curley_sw_03.gif (1967 bytes)  Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw_03.gif (1967 bytes)

.......... .
 

Văn Miếu Xích Đằng: Trung tâm huấn luyện Sư Sãi và cán bộ cách mạng ở Hưng Yên 

     Trần thị Minh Châu nguyên là Bí thư Ban Cán sự tỉnh Hưng yên năm 1943, cũng là người quê ở Hưng Yên. Trong thời gian hoạt động ở đây, bà đã xây dựng nhiều cơ sở trong các chùa, gắn bó với những Tăng Ni Phật tử trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm ác liệt. Tập hồi ký “Nhà Chùa với Cách Mạng” do Sở Văn hóa Thông tin Hưng Yên ấn hành năm 2000 đã ghi nhận những đóng góp của giới Phật tử Hưng Yên trong thời kỳ trước Cách mạng Tháng Tám và trong hai cuộc kháng chiến của dân tộc. – Tạp chí Xưa & Nay, số 91, Hội Khoa học và Lịch sử Việt Nam  phát hành vào tháng 5 năm 2001.

vm-hanoi.JPG (77307 bytes)
Một biểu tượng của văn hóa dựng nước và giữ nước: Văn miếu Hà Nội

     nước ta, Văn Miếu còn lại không nhiều. Văn Miếu Xích Đằng của Hưng Yên có thể nói là đứng đầu các hàng tỉnh. Theo bài khắc trên chuông thì từ năm 1804 ở đây đã có Văn Miếu, nhưng phải đến năm 1839 Văn Miếu mới được xây dựng rất to đẹp và tồn tại đến ngày nay. Văn Miếu thờ Đức Khổng Tử, người được mệnh danh là “Vạn thế Sư biểu”, nghĩa là người thầy tiêu biểu của muôn đời, cùng các chư hiền của Nho giáo. Trải rộng trên diện tích bốn ngàn mét vuông, qua nhiều thăng trầm của năm tháng, tuy bị hư hại nhiều nhưng Văn Miếu vẫn giữ được những hạng mục công trình chính.

     Tam quan cao 13 mét, có gác lên lầu bao quát được cả một vùng ven sông Hồng, kiến trúc bề thế mang dáng dấp cổng Văn Miếu – Quốc Tử Giám Hà Nội. Bên trong là khoảng sân rộng, nơi khảo hạch các thí sinh thi Hương. Hai bên có hai dãy nhà dài gọi là Tả vu và Hữu vu, nơi để kiệu, nơi các quan thay mũ áo mỗi kỳ tế lễ. Cạnh đó là lầu chuông, lầu khánh. Chuông lớn cáo 1.5 mét trên có đúc chữ nổi “Kim Chung Văn Miếu”, khánh đá dài 1.90 mét.

Gian đại bái thờ Khổng Tử, có phần thờ Phật. Cạnh Văn Miếu có hai tháp đá là Phương Trượng tháp và Tĩnh Mạn pháp. Tương truyền đây là đất chùa, xây dựng lớn hàng trăm gian với 36 nóc uy nghi, đồ xộ, khách thập phương đến lễ bái, vãn cảnh phải rắc trấu để biết lối ra tựa như mê cung. Trong gian đại bái có dựng 9 bia khắc tên các vị đại khoa từ tiến sĩ trở lên gồm 161 vị ở các địa phương Khoái Châu, Kim Động, Ân Thi, Phù Cừ, Tiên Lữ, Hưng Nhân, Duyên Hà, Thần Khê (Tiên Hưng) thuộc cáctrieù đại từ Trần, Mạc, Lê đến Nguyễn. Hàng năm, vào hai kỳ Xuân và Thu, Văn Miếu đều có quốc tế. Chủ tế là quan đầu tỉnh cùng các chức sắc nho sinh đãqua cửa Khổng sân Trình.

     Sư cụ trụ trì ở đây có một nhóm đệ tử trẻ tuổi, thông chữ Hán, hàng ngày ngồi sao chép, in các sách kinh bằng chữ Nho và chữ Quốc ngữ cung cấp cho các chùa khác trong vùng. Văn Miếu cũng là một khu trường, hàng năm đều có mở các khóa Hạ, tức các khóa học cho các sư trong và ngoài tỉnh, mỗi khóa từ 1 đến 3 tháng. Các sư muốn được thăng cấp bậc từ tiểu đến dư bác, sư thầy, sư cụ đều phải qua Hạ.

     Thời ấy, Sư cụ trụ trì đã gần 60 tuổi nhưng rất thông minh nhanh nhẹn. Sư cụ buộc các cán bộ về chùa phải đóng vai sư thầy, sư bác, tiểu, nghĩa là phải ăn mặc quần áo nhà chùa, đi đứng nói năng như các sư khác, trừ ông Hương (đồng chí Hoàng Quốc Việt) được đóng vai ông Từ mặc áo the dài, đội khăn xếp, che ô đen, tay đeo gói đồ cúng tế bọc vải đỏ.

     Văn Miếu ở gần thị xã nên cán bộ cách mạng không thể ra vào nhiều như các chùa khác. Số cán bộ về đây là để ngồi lỳ trong phòng nghiên cứu chủ trương, viết báo cáo, lo công tác chỉ đạo, viết báo. Do vậy, chỉ một số cán bộ Xứ ủy, Tỉnh ủy mới ra vào nơi đây. Sư cụ là người giỏi Nho hoc, uyên thâm về đạo Phật, không những có uy tín đối với dân trong vùng, với các chùa trong tỉnh mà còn được các quan đầu tỉnh kính nể, bọn tổng lý trong vùng thì sợ sư cụ một phép.

     Nhờ có vỏ bọc tốt ấy, sau mỗi lần lớp học kết thúc, không khí nhà chùa lại vắng vẻ tĩnh lặng. Sư cụ nhàn rỗi lại mời ông Hương lên nhà tổ uống nước. hai người đàm đạo về triết lý đạo Phật. Trung tâm đạo Phật là thuyết Luân Hồi, nghĩa là vạn vật đã vào vòng sinh tử thời cứ sống đi chết lại mãi mãi không cùng. Nhưng những đời đời kiếp kiếp ấy lại là nhân quả lẫn cho nhau, các việc xảy ra ở đời nầy là sự thưởng hay sự phạt những việc đã xảy ra trong kiếp trước và là nguyên nhân mầm mống những việc sẽ xảy ra về kiếp sau. Phật gọi là nghiệp báo. Con người sống trong trời đất đều chìm đắm trong bể khổ. Phật dạy con người phải từ bi hỉ xả quên mình cứu vớt chúng sinh ra khỏi bể khổ ấy. Người tu hành phải chịu đựng khổ hạnh, hàng ngày tụng kinh niệm Phật để tự rèn mình không làm ác mới cứu vớt được người đòi. Vậy người đi tu không phải là xuất thế mà là nhập thế.

     Ông Hương cũng đã khéo léo lồng chủ nghĩa yêu nước thương dân của cách mạng vào trong câu chuyện. Người đi theo chủ nghĩa nầy cũng phải chịu gian nan cực khổ, kể cả đòn tra tấn, thậm chí tử hình để mưu cầu hạnh phúc cho dân. Muốn vậy phải tuyên truyền giác ngộ quần chúng đoàn kết cùng nhau đánh đổ kẻ ác là bọn Pháp, bọn phát xít Nhật và be lũ tay sai phong kiến, thoát cảnh đói nghèo, ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Lý tưởng ấy thật là cao cả. Đó cũng là ý nguyện của Đức Phật từ bi.

     Sư cụ hiền từ đã từng nói: “Chính vì lẽ đó mà nhà chùa và tôi đã ủng hộ các ông đi làm cách mạng. Chúng tôi cũng hiểu phải làm cách mạng mới triệt để loại bỏ kẻ xấu mang lại ấm no hạnh phúc cho nhân dân. Chỉ cần chúng ta giữ bí mật để làm việc lâu dài, ít tổn thất”.

     Một hôm vào lúc xẩm tối, tôi đến bên hồ cạnh chùa rũ tóc định gội đầu. Hồ nầy nguyên là cái ao được tu sửa, xây gạch chung quanh, dưới thả sen nên về mùa hạ nước trong mát, hương thơm ngào ngạt. Tôi mặc áo nhà chùa, đóng vai tiểu, mớ tóc đen dài phải quấn chặt bịt cái khăn nâu phủ kín tận gáy. Cũng tưởng gần tối rồi không ai đến, nào ngờ bọn tay sai và mật thám tỉnh ập vào nên không kịp chạy trốn, cứ để tóc xõa chạy vào chùa.

     Bọn chức dịch ra lệnh tập họp các sư lại và mời sư cụ ra. Chúng xin phép sư cụ đọc lệnh của nhà nước, mời tất cả các sư về tỉnh trình diện.

Sư cụ vẫn bình tĩnh nhẹ nhàng nói: “A di đà Phật ! Có lệnh thì nhà chùa xin chấp lệnh ...” Mọi người nhìn nhau lo lắng vì nếu sư cụ đồng ý, các sư đi hết thì nguy cho tôi vì tôi là cán bộ đang bị truy nã. Tôi mà bị bắt thì sẽ lộ tung tích, tổn hại chưa lường hết mà nhà chùa cũng bị vạ lây. Sư cụ vẫn thong thả tiếp lời “... Nhưng trong chùa chúng tôi có một cô gái nầy. Cô ấy là cháu ngoại tôi, con một gia đình ở làng bên, cha mẹ bắt gả làm lẽ cho ông tổng. Cô ấy không bằng lòng, bỏ nhà đến đây đi tu nhưng thấy cô ấy còn ít tuổi lại có nhan sắc nên nhà chùa chưa cho thí phát (cắt tóc, cạo trọc đầu). Cô ấy thích mặc quần áo nhà chùa nhưng chưa phải là sư nên không ở trong số lên trình diện. Tôi mong các vị chức sắc cho cô ấy ở lại chùa để trông nom chùa khỏi bị trẻ con đến quấy phá”.

Bọn mật thám được tin báo là có sư cọng sản lẩn lút trong chùa cho nên chúng mới có lệnh bắt tất cả các sư để tra xét. Thấy sư cụ trình bày có lý, chúng không ngờ cọng sản đâu phải là con gái nên nể lời sư cụ đồng ý cho cô gái ở lại chùa. Khi bọn chúng cùng các nhà sư kéo ra khỏi chùa, anh em quần chúng cách mạng quanh vùng theo dõi thấy không có tôi, mừng quá liền chạy vào chùa lôi tôi đi sang cơ sở khác.

     Sau vụ ấy, chúng tôi xin lỗi sư cụ đã quấy phá sự yên tĩnh của nhà chùa, nhưng chúng tôi cũng phải rút kinh nghiệm giữ bí mật hơn, phải vài tháng sau mới có cán bộ quay trở lại. Giữa năm 1953, sư cụ lại cho Ban Cán sự tỉnh mở lớp học chính trị về chương trình, điều lệ của Việt Minh, học 5 bước công tác của cách mạng. Lớp học ăn ở ngay trong chùa, cấm đi lại, ra vào để giữ bí mật tuyệt đối.

     Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Văn Miếu là nơi mở các lớp Bình dân học vụ thanh toán nạn mù chữ, đặt một số bộ phận sản xuất của nhà máy cơ khí 1-5 trên tỉnh sơ tán về. Hết chiến tranh, nơi đây lại là cơ sở dệt thảm xuất khẩu của hợp tác xã tôn Xích Đằng.

Văn Miếu Xích Đằng là biểu tượng văn hiến của đất Hưng Yên, là khu trường học của tỉnh đào tạo nhân tài cho đất nước, đào tạo Tăng Ni và trước Cách mạng Tháng Tám là nơi mở lớp học đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cách mạng. Sự xuống cấp của Văn Miếu đã được nhà nước ta quan tâm đến, có kế hoạch từng bước trùng tu lại di tích văn hóa đáng trân trọng nầy.

Trần thị Minh Châu

  

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........