curley_sw_03.gif (1967 bytes)  Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw_03.gif (1967 bytes)

.......... .
 

Những Tội Ác của Giáo hội Gia Tô La Mã

  • Trần Thượng Thủ

(Bài này được đăng lên theo yêu cầu của một nhóm độc giả ở Thụy Sĩ. Gđ.)
Trích từ Việt Nam Nhật báo – San Jose, California ngày 04.01.2003

Thượng đế ơi! Đã có lắm tội ác tày trời mà người trần tục phạm phải chỉ vì họ nhân danh Ngài! Chính Giáo hội Thiên Chúa La Mã cũng đã thanh thản tự tại viết nên mấy trang đen tối nhứt của lịch sử nhân loại, châm lửa cho biết bao giàn hỏa, chung cất tôi luyện nỗi hận thù tại nơi mà người ta trông đợi tình thương. Và Giáo hội lại cũng thường thủ khẩu như bình trong trường hợp phải cực lực gióng lên tiếng quát phản đối quyết liệt. Xuống địa ngục.

Yêu thương đồng loại như chính mình....Rõ ràng không ngoa khi bảo rằng Giáo hội La Mã trong quá khứ suốt gần tròn hai thiên niên kỷ chẳng những không biết đến mà lại còn vi phạm trầm trọng điều giới luật nầy trong Thánh Kinh, dẫu cho chưa bao giờ Giáo hội tự mình đã viết nên những trang đẫm máu của giáo sử. Bởi có sự tiếp tay rất đắc lực của những vua chúa, những vương hầu khanh tướng không hề bị vướng víu ngượng nghịu sử dụng tấm phủ luật pháp để che đậy kỹ càng những tham vọng vô biên cực kỳ bỉ ổi của mình. Khi những kẻ quyền cao chức trọng có ý định hành động nhân danh Thượng Đế thì đối với họ chẳng có chuyện gì là bất khả thi, ngay cả mọi hành động tàn bạo man rợ phi nhân. Có phải đây là lý do để cho các đấng Thánh cha, Hồng y, và Giám mục đánh chữ làm thinh chăng? Nay thử khui ra bốn loại hồ sơ kinh khủng dưới đây:

1. Khi tín đồ đạo Thiên Chúa khích động lòng căm thù người Do Thái

Giữa người Do Thái và người đạo Thiên Chúa, cả hai dòng cùng chung một gia tộc của Thánh kinh đã chấp nhận Cựu Kinh Ước là thánh kinh thiêng liêng của mình, thế mà giọng phẫn nộ lại lên cao nhanh chóng. Sự tan vỡ nào phải xảy ra một sớm một thiều đâu, và với lý do: Đạo Thiên Chúa phát sanh từ một giáo phái Do thái. Chính ngay bản thân Jesus Christ là người Do Thái lúc giáng sanh cũng như khi qui Thiên Đàng. Nhưng ai đã cho đóng đinh Chúa lên thập tự giá? Người La Mã, cường quốc đang chiếm đóng vùng Judée? hay người Do Thái? Ngay từ lúc biên soạn Phúc Âm, vào khoảng năm 80, vấn đề dường như đã quyết định. Thánh Jean đã dùng một ngôn từ khái quát là “Do Thái“ để chỉ định tất cả những ai đã chống đối Jesus và lời truyền đạt của Người. Qua đoạn văn, lời thánh truyền nầy nào có các cội nguồn Do Thái... Xét dưới mọi khía cạnh, lên án người La Mã là bọn giết hại người trong khi họ chỉ đạo một Đế quốc đang hưng thịnh thì nhất định là việc thiếu thông minh. Do đó, cáo buộc người Do Thái thì hành động khôn khéo hơn. Cái từ ngữ “dân tộc giết Chúa sẽ gặt hái một thành công... khủng khiếp. Thế kỷ IX, Jean Chrysostome, người Cha chánh thức của Giáo hội, đã để thoát ra từ đôi môi mình một nọc độc mang tính chất chống Do Thái. Đối với ông, người Do Thái là kẻ “giết Chúa, thù ghét Thượng Đế, bọn quỉ quái thật sự, kẻ đầu trộm đuôi cướp nham hiểm, bọn phá hoại; lũ trụy lạc bê tha, đồng loại với hoài heo cúi”.

Được sáp nhập vào thế giới phương Tây được sao hay vậy, người Do Thái nhận thấy thân phận của mình thật sự “xuống cấp” khởi từ thế kỷ XII, trong giai đoạn Hạ trung Cổ (khoảng 1000 - 1453, người Thổ Nhĩ Kỳ chiếm đóng Constantinople). Đây là thời kỳ phát triển tinh thần thập tự chinh không có mặt trong tình hữu nghị giữa các dân tộc của “tứ hải giai huynh đệ”, Người Do Thái nào khước từ qui theo đạo Thiên Chúa trong khi đoàn thập tự quân kéo ngang qua trên lộ trình tiến về Thánh địa, đều bị sát hại tại Rouen (Pháp), Worms và Mayence/Mainz (Đức). Năm 1215, Tòa Thánh còn làm cho sự khác biệt giữa người Thiên Chúa giáo và Do Thái càng thêm trầm trọng. Ban hành nghiêm lịnh thiết lập những ghettos - phường cư ngụ dành riêng cho người Do Thái - cấm việc hôn nhân hỗn hợp và bắt buộc họ kết ở trước ngực một dấu hiệu hình vành khăn màu vàng, trông tựa như một vành xe nhỏ, lên y phục của họ. Có phải đây là tổ tiên của cái ngôi sao màu vàng, áp đặt bởi bọn quốc xã Đức? Về hình thức, đúng vậy, nhưng về nội dung thì không phải thế: lũ quốc xã tìm cách tiêu diệt người Do Thái, đây không bao giờ là một dự án của Giáo hội La Mã. Giáo hội chỉ cốt làm câm thù họ thôi, bị xem là hạng người sát hại trẻ con và là người làm uế tạp những vật tế không còn tánh chất thiêng liêng, họ không còn cái quyền xuất hiện trước công chúng vào dịp lễ Phục Sinh, ngồi chung cùng bàn ăn hoặc tắm rửa chung đụng với người đạo Thiên Chúa, có vú nuôi là người Ky Tô Giáo.

Năm 1248, Tòa án xử dị giáo/Inquisition bắt đầu mở rộng tấm màn đen tối của mình. Nhìn kỹ xem quyền Talmud, một quyển kinh thiêng liêng của đạo Do Thái/judsdaismc, có được loan truyền như là lời bổ báng chống Christ hay không? Giáo Hoàng Innocent IV dõng dạc phán quyết “Đúng thế! Phải nghiên cấm lưu hành xú thư này”. Vua Pháp Louis IX, còn được tôn vinh sau đó làm “Saint Louis”, cho thiêu rụi 24 xe bò chở đầy những bản chép tay kinh Talmud vào khoảng năm 1242. Căn cứ vào giá cả những sách trước phát minh máy in của Gutenberg, đây quả là vàng đang cháy phừng!

Sau sách là đến phiên người: năm 1310, pháp đình xử dị giáo/Inquisition cho dựng giàn hỏa đầu tiên của mình cho người Do Thái tại Paris. Vào cuối thế kỷ, những ai bị cáo giác từ rày về sau về đủ thứ tai họa (bỏ thuốc độc xuống giếng, khủng hoảng kinh tế, dịch hạch...) đều thẳng thừng bị tống xuất ra khỏi vương quốc Pháp.

Nếu có một số người Do Thái tin tưởng tìm được nơi dung thân ở Tây Ban Nha thì thời gian xả hơi nầy cũng phù du. Năm 1391 tại Séville, những tay hô hào nổi dậy được một giảng thuyết khích động, liền tấn công những khu người Do Thái, sát hại không gớm tay hoặc bắt buộc họ phải qui đạo. Chỉ mới là màn giáo đầu thôi. Không những Tây Ban Nha không đương cự lại lòng hận thù chống Do Thái đang càn quét Âu Châu mà lại còn đưa nó lên tột đỉnh với Inquisition.

Năm 1449: các vua Tây Ban Nha ban bố những chỉ dụ Tolède về sự “tinh khiết của dòng máu”. Lần đầu tiên, chủ nghĩa bài Do Thái bị choàng một cách dị hợm cái tiêu chuẩn sinh học. Người ta là tín đồ Thiên Chúa giáo là do có mang dòng máu tiền định! Kết luận: công cuộc qui đạo của người Do Thái chẳng còn có tác dụng đáng kể. Họ đã hoài công bỏ đạo của tổ tiên mà qui vào đạo Thiên Chúa vì người ta nghi ngờ họ vẫn giữ đạo một cách bí mật. Chính vì bị gán cho là tín đồ Thiên Chúa giáo giả dối và như vậy họ phải là dị giáo nên đương nhiên bị lôi ra đứng ở vành móng ngựa của Inquisition. Năm 1448, các cộng đồng người Do Thái đã chánh thức được qui đạo bèn kệu cứu đức Giáo Hoàng song hoài công. Những công việc bần tiện của Giáo hội, tính đến hàng ngàn, đều là đẩy người Do Thái vào cửa tử. Năm 1492 - năm Christophe Colomb phát kiến Tân Thế Giới - đi đến giai đoạn cuối cùng của chứng ám ảnh về sự “thuần khiết”, giáo hội được vương triều cho phép tống xuất tất cả người Do Thái ra khỏi Tây Ban Nha. Ở xứ Bồ Đào Nha láng giềng, vẫn khúc nhạc thảm thê ấy được trổi lên rợn người dưới ánh lửa phừng phừng của các giàn hỏa.

Ngọn triều chống Do Thái của người Thiên Chúa giáo giảm đi cường độ cùng lúc với uy quyền trực tiếp của đức Giáo Hoàng suy kém dần trước thanh thế của các quốc gia nắm giữ thế quyền. Cái thế kỷ ánh sáng (thế kỷ XVIII) kết thúc bằng cuộc giải phóng người Do Thái. Các khu ghettos, những sự kỳ thị đều bị dẹp bỏ. Những cái trào lưu nầy nào ngăn cấm được sự gìn giữ lòng thù ghét người Do Thái trong nhiều giới Thiên Chúa giáo.

Thế Chiến Thứ Hai: công cuộc tiêu diệt có kế hoạch người Do Thái do đảng Quốc xã Đức chủ trương, khi hòa bình được tái lập khiến cho người Thiên Chúa Giáo cần xem lại bản sao chép của mình và chà rửa những nghi thức lễ bái tụng niệm của mình cho sạch những mầm mống bài Do thái. Tòa Thánh La Mã muốn chú tâm làm cho Hitler phải nói láo khi hắn viết lời bày tỏ lòng cảm phục thuở đó nhưng nay lại làm cho lúng túng như sau: “Từ một ngàn năm trăm năm qua, Giáo hội La Mã đã xem người Do Thái như là những ký sinh trùng và đã tập trung chúng lại trong những ghettos. Giáo hội biết dân Do Thái có giá trị đích thật gì. Tôi đem sự đóng góp của mình vào những gì đã được thực hiện từ một ngàn năm trăm năm nay”. Những tiểu ban nghiên cứu vấn đề Do Thái - Thiên Chúa Giáo được thành lập và, vào đầu thập niên 60, Công đồng Vatican II sau cùng tuyên bố một vụ miễn tố trong vấn đề Người bị đóng đinh trên thập tự giá ở Jérusalem: Người Do Thái không còn là những kẻ giết Chúa nữa.

2. Việc thảm sát người Cathares

Từ Cathares là danh xưng chỉ tín đồ của một giáo phái thuộc tôn giáo do Mani hay Manès (216 - 277) sáng lập, lan truyền hồi thời Trung cổ chẳng hạn ở miền tây nam nước Pháp; đồng nghĩa với từ Albigeois.

Chính người Cathares tự xưng mình là những thiện nam/Bonshommes (đối với đàn ông) hay những thiện nữ/Bonnesfemmes. Thiện bởi vì họ xác tín rằng họ mang trong người họ điều lành/Thiện, cái Thánh linh/Esprit-Saint. Người Cathares, hay “thuần khiết”/pur đã lập ra, trong thế kỷ XI, tại miền nam nước Pháp, thật sự một Giáo hội mới. Họ không ham chuộng chiếc áo choàng lễ dệt bằng chỉ vàng, nhưng sở thích sự nghèo nàn thanh bạch. Một thái độ khiêm nhường khiến họ gặt hái thành công trong việc hoằng dương giáo pháp . Nhưng Giáo hội nầy còn có nhiều yếu tố thắng lợi khác. Trước hết, đạo mới nầy giải trừ ở tín đồ nỗi lo sợ triền miên về sự đày xuống ở vĩnh viễn tại địa ngục, xung khắc với cái thánh thiện vô biên. Thật chẳng khác nào núi Thái Sơn, bấy lâu đè trên tâm hồn của người thiện tâm, nay được cất đi mất trong một thời kỳ mà dân chúng bị ám ảnh bởi những cảnh tượng bị gán cho là phạm tội phải đưa đến lò quay thường trực. Một điểm khác giải thích sự thành công của người Cathares: người Thiện nam không chút tin tưởng gì đến cái tội nguyên lai (tội tổ tông: péché originel) đã qui cho phái nữ - nền tảng của tư tưởng khinh nữ trong Thánh Kinh - người nữ phạm tội đầu tiên lúc sáng thế. Được giải phóng khỏi cái tội của Ève, nữ phái được quyền gia nhập tổ chức giáo hội Cathare. Phương tiện sau cùng để thành công và không kém quan trọng: giáo phẩm Cathare được giai cấp quí tộc ủng hộ vì họ ưa thích những nhà tu khiêm nhượng này chẳng hễ se sua, lại không trưng thu thuế vụ và chỉ biết làm chuyện lợi ích cho dân làng, khác hẳn những tu viện cao cấp xa hoa tráng lệ và sự giàu có ngạo mạn của một số nhân vật trong hàng tổng giám mục - hồng y.

Nhưng đây quả là có nhiều con bài chủ. Giáo hội La Mã lo sợ trước đối tượng cạnh tranh nầy đã gặt hái sự qui đạo đông đảo nếu không nói là hầu như toàn bộ nhân dân địa phương. Lý do cốt lõi là “diệt trừ tận gốc cái tai họa dịch hạch dị giáo” của người Cathares, mà tổ chức chức năng được giao phó là Pháp đình Inquisition, nếu không được sáng chế, thì cũng phải đạt được kiến hiệu tột cùng. Nhưng trước hết là phải dẹp tan về mặt quân sự cuộc nổi dậy Cathares, trùng hợp với cuộc kháng chiến dai dẵng của miền nam nước Pháp, mang danh xưng Occitanie, không chịu hòa hợp với người “Francs” thống lãnh miền bắc sông Loire vì không muốn bị đồng hóa mà hậu quả là tiếng Oc nhất định bị khai tử. Đây là công trình của cuộc thập tự chinh chống người Albigeois. Chiến tranh này tiến hành trong hai giai đoạn.

Trước hết, Giáo hoàng Innocent III (1198 - 1216; Giovanni Lotario, bá tước di Segni) kêu gọi các chiến sĩ người Francs tham gia vào một cuộc thập tự chinh thật sự, chỉ xảy ra tại miền nam nước Pháp. Để tưởng thưởng, chiến sĩ Francs sẽ làm chủ các đất đai và tài sản của các công hầu hỗ trợ người Cathares....và một vị trí trên Thiên đàng được dành cho họ. Cuộc chiến bắt đầu mãnh liệt, với cuộc sát hại 15000 dân lành ở Béziers năm 1209, mọi sự việc đều theo sự đòi hỏi của vị khâm sai Tòa thánh Vatican: “Hãy tàn sát chúng, bởi lẽ Thượng đế biết rõ ai là con cháu của mình”. Chiều lại khâm sai thảo một bản tường trình cho Đức Thánh Cha: “Sự báo thù của Thượng Đế đạt được thành tích kỳ dị, người ta đã giết sạch tất cả kẻ nào chống Thượng Đế...”!

Tuy nhiên, giai đoạn đầu của cuộc đệ tứ thập tự chinh nầy thật ra là một thất bại. Những tưởng thưởng công lao hạng mã hứa hẹn với các thập tự quân tuy có vẻ rất hấp dẫn, nhưng không đủ sức kích thích lâu dài các chiến sĩ liên hệ: sự xá tội của Thiên đình đạt được sau 40 ngày. Trước cuộc chiến, các thập tự quân rất tự hào là được chọn làm chiến sĩ do sự chọn lựa của Thượng đế...mà nay, trước cái nhìn của dân địa phương, họ tự cảm thấy ti tiện khi phản hồi cố quận...sau 40 ngày! Bền chí quyết tâm, con thú Cathare vẫn còn cựa quậy. Chính lúc ấy vua Pháp, Louis IX (1226 - 1270) hay Saint Louis xua quân xuống chinh phục cái miền Midi phản loạn này. Nhà vua dẹp tan cuộc kháng chiến võ trang của người Cathares ở Occitanie, và trên đường trẩy quân, vùng Languedoc cảm thấy trứng khó mà chọi với đá nên bắt đầu công cuộc qui thuận và sáp nhập vào lãnh thổ của dòng Capétiens trực hệ: sự thống nhứt về tôn giáo, sự thống nhứt về chánh trị, ngay trong khi chiến đấu!

Ngày 16/3/1244, sau cuộc bao vây suốt một năm trời, làng chiến lũy Montségur, nơi ẩn náu sau cùng của những nhân vật ưu tú người Cathares, đành kéo cờ trắng. Những “Bần nhân của Chúa Christ” không bao giờ phục hồi được lực lượng sau cuộc thất bại quân sự cuối cùng đánh dấu bằng sự kiện bi hùng là 200 tín đồ cùng chết chung trong một giàn hỏa vĩ đại. Thiết tưởng cũng nên chép ra đây chi tiết như sau: Simon de Montfort, tổng chỉ huy chuyến thập tự chinh đầu tiên chống người Cathares, có óc tưởng tượng cực kỳ phong phú về hành động tàn bạo. Hắn hạ lịnh cho “diễn hành” qua các cánh đồng đoàn người bất hạnh gồm hơn một trăm tù binh cả nam lẫn nữ ở thị trấn Bram, đôi mắt bị khoét tròng, mũi và môi bị cắt, kẻ trước người sau nối đuôi nhau với tay nầy nắm dây thừng còn bàn tay kia vịnh vai người đồng đạo đàng trước, người đi đầu dẫn đường là một kẻ bạc phước... được người thắng trận giữ lại một con mắt.

Sau chiến thắng quân sự, Giáo hội La Mã tiếp tục lãnh đạo cuộc chiến đấu không cân xứng nhằm tận diệt sự đề kháng trong bí mật của người Cathares. Đây là vai trò của Pháp đình Inquisition và những phiên tòa đều có phán quyết rợn người.

3. Inquisition: những đao phủ nhân danh Thượng Đế

Trước hết Inquisition gợi lên cái cảnh tượng hãi hùng của giàn hỏa với ngọn lửa hừng hực bốc cao với làn khói đen đượm mùi khét của thân người bị thiêu sống, với tiếng nổ lách tách của củi cháy phừng, những ngọn lửa gây chết chóc và “tẩy uế” do chính các quan tòa của Giáo hội hạ lịnh phóng hỏa.

Ý tưởng sáng chế một thứ pháp đình ngoại lệ đạt được đến đích hồi đầu thế kỷ XIII trong khi Giáo hội La Mã phải đối đầu ở Âu Châu một làn sóng tranh cãi gay gắt về mặt tôn giáo. Cathare đi tiên phong. Căn cứ vào các Phúc Âm theo từng chữ, những tínđồ giáo phái này yêu sách cho mình được mang tính chất Thiên Chúa chính đáng hơn các tu sĩ và giám mục hiện có. Để chống lại họ, Giáo hội La Mã bắt đầu sử dụng phương thức thuyết phục bằng cách phái đến những người thuyết giáo. Chẳng đạt kết quả gì! Chính vì vậy, Giáo Hoàng Gregorius IX (1227 - 1241, Ugolino, bá tước de Segni) cho hiệu chính một bộ máy tư pháp khắc khe. Năm 1233, Ngài chánh thức thừa nhận sự khai sanh pháp đình Inquisition của Tòa Thánh. Đây là vài nét chánh.

* Những thẩm phán toàn quyền

Được Giáo Hoàng bổ nhiệm, các quan tòa nầy trực thuộc đức Thánh Cha. Họ chẳng còn phải báo cáo cho một ai khác cả, ngay cả với các giám mục cai quản giáo phận mà họ hành sử nhiệm vụ được giao phó, cũng thế đối với các quân vương, các ông hoàng và những công hầu sở tại. Họ thi hành công lý của mình không những đối với kẻ còn sống mà lại còn với người chết nữa: họ có thể cho quật mồ, đem thây ma của nghi phạm bị gán cho tội “dị giáo tai hại như dịch hạch” để giàn hỏa cho trở về với tro bụi. Có khi họ chiếm giữ một phần tài sản tịch thâu ở người dị giáo. Một công thức giúp họ nhiệt tình thi hành công tác...thất nhơn ác đức.

* Sự đổ vấy và tra tấn

Quan tòa Inquisition khích động quần chúng nên hối cải nhưng cũng cần đổ vấy nữa. Một tín đồ Thiên Chúa ngoan đạo phải có khả năng tố giác ngay các đấng sanh thành... Tấm gương hết chịu nỗi nầy được noi theo trong các vụ đấu tố dưới chế độ xã hội chủ nghĩa. Những ai bỏ công di chuyển để nghe bài thuyết giáo thì được ban cho một món tưởng thưởng ngoài sự trông đợi: bốn mươi ngày xá tội, một thứ ân xá một phần cho những tội lỗi mắc phải ở trần thế! Bị lấy khẩu cung, phần đông những nghi can bị nhốt cách sô (ngục tối giam trọng phạm) trước khi bị tra tấn tiếp, với “mưu mẹo và sáng suốt”. Những viện bảo tàng hiện nay về Inquisition, ở Tây Ban Nha hoặc ở châu Mỹ La Tinh cho ta một tư tưởng kinh hoàng về bối cảnh những vụ tra vấn. Cuộc thăm viếng lý tưởng để lãng phí một ngày nghỉ lễ. Theo chương trình, có những màn điếng hồn như: trói thúc ké, rút lên trần với khối sắt cột vào bàn chân (ở bót Catinat thời Pháp thuộc, lối tra tấn này gọi là “đi tàu bay”); hai chân bị cùm, hai tay cặp vào thân nằm ngửa cột chặt vào tấm ván, rót nước vào cái phễu thọc vào họng nghi can (“uống ba xi đế”); dùng kềm kéo chằng bắp thịt ở bắp vế non đến banh da; v.v...

* Hình phạt

Tín đồ dị giáo rất gan lì không chịu từ bỏ đức tin, sau những màn tra tấn ác độc dã man, sau cùng là đưa lên giàn hỏa. Nếu thành tâm hối cải, anh có thể vĩnh viễn được bỏ qua. Những người dị giáo “mềm lòng” đôi khi cũng được miễn tố với một cái màn roi quất lên khắp mình mẩy trong buổi lễ mixa, một chuyến hành hương bắt buộc, hay mặc y phục có kết cái dấu thánh giá ô nhục. Lên giàn hỏa là cách trừng phạt hảo hạng bởi lẽ dị giáo được đồng hóa với một thứ bịnh truyền nhiễm, một thứ phong cùi, một thể hạch chuột. Và kế đó ngọn lửa hồng đóng dấu tội đày xuống hỏa ngục đời đời thiêu đốt bị can...

* Những nạn nhân nào?

Nạn nhân giàn hỏa của Giáo hội La Mã thuộc đủ mọi thành phần, người bất đồng tín ngưỡng hay chánh kiến, người sống ngoài lề xã hội với bản chất gồm đủ loại thói hư tật xấu, những mụ phù thủy xác tín, người Do Thái và người Maures đã qui theo đạo Thiên Chúa ở Tây Ban Nha, v.v...

* Nước Tây Ban Nha mắc bịnh điên

Pháp đình Inquisition của nhà nước, sự đoàn kết thiêng liêng giữa thế quyền (ngôi báu) và thần quyền (Tòa Thánh), giữa thanh gươm và que rảy nước phép, sẽ làm cho Tây Ban Nha đắm chìm trong làn tsunami khủng bố tôn giáo trải dài cả ba thế kỷ. Đến mức mà những cha cố Tây Ban Nha, quá hoảng sợ trước những biện pháp lò tể sinh của Tòa Thánh, danh xưng mới của Inquisition, phải đánh bạo gồng mình dâng kiến nghị hỏa tốc lên Giáo Hoàng. Nhưng hoài công, Thánh Cha Sixte IV (1471 - 1484, Francesco Della Rovere) xuống chiếu chỉ cảnh cáo, nhưng quá ư nhẹ nhàng, các đấng quân vương rất là Thiên Chúa như nữ hoàng Isabelle de Castille (1474 - 1504, mang biệt danh la Catholique) và chồng là quân vương Ferdinand d'Aragon (1479 - 1516, cũng có biệt danh le Catholique: rõ là nồi nào úp vung nấy vậy).

* Những cực hình thiêu sống

“Tận diệt dị giáo” nào phải là mục tiêu duy nhứt đâu. Như Inquisition ở Tây Ban Nha chẳng hạn, còn tìm cách làm cho dân chúng luôn luôn sống trong sợ hãi kinh hoàng do khủng bố tạo ra. Một chuyên gia đã nêu lên về đề tài nầy nhận xét: đó là lối giảng dạy bằng nỗi hãi hùng”. Những “cực hình thiêu sống” (“hành động của đức tin”) là những nghi lễ được tiến hành theo cái “nghệ thuật trần thiết sân khấu “được tỉ mỉ qui định với những lớp lang như các đám rước, các bài thuyết giáo, các áo rộng màu vàng và đen có kết một chữ thập đỏ cho biết đây là “tội phạm đặc biệt”, trận mưa roi gióc và... giàn hỏa, những ngày cuối cùng luôn luôn thuộc trách nhiệm các giới chức dân sự. Mỗi bộ phận có nhiệm vụ của mình: Giáo hội chuyên trách việc chỉ định – bằng tất cả mọi phương tiện – các tội phạm. Tuyệt đối không bao giờ đảm trách việc hành quyết...

Đại đa số nạn nhân bị thiêu sống thuộc thành phần các tín đồn dị giáo, tuy nhiên các nhà khoa học cũng bị vạ lây vì họ cả gan vạch trần nỗi sai lầm cốt lõi của Giáo hội là tin răm rắp thuyết địa tâm (Địa cầu là trung tâm của Vũ trụ) một sáng chế thần sầu của Aristote trước rồi Ptolémée sau. Họ đặt hết lòng tin vào thuyết nhật tâm (Mặt trời là trung tâm của thái dương hệ) do nhà thiên văn Ba Lan Mikolaj Kopernik (1473 - 1543) phát minh. Đó là Giordano Bruno. Còn người sáng lập môn cơ học hiện đại là Galileo Galilei; nhờ biết “tránh voi có xấu mặt nào” vào phút chót trước pháp đình Inquisition (1633), ông ấm ức rút lại tư tưởng sáng ngời chân lý của mình mà vẫn thốt ra câu nói để đời Eppur, si muove!. Và tuy nhiên, nó vẫn xoay quanh kia mà!

Không bao giờ có một ai đó có khả năng sao chép chính xác con số các nạn nhân của thảm họa khủng bố do Inquisition gây nên; nó đã từ từ suy tàn ở Âu châu và ở các thuộc địa. Tại Tây Ban Nha, nó chỉ chấm dứt vào thế kỷ XVIII và chỉ bị giải tán năm 1834. Vậy thì Pháp đình Inquisition Tây Ban Nha có ý thức được hàng triệu người chết, như sử gia Michelet hồi thế kỷ XIX đã khẳng định chưa? Hồi đầu thế kỷ nầy, một quan tòa thuộc Inquisition Tây Ban Nha đã biết ăn năn hối cải mà cũng chỉ giới hạn con số nầy của Michelet ở cái mức nhiều trăm ngàn nạn nhân nhưng qui rằng nó khiến dân số Tây Ban Nha phải giảm đi...

Giáo hội La Mã nay đã có làm được một hành động sám hối về các cuộc Thập Tự chinh, trào lưu chống đối Do Thái, buôn bán người da đen, những cuộc chiến tranh Tôn giáo, nỗi đau khổ “xưng tội” về các lỗi lầm của mình về pháp đình Inquisition. Trừ phi là ... Tháng 10 năm 1998, Tòa Thánh đã tổ chức một cuộc hội thảo về Inquisition. Theo các chuyên viên có mặt, sự ăn năn hối cải to lớn của đức Thánh Cha Jean Paul II có lẽ có khả năng sắp sớm được phong phú hóa bằng một chương mới...

4. Thổ dân bản địa ở châu Mỹ bị tàn sát và...qui theo đạo Thiên Chúa

Tây Ban Nha vào tháng 9 năm 1493. Thống lãnh 1500 người và 17 đại thương thuyền, nhà hàng hải Christophe Colomb (1450 - 1506) khởi hành chuyến viễn du thứ hai tiến về Tân Thế Giới. Sau cuộc phát kiến đây, bắt đầu thời kỳ cuộc thực dân hóa... và hoằng dương Phúc Âm. Ngày 03/5/1493, Giáo Hoàng xuống chiếu chỉ chánh thức phân chia những đất nước đã và sẽ tìm thấy cho hai quốc gia Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha

 nhằm để cho “Luật pháp Thiên Chúa giáo và thánh đạo được tán tụng và mở rộng mãi ra khắp mọi nơi và quảng bá rộng khắp [...] và những đất nước man rợ phải bị chinh phục và bắt buộc phải cải đạo và theo đạo Thiên Chúa”.

Bị chinh phục, những đất nước man rợ sẽ phải vậy. Lại còn hơn cả cái gì có thể tưởng tượng được. Ước đoán đông được khoảng 25 triệu người vào năm 1520, dân số những xứ sở vừa mới bị bọn đi chinh phục châu Mỹ chiếm đóng lại giảm xuống chỉ còn có một triệu người vào cuối thế kỷ XVI (tức 6%)... Tất nhiên các dịch bịnh cũng giữ một vai trò quyết định. Nhưng chế độ nô lệ, lao động cưỡng bức tại các đồn điền hay trong hầm mỏ, các bạo lực và cách đối xử tồi tệ (đòn bọng, ăn uống đói khát, đau ốm không thuốc men, không có thời giờ nghỉ ngơi để lấy lại sức, ...) nâng cao mãi số trang của sổ khai tử.

Đối với dân bản xứ thì bánh thánh quả thật có mùi vị của máu. Làm sao mà Giáo hội La Mã lại có thể đồng lõa với cái điều quá ư ghê tởm như thế? Bằng cách duy nhứt là không cho người dân bản xứ hưởng qui chế làm con người với đầy đủ ý nghĩa của từ.

Có phải chăng người dân bản địa quả thật là dân nô lệ “do bản chất” hay không? Đây lại là ý nghĩ của đa số. Và chẳng hạn đó là của Ginès de Sepulveda, triết gia và phụ tá giám mục ở Cordoue. Nhưng ông linh mục này sẽ đi tìm người đối thoại. Vào khoảng năm 1550, cuộc “tranh luận ở Valladolid” nổi tiếng khiến ông trực diện với đức Cha Bartolomé de Las Casas, cựu giám mục ở Đông Ấn, giáo sĩ dòng Đa Minh tại đất nước ngài cai quản. Đúng là con người được tôi luyện trong thánh ý. Tại giáo phận giám mục của ngài ở Tân Tây Ban Nha, ngài bị những tay nghiệp chủ thực dân chống đối và đã kích quyết liệt bởi lẽ ngài, với cương vị sở hữu chủ những nô lệ, từ chối thẳng thừng cái quyền thâu nhận các thánh lễ phí của Giáo hội: Một lập trường can đảm...mà hậu quả là ngài bị triệu hồi về chánh quốc.

Đối với Sepulveda, chiến tranh chống thổ dân bản địa là chánh đáng bởi lẽ họ chân thành thờ phượng các thần tượng và dám hy sinh tánh mạng để làm lễ vật tế thần. Vả lại, Thượng đế đã xử tội họ phải sống kiếp nô lệ chẳng qua họ là cái sắc tộc thô tục, với số phận hèn hạ tôi đòi được Thượng đế an bài vì bản chất và như thế họ buộc phải gánh chịu một cách chánh đáng cái kiếp nô lệ cho các quốc gia tiền tiến hơn... như xứ Tây Ban Nha. Đối với Sepulveda, vị cựu giám mục Bartolomé de Las Casas nói toạc móng heo rằng: “Người Tây Ban Nha, quên phứt mình là con người, nên đã đối xử với những con người vô tội nầy bằng một sự độc ác đúng là riêng cho loài lang sói [...] Người ta bảo đảm như là một sự việc chắc chắn rằng người Tây Ban Nha do cái chánh sách phi nhơn và bạo tàn ác độc của mình, đã làm chết cả mười hai triệu người, cả đàn ông lẫn đàn bà và trẻ con...”. Lòng nhân đạo của de Las Pasas không thể làm chuyển đổi dòng lịch sử, và nó chẳng khác nào một lóe ánh sáng trong chỗ tối đen.

Cũng còn lắm sự việc khác. Vậy nên, giữa những năm 1610 và 1750, các tu sĩ dòng Tên đã cứu giúp cho 150 000 thổ dân bản địa guaranis ở xứ Paraguay (Nam Mỹ) không rơi vào nanh vuốt của bè lũ thực dân Tây dương, được tổ chức thành những cộng hòa cộng sản tí hon, người guaranis dĩ nhiên phải tuân phục các tu sĩ nhưng ít ra sanh mạng của họ được bảo toàn và cũng xứng đáng phần nào với danh xưng “con người”.

Vậy đến đây xin tạm xếp lại cái hồ sơ tội ác, song tai hại thay còn rất nhiều trang khác. Giáo hội có lời xin lỗi không? Một số người giải thích rằng những nạn nhân của Tòa Thánh - người thổ dân bản địa ở châu Mỹ, người Cathares, tín đồ đạo Tin Lành - cũng ác độc và không khoan dung như những kẻ gia hình. Lại có những kẻ khác nhắc nhở ta đừng quên rằng Giáo hội gồm những người sống vào thời kỳ của họ và dĩ nhiên cũng chia xẻ những ý tưởng của thời đại họ. Ví dụ: khiển trách những phương pháp dùng cho Pháp đình Inquisition thì sao lại quên đi nền công lý của các vua chúa cũng cùng một thứ với nhau cả. Và phán xét các giáo hội thì thiết tưởng nên giả thiết có hai dĩa cân: dĩa cân bên này đựng các tội ác thì dĩa cân bên kia cũng phải đựng cái Thiện và những vị thánh. Dầu sao người ta cũng có thể hối tiếc một cách chánh đáng rằng Giáo hội La Mã không dùng làm gương cho kiểu mẫu của mình. Chúa Jésus Christ và những vị tông đồ sanh sống trong Đế quốc La Mã; vì thế các đấng nầy không khen ngợi chế độ nô lệ, những đấu trường hay... việc đóng đinh trên thập tự giá. Và rồi một Bartolomé de Las Casas đã chỉ cho thấy rằng nhân danh Phúc Âm người ta vẫn có thể đối chọi lại với thời kỳ của mình.

TRẦN THƯỢNG THỦ
(7.12.2002)

 

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........