát, FBI có quyền bắt giữ bất cứ ai bị nghi là đe dọa nền An Ninh Quốc Gia mà không cần đến trát tòa, có quyền xét chương mục ngân hàng của bất cứ ai, và hàng trăm người gốc Ả Rập quốc tịch Mỹ đã là nạn nhân của biện pháp này.   Vậy phải chăng biện pháp An Ninh Nội Địa của Mỹ cũng nhằm biến nước Mỹ thành một cái nhà tù vĩ đại?

   Ông Ái ngồi ở Paris, chẳng biết gì về Việt Nam hiện nay, nặn óc ra những câu chống Cộng hết sức là vô duyên và ấu trĩ.  Tôi vẫn không hiểu tại sao mà vẫn còn có những quý Thầy tin tưởng vào khả năng chống Cộng của ông Ái.  Ông ấy nói bậy như vậy để cho ai nghe?  Và người nghe mà tin thì  thuộc loại người có đầu óc như thế nào.  Sau đây tôi cho ông Ái biết một số sự kiện về cái “nhà tù lớn miền Nam” trong đầu óc của ông để cho ông thấy cái luận điệu chống Cộng của ông nó lố bịch như thế nào.

1.   Cuối năm 2000, Tổng Thống Clinton đã đến thăm Việt Nam và đã đứng ngay dưới chân bức tượng Hồ Chí Minh nói chuyện với các sinh viên Việt Nam tại Đại Học Quốc Gia Hà Nội.  Trong bài nói chuyện này có vài đoạn như sau:

   Có quá nhiều hứa hẹn cho quốc gia đầy sinh khí trẻ trung này (60% dân chúng sinh ngay trước hoặc sau 1975. TCN) được đặt hi vọng trong các bạn.  Tôi được biết đại học này đã trao đổi sinh viên với gần 100 đại học khác, từ Canada, Pháp, cho đến Hàn Quốc – và hiện nay đang đón tiếp mười mấy sinh viên toàn thời gian của đại học kết nghĩa ở Hoa Kỳ, đại học California.”

   (So much of the promise of this youthful nation is embodied with you.  I learned that you have exchanges here with students from nearly 100 universities, from Canada to France to Korea – and that you are now hosting more than a dozen full-time students from your partner school in the United States, the University of California.)

   “Cuối cùng, nước Mỹ đã có thể nhìn Việt Nam, như dân Việt Nam đã từng đòi hỏi trong nhiều năm qua – như một quốc gia, không phải một cuộc chiến.  Một quốc gia với tỉ suất biết chữ cao nhất Đông Nam Á; một quốc gia mà giới trẻ vừa đoạt ba huy chương vàng trong cuộc tranh giải quốc tế về Toán học tại Hán Thành (Seoul); một quốc gia với những nhà kinh doanh nhiều năng khiếu và cần cù đã xuất hiện và nổi bật từ những năm tháng xung đột và bất ổn để định hình một tương lai sáng lạng.”

   (Finally, America is coming to see Vietnam as your people have asked for years – as a country, not a war.  A country with the highest literacy rate in Southeast Asia; a country whose young people just won three gold medals at the International Math Olympiad in Seoul; a country of gifted, hard-working entrepreneurs emerging from years of conflict and uncertainty to shape a bright future)

   Sau bài nói chuyện mà nội dung chính là hòa giải và kêu gọi Việt Nam ký Hiệp Ước Giao Thương, Tổng Thống Clinton đã vào Nam thăm “nhà tù lớn miền Nam” của ông Võ Văn Ái và ngồi ăn phở ở hiệu “Phở 2000” gần chợ Bến Thành.  Chỉ có điều, ông Clinton lại không thấy cái “nhà tù lớn miền Nam” vì khi về đến Mỹ ông không hề có một lời nào mô tả cái nhà tù này.

 2.  Mỗi năm có mấy trăm ngàn người Việt từ hải ngoại về thăm “nhà tù lớn miền Nam” này và tự do đi lại, tiếp xúc với bạn bè, bà con trong cái nhà tù lớn đó.  Họ thấy những tù nhân trong cái “nhà tù lớn miền Nam” đó hàng ngày tự do đi lễ nhà thờ và đến ngày 25 tháng 12 mỗi năm đổ xô ra đường đi lễ, đi liếc, chật cả đường phố xung quanh nhà thờ bà Maria gần Bưu Điện.  Họ thấy những tù nhân Phật tử trong cái “nhà tù lớn miền Nam” đó tự do đi lễ các chùa, thí dụ như Vĩnh Nghiêm, Xá Lợi, ngày thường cũng như những ngày Tết nhất.   Họ thấy các tù nhân trong cái “nhà tù lớn miền Nam” đó tự do xem TV, tự do xem hát, nhảy disco, nhậu nhẹt, tự do nghe đài BBC, VOA.  Họ thấy những tù nhân trong cái “nhà tù lớn miền Nam” đó tự do dùng máy điện toán, đọc tin tức trên Internet, và chuyển bài ra ngoại quốc.  Vì thấy những tù nhân trong cái “nhà tù lớn miền Nam” đó “sống khổ và không có tự do như trên” nên họ đã gửi về mỗi năm cả tỷ đô-la cho bà con thân thuộc để bà con vui chơi, xuất ngoại, gửi con cái ra ngoại quốc học.  Ông phải biết, nhiều người hái ra tiền ngày nay, có khả năng xuất ngoại du lịch, khả năng gửi con đi ngoại quốc học, không chỉ là những “cán bộ tham nhũng” mà còn là thành phần “ngụy” đấy.

   Ông Ái ngồi ở Paris tưởng tượng ra một cái “nhà tù lớn Miền Nam” trong khi hàng trăm ngàn người Việt hàng năm lại cứ muốn về sống trong cái nhà tù đó với bà con quyến thuộc, ít ra là một vài tuần lễ, chưa kể hàng trăm ngàn du khách ngoại quốc cũng đã đến hưởng những tiện nghi trong cái nhà tù lớn đó.  Ông Ái có biết là ông nói như vậy là ông đã mạ lỵ người dân miền Nam hay không?  Ông tưởng là nói ngoa như vậy thì có thể gây căm thù trong quần chúng  đối với Cộng Sản hay sao?  Ông quên mất một điều, quần chúng thông minh và lương thiện hơn ông nhiều, họ có thể nhận ra bộ mặt thật của ông rất dễ dàng qua những lời phát ngôn bừa bãi, bậy bạ của chính ông.

   Nhưng một câu hỏi được đặt ra là, tại sao ông Ái lại có thể nói lên một câu hoàn toàn sai sự thực và quá lố bịch như vậy.  Điều này không có gì là khó hiểu nếu chúng ta biết rõ thực chất của cơ quan cấp tiền cho “Quê Mẹ Paris”: NED.  Những tài liệu về NED trong phần cuối của bài này hi vọng sẽ làm sáng tỏ vấn đề.

Câu hỏi thứ hai của đài Chân Trời Mới là:

   “Xin Giáo sư  cho biết tổng kết các sinh hoạt quốc tế vận của Cơ sở Quê Mẹ, Ủy   ban Bảo vệ Quyền làm Người Việt Nam và Phòng Thông tin Phật giáo  Quốc tế cũng như sự quan tâm của dư luận thế giới đối với Việt Nam  trong năm Nhâm Ngọ 2002.”

   Để trả lời câu hỏi này, ông Ái đã đưa ra một số thành tích rất ngoạn mục nhưng chỉ có danh chứ không có thực, vì tình hình Việt Nam vẫn không có gì thay đổi, vì chứa nhiều gian dối và mâu thuẫn,   tuy ông đã cố gắng thổi phồng ảnh hưởng những công tác mà ông đã thực hiện được trong năm qua.  Ông Ái đã nổi tiếng ở Paris là một con người có khả năng “mồm miệng đỡ chân tay” nên tôi chẳng muốn bàn về những thành quả mà ông cho là ông đã đạt được, vì tôi không có cách nào kiểm chứng được những điều ông phô trương trong đó có bao nhiêu phần đúng, bao nhiêu phần xạo.  Ông đi nhiều nơi, dự nhiều hội nghị, được LHQ mời đến điều trần v..v.. Điểm chính trong những thành quả mà ông cho là có ảnh hưởng trên dư luận quốc tế để làm áp lực với chính quyền Việt Nam là đưa ra những tư liệu tố cáo những vi phạm nhân quyền và tự do tôn giáo ở Việt Nam.  Không biết là ở Việt Nam có bao nhiêu ngàn Tăng, Ni, và Linh Mục nhưng ông đã thành công vượt mức khi đưa ra được 3 tên là HT Thích Huyền Quang, HT Thích Quảng Độ, và LM Nguyễn Văn Lý, và trong số hơn 80 triệu người dân Việt Nam ông đưa ra được mấy tên như  Bác sĩ Nguyễn Đan Quế, ông Trương Văn Đức  (Hòa Hảo) hay các ông Hoàng Minh Chính, Phạm Quế Dương, Trần Khuê,   Phạm Hồng Sơn, Lê Chí Quang và một danh sách khoảng 80 sự kiện mà ông cho là vi phạm nhân quyền và tự do tôn giáo, số này cần được kiểm chứng về mức độ khả tín của chúng, và từ đó kết luận là Việt Nam vi phạm nhân quyền và không có tự do tôn giáo, chẳng cần quan tâm đến thế nào là tự do tôn giáo và lý do chính quyền Việt Nam quản chế hai vị HT Thích Huyền Quang và Thích Quảng Độ, cùng xử tù LM Nguyễn Văn Lý và bắt giam mấy nhân vật trên.  Ô⮧ cũng chẳng quan tâm đến sự kiện Mỹ là nước vi phạm nhân quyền hạng nhất. Tuy nhiên, trong phần trả lời của ông Ái cũng có vài chi tiết mà tôi thấy vui vui.  Thứ nhất, ông tố cáo là:

   “Nhà cầm quyền  Hà Nội ký kết tham gia "Công ước quốc tế về Các quyền Dân sự và  Chính trị" năm 1982. Theo đúng phép, thì mỗi 2 năm một lần Hà Nội phải  đến Genève phúc trình về sự áp dụng Công ước này tại Việt Nam. Thế  nhưng đây là lần thứ 2 từ 20 năm qua, Hà Nội mới đến phúc trình.”

    Tôi không rõ là có bao nhiêu nước ký vào cái Công Ước Quốc tế này, trong đó có Mỹ, Anh, Saudi Arabia, Iraq, Iran v..v.. hay không, và mấy năm một lần các nước đó phải đến Genève phúc trình về áp dụng Công Ước này ở nước họ?  Và tại sao Việt Nam lại phải 2 năm một lần đến LHQ phúc trình về tình hình nội bộ Việt Nam.  Nhưng câu “Thế  nhưng đây là lần thứ 2 từ 20 năm qua, Hà Nội mới đến phúc trình” chứng tỏ rằng Hà Nội chẳng coi cái Công Ước này ra cái gì và cũng chẳng ai làm gì được Hà Nội, nhiều nhất là cho vài tay sai khua chiêng khua trống chống đối ồn ào một chút cho qua chuyện.  Hà Nội muốn đến lúc nào thì đến, muốn phúc trình cái gì thì phúc trình, muốn quản chế ai thì vẫn cứ quản chế, muốn xét xử ai thì cứ xét xử, chẳng quan tâm đến vài tiếng nói bâng quơ bên đường.  Phái đoàn Quốc hội Âu Châu về điều tra tôn giáo tại Việt Nam, Hà Nội không cho gặp các HT Huyền Quang và Quảng Độ và LM Nguyễn Văn Lý, bảo các ông cứ đến các Chùa các nhà thờ mà điều tra tự do tôn giáo, những thành phần chống đối chính quyền, đòi giải thể chế độ, không đại diện cho bất cứ một tôn giáo nào.  Giáo hoàng Ca-Tô xin được thăm viếng giáo dân để khích động họ thêm mê tín, tuân phục Vatican, cũng bị nhà cầm quyền Việt Nam bác thẳng thừng.  Gần một tỷ tín đồ Ca-Tô, từ giáo hoàng trở xuống, có làm gì được Hà Nội không?  Vậy mấy cái tư liệu của ông Ái đưa ra thì có nghĩa lý gì với Hà Nội mà ông phải đem ra mà khoe khoang?  Mà ông lại còn phóng đại láo, thí dụ như trường hợp của Thượng Tọa Thích Trí Lực.  Ông nói:

   “Tháng 5, can thiệp cho 2 Thượng tọa  thuộc GHPGVNTN đến tị nạn ở Cam Bốt và đã được Cao ủy Tị nạn LHQ chấp  thuận. Chẳng may, sau đấy, Mật vụ cộng sản Việt Nam đã lén lút đến Nam Vang bắt cóc Thượng tọa Thích Trí Lực. Thượng tọa có nguy cơ bị thủ tiêu, nếu không là dẫn độ về Việt Nam.”

   Tài liệu của Human Rights Watch ở Mỹ cho biết: “Thượng tọa Thích Trí Lực chạy sang Cambod tháng 4, “mất tung tích” ở Nam Vang vào tháng 7, sau khi được Cao Ủy Tị Nạn LHQ ở Cambod chấp thuận cho quy chế tị nạn.  Cao Ủy Nhân Quyền LHQ và các tổ chức nhân quyền quốc tế đã biểu lộ sự quan tâm về sự an toàn của Thích trí Lực, e rằng đã bị cưỡng dẫn về Việt Nam và cầm tù”

   (Report 2002:  Venerable Thich Tri Luc, who fled to Cambodia in April, was “disappeared” from Phnom Penh in July, shortly after receiving refugee status from the UN High Commissioner for Refugees in Cambodia.  The UN High Commissioner for  Human Rights and international rights organizations expressed concerns about the safety of Thich Tri Luc who was feared to have been forcibly returned to Vietnam and imprisoned)

   Chúng ta nên biết, Human Rights Watch cũng như một số tổ chức Nhân Quyền khác đều nằm trong sách lược của Mỹ và được Mỹ tài trợ, trong đó có “Quê Mẹ Paris” như tôi sẽ chứng minh qua các tài liệu trong một phần sau.

   Ở đây tôi chỉ muốn nói rằng, Human Rights Watch cũng chỉ đoán mò về sự kiện “thất tung” của Thượng tọa Thích trí Lực chứ không có một bằng chứng quyết định nào.  Nhưng ông Võ Văn Ái thì khác, ông khẳng định là “Mật vụ cộng sản Việt Nam đã lén lút đến  Nam Vang bắt cóc Thượng tọa Thích Trí Lực”.   Điều rõ ràng là ông Ái đã lấy tin từ Human Rights Watch và thổi phồng sự việc từ một nghi vấn thành một khẳng định và tăng thêm cường độ vu khống: “Thượng tọa Thích trí Lực có thể bị thủ tiêu ngay trên đất Cambod.”  Sự lương thiện trí thức của ông Võ Văn Ái quả đáng để cho dân “Chống Cộng Chết Bỏ” ca ngợi.  

   Ngoài ra ông Võ Văn Ái còn tự phong mình làm đại biểu cho Việt Nam trong một Hội Nghị ở Hán Thành như sau:

   “Với tư cách đại biểu cho Việt Nam trong vị thế Chủ tịch Cơ sở  Quê Mẹ : Hành động cho Dân chủ Việt Nam, tôi được Ban tổ chức mời  thuyết trình 2 đề tài ...”

   Chủ tịch Cơ sở “Quê Mẹ Paris” thì có tư cách gì mà dám tự nhận là đại biểu cho Việt Nam?  Bao nhiêu người dân trong nước biết đến “Quê Mẹ Paris”?   Bao nhiêu người Việt di cư biết đến “Quê Mẹ Paris”?  “Quê Mẹ Paris” sống bằng phân (fund) của Mỹ, có tư cách gì làm đại biểu cho Việt Nam?  Thật là lộng ngôn hết chỗ nói.  Nói mà không đỏ mặt, không ngượng miệng.  Ở ngoại quốc có cả trăm tổ chức hoạt động cho dân chủ Việt Nam.   Tổ chức nào là đại biểu cho Việt Nam?

   Câu hỏi cuối cùng của đài Chân Trời Mới như sau:

   “Xin Giáo sư có đôi lời tâm tình và chúc Tết đồng bào quốc nội.”

   Ông Ái trả lời:

   “Xin kính  chúc Đồng bào một năm An lành, Hạnh phúc, Ấm no. Tôi cũng xin ngỏ   lời cầu chúc các nhà lãnh đạo tôn giáo, các nhà đấu tranh cho nhân  quyền, dân chủ một Năm Mới thu đạt nhiều thắng lợi cho sự vinh quang  của dân tộc.”

   Chúng ta thấy rằng cả người đi phỏng vấn lẫn người được phỏng vấn đều hơi ... ngu, tôi xin lỗi quý độc giả vì không tìm được danh từ nào thích hợp hơn, ở trong câu hỏi và trong câu trả lời.  Tại sao?  Vì ông Võ Văn Ái không có tư cách gì để chúc tết đồng bào quốc nội.  Đồng bào quốc nội hầu như không có mấy người biết đến, hoặc đã nghe đến tên ông Võ Văn Ái.  Trong Bản Thông Điệp của HT Huyền Quang, Ngài cũng chỉ có thể chúc Tết chư liệt vị Hòa  thượng, Thượng tọa, Đại đức Tăng Ni, nam nữ Cư sĩ Phật tử trong và ngoài nước. Trong một xã hội đa tôn giáo như Việt Nam, Ngài là một lãnh tụ Phật Giáo nên Ngài chỉ có thể chúc tết các Phật Tử, không ngu xuẩn và láo xược như Công Giáo trước đây, mang cả nước Việt Nam hiến dâng cho một người đàn bà Do Thái tên là Maria.

   Chúc Tết đồng bào là nhiệm vụ của bậc nguyên thủ quốc gia.  Các bậc lãnh đạo tôn giáo, nhân danh là những vị lãnh đạo tinh thần của tín đồ chỉ có thể chúc Tết tín đồ trong tôn giáo của mình, vì một lẽ rất giản dị là vị thế và uy tín của họ chỉ có trong tôn giáo của họ mà thôi.

Những xướng ngôn viên đài phát thanh, đài truyền hình cũng chỉ có thể chúc Tết quý vị khán, thính giả mà thôi.   Ông Ái lấy tư cách gì, dựa vào uy tín nào, để mà chúc Tết “đồng bào”?  Đồng bào nào cần đến câu chúc Tết của ông?   Không biết thân biết phận mình chỉ là một người mà ít ai quan tâm đến, khoan kể là những người biết rõ tư cách của mình thì lại coi thường khinh khi, thế mà dám lên mặt chúc tết đồng bào.  Nếu ông muốn lấy lòng đồng bào trong nước thì ông chỉ có thể nói “Tôi xin cầu nguyện cho đồng bào trong nước được ...” chứ không thể “chúc Tết” đồng bào trong nước.

III.  Màn Hài Kịch Thay Cho Đoạn Kết.

   Có một câu hỏi quan trọng mà đài Chân trời Mới không hỏi.  Tôi nghĩ để cho bài phỏng vấn được đầy đủ, sau đây là đoạn kết của cuộc phỏng vấn do tôi tưởng tượng nhưng những dữ kiện xung quanh đoạn kết này không có nghĩa là xa với sự thực.  Tôi xin nhắc lại, đây chỉ là một màn hài kịch mà tôi tưởng tượng, trong đó chỉ có 98% là đúng mà thôi:

   Chân Trời Mới:  Giáo sư đã nêu khá nhiều thành tích chống Cộng qua sự tham dự nhiều hội nghị quốc tế ở nhiều nơi trên thế giới về nhân quyền và qua những bài thuyết trình với đầy đủ tư liệu. Trong phần phỏng vấn cô Ỷ Lan, cổ có cho biết: “Hầu hết các hoạt động trong năm 2002, mà giáo sư Võ Văn Ái trình bày với   quý Đài, thì tôi đều có mặt và chứng kiến.”   Điều này chứng tỏ, đi đâu Giáo sư cũng mang “thứ phi Ỷ Lan” đi theo. Xin giáo sư cho thính giả đài chúng tôi biết những nguồn tài chánh nào đã đài thọ những phí tổn di chuyển của giáo sư và “thứ phi Ỷ Lan” cùng xuất xứ của những tư liệu mà giáo sư trình bày trong các hội nghị.

   Võ Văn Ái:  Trước đây ông Nguyễn Sĩ Tiến có hỏi một câu tương tự trong một cuộc phỏng vấn và tôi đã trả lời:  Tôi cũng như tất cả các bằng hữu điều hành cơ sở Quê Mẹ (Paris), Ủy Ban Bảo Vệ Quyền Làm Người Việt Nam, đều thiện nguyện, không ai có đồng lương nào.  Chúng tôi lao động sinh sống nuôi thân như mọi người...Tiền túi đổ ra hoạt động thì có, và thường xuyên, làm chi có lương.”  Tôi nghĩ rằng câu trả lời trên của tôi ngày nay vẫn còn giá trị.  Tôi khổ lắm, suốt ngày lao động tốt để kiếm tiền rồi bỏ tiền túi ra hoạt động tranh đấu cho nhân quyền và tự do tôn giáo trong cái “nhà tù lớn miền Nam”.  Tôi chỉ có thể nói thế, vì nguồn tài chánh thực sự và xuất xứ các tư liệu thì tôi không thể tiết lộ, vì đó là bí mật nghề nghiệp, nếu tiết lộ thì cũng giống như CIA tiết lộ các hoạt động của mình.

   Tôi có “người bạn thân” là giáo sư Trần Chung Ngọc. Ông ấy rất chịu khó nghiên cứu nên biết rõ về tôi hơn chính tôi biết về tôi, bởi vì mỗi buổi sáng soi gương đánh răng rửa mặt tôi lại thấy một khuôn mặt khác trong gương. Để tránh cho tôi khỏi rắc rối trong việc xin phân (fund) của NED sau này, xin quý đài hãy phỏng vấn giáo sư Ngọc, ông ta có thể trả lời mà không sợ rắc rối chứ tôi thì không”

  Chân Trời Mới (TCM):  “A-Lô! Đây là đài Chân trời Mới.  Chúng tôi xin được nói chuyện với giáo sư Trần Chung Ngọc.”

   Trần Chung Ngọc (TCN):  Chính tôi đây. Nhưng Chân Trời Mới là cái gì vậy?   Chân Trời thay đổi từng giây từng phút vì chuyển động của trái đất xung quanh mặt trời và quay xung quanh chính trục của trái đất, vậy làm gì có Chân Trời Mới Hay Cũ?  Nhưng thôi được, CTM muốn nói chuyện gì?

   TCM:  Giáo sư Võ Văn Ái đề nghị đài chúng tôi tìm câu trả lời nơi giáo sư về câu hỏi chúng tôi hỏi giáo sư Ái. (CTM nhắc lại câu hỏi và câu trả lời của giáo sư Ái).  Giáo sư có thể soi sáng cho CTM về vấn đề này không?

   TCN:  Giáo sư Ái không tiết lộ là ông ta đã lao động tốt như thế nào, ở đâu, và lương lậu bao nhiêu, dùng bao nhiêu phần trăm cho công việc “vác ngà voi” của ông v..v.. nên tôi cũng đành chịu, không thể soi sáng điểm này.

   Nhưng về mấy điểm khác thì tôi có vài tài liệu, tuy không đầy đủ.

   Thứ nhất, chúng ta biết rằng “Quê Mẹ Paris” đã lãnh của National Endowment for Democracy (NED) năm 1997 $90000, năm 1998 $95000, năm 2001 $70000 [xin đọc tài liệu trong www.ned.org ].  Tôi không có con số cho những năm khác.  Tuy nhiên, tôi không biết ông Ái đã dùng phân (fund) của NED để làm gì.  Chúng ta hãy cứ tin là tất cả những hoạt động của ông Ái và “thứ phi Ỷ Lan” đều do ông ấy bỏ tiền túi ra cả, tiền mồ hôi nước mắt do ông ấy lao động tốt kiếm ra, như ông ấy đã khẳng định.  Chúng ta không nên nghi ngờ “thiện tâm” và “tịnh tài” của ông Ái.

   Thứ nhì, có lẽ quý đài muốn biết NED là cái gì và tại sao lại tài trợ “Quê Mẹ Paris”, và tài trợ “Quê Mẹ Paris” để thực hiện những mục đích gì.

   Trong cuộc phỏng vấn của Nguyễn Sĩ Tiến trước đây, ông Võ Văn Ái cho chúng ta biết: “NED là một tổ chức công khai, do Quốc Hội Hoa Kỳ tài trợ và kiểm soát.  Ông ở bên ấy phải biết Quốc Hội Hoa Kỳ không là CIA.  Tổ chức này làm việc minh bạch và thông suốt.”

   Chúng ta hãy tìm hiểu xem tổ chức này làm việc minh bạch và thông suốt như thế nào, và có dính dáng gì tới CIA hay không?  Trước đây tôi chỉ biết NED là “một cơ quan Mỹ chuyên chi tiền cho những tổ chức tay sai để tranh đấu cho nhân quyền và dân chủ theo quan niệm của Mỹ”.  Về sau tôi biết, trong quỹ của NED có một phần tiền của tôi đóng thuế, vì thế tôi xót ruột, nên tìm hiểu thêm về NED.  Những tài liệu sau đây là tôi lấy từ Internet ra.  CTM có thể kiểm chứng dễ dàng trong Internet.  Chỉ cần vào MSN hay Yahoo, đánh chữ NED vào chỗ Search là nó hiện ra tạm đủ những gì chúng ta muốn biết về NED.

   Nói ngắn gọn, NED là một tổ chức của Mỹ, thành lập vào năm 1983, trong thời Reagan, thời mà CIA đang bị điều tra về nhiều vụ nham nhở ở ngoại quốc.  Những hoạt động của NED không khác những hoạt động của CIA mấy, nhưng được ngụy trang đàng sau những mỹ danh như tranh đấu cho Dân Chủ và là một tổ chức do “tư nhân tài trợ”.  Vài tài liệu sau đây sẽ cho chúng ta thấy rõ vấn đề.

1.    Trong bài “CIA’s War Against China”, Ralph McGehee, một cựu nhân viên CIA, viết:

   “Những quan sát viên v