curley_sw_03.gif (1967 bytes)   Nghiên Cứu và Đối Thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw_03.gif (1967 bytes)

.......... .


NÓI VẬY MÀ KHỒNG PHẢI VẬY (*)
uv-catfish.gif (4906 bytes)Nhãn hiệu cá tra xuất khẩu của nông dân Việt Nam

      Vào ngày 27 tháng Giêng , chỉ sau một năm ngày Mỹ và Việt nam bắt đầu "các quan hệ thương mại bình thường", thì Bộ Thương nghiệp Mỹ đã giáng cho người Việt nam một mức thuế nhập khẩu cá tra (catfish) đến mức 64%, đó là mức chênh lệch mà Bộ Thương nghiệp cho là cá tra đã bán phá giá trái phép vào Mỹ quốc.  Nhưng nếu nhìn vào con số, thì luật này đã bất chấp logic cảm quan thông thường.  Kiểu luật này đang làm bận tâm nhiều người trong số chúng ta đang ở Mỹ vì nó đã tái củng cố một ý niệm rằng luật chống bán phá giá của chúng ta là một sự vờ vịt.

      Nhìn vẻ bề ngoài, luật chống bán phá giá của Mỹ được đặt   ra là để ngăn cản những nhà sản xuất nước ngoài bán sản phẩm của họ giá thấp một cách "đểu cáng". Thế nhưng các học giả Mỹ thuộc những trung tâm "có trọng lượng" như Viện Brookings, Viện Cato [1], và Tổng cục Quốc gia về Nghiên cứu Kinh tế (National Bureau of Economic Research), kể cả một vị đoạt giải Nobel và là cựu Chủ tịch Hội đồng Tư vấn Kinh tế, cũng kết luận rằng, trên thực tế, bộ luật đã được dựng lên để xoi mói ra việc bán phá giá kể cả nó chẳng có tồn tạị Năm 2001, Bộ Thương nghiệp đã phát hiện ra đến 94% các trường hợp là bán phá giá.

      Một vài con toán nhanh trong trường hợp cá tra cho thấy tại sao những người theo dõi câu chuyện thấy thiếu tin tưởng trong sự công bằng của Bộ Thương nghiệp. Một định nghĩa của Thương nghiệp về bán phá giá, 64% thuế áp dụng cho các nhà sản xuất cá tra Việt nam bán vào cho các đầu mối ở Mỹ vì họ [nhà xản xuất Việt nam] đã bán sản phẩm ở giá thấp hơn 64% khi bán cho các đầu mối Việt nam, nhưng chẳng có kiểu con toán cộng như vậỵ Năm 2001, các đầu mối Mỹ đã đến Việt nam mua một pound (khoảng non nửa kg) cá tra với giá 1 đô 41 xu Mỹ, nếu dùng "luật 64%" của Bộ Thương nghiệp, thì các đầu mối Việt nam phải trả đến 2 đô 36 xu cho một số lượng cá tương tư.. Giả định giá cá tra tăng 25% từ đầu mối đến người bán lẻ, thì một người tiêu thụ Việt nam phải trả (theo quy định của Bộ Thương Nghiệp) 3 đô cho một pound cá trạ Trong khi đó, một người Việt nam trung bình thu nhập chỉ có 8 đô la/ tuần. Như thế thì một người Việt nam muốn thưởng thức cái món cá tra vào ngày thứ Sáu ắt phải cố mà  nhịn ăn suốt tuần hoặc là cái luật 64% của Bộ Thương nghiệp [Mỹ] cao một cách quá lố bi.ch.

      Có lẽ Bộ Thương nghiệp cũng đã chẳng tìm ra việc bán phá giá nếu như họ đem so sánh giá nhập cảng với giá cá tra bán thực tế ở Việt nam. Nhưng thay vào đó, thì Bộ Thương nghiệp đã đem so sánh giá nhập cảng với cái giá thành sản xuất cá tra ở Việt nam. Mà kỳ lạ thay, là cái giá này được "dựng nên" bằng cách dùng giá đầu vào không phải ở Việt nam, lại có thể đem "so sánh" với một nước tương đồng do Bộ Thương nghiệp chọn. Và ở đây Bộ Thương nghiệp đã chọn Ấn đô..

      Điều nghịch lý là, giá thành sản xuất cá tra ở Ấn Độ lại cao hơn cả ở Mỹ, vậy câu hỏi đặt ra là liệu có thích hợp chăng nếu đem [giá thành] Ấn Độ đi so sánh với Việt nam. Điều chắc chắn là đồng lương ở Ấn Độ thấp, nhưng ngoài một vài ngành công nghiệp như phần mềm, thì năng suất lao động của công nhân ở đây được xếp vào nhóm thấp nhất thế giới.  Một nghiên cứu ở Cục Dự trữ Liên Bang ở San Francisco (San Francisco Federal Reserve) thấy rằng các giá thành đơn vị lao động (hay là đồng lương được hiệu chỉnh theo năng suất lao động) ở Ân độ là hơi cao hơn so với ở Mỹ. Ngược lại, theo Đơn vị đánh giá tin tức [tình báo] của giới Kinh tế gia (Economist Intelligence Unit), thì các giá thành đơn vị lao động ở Việt nam thấp hơn so với Mỹ đến 70%. Giá thành lao động cao hơn, nghĩa là giá bán cao hơn. Như vậy, nếu áp dụng cái giá thành đầu vào ở Ấn độ, thì chẳng có gì là ngạc nhiên về việc Bộ Thương mại "xây dựng" lên cái giá thành sản xuất cá trá ở Việt Nam vượt quá giá nhập cảng vào Mỹ 64%, dẫn đến luận điệu bán phá giá.

      Nhìn nhận một khía cạnh khác về luật của Bộ Thương nghiệp, nếu các nhà sản xuất Việt Nam đã bán sản phẩm của mình ở thị trường Mỹ và cả ở Việt Nam thấp hơn giá thành, thì rõ ràng những nhà sản xuất này hẳn phải lỗ vốn. Nếu ta áp dụng cái luật 64% của Bộ Thương nghiệp, thì đơn giản chỉ trong năm 2002, các nhà sản xuất Việt Nam hẳn đã phải lỗ khoảng 70 triệu đô la . Theo Bộ Thương nghiệp, thì rất bình đẳng trong tổng doanh số cá tra bán ra nước ngoài kể cả phía Mỹ và Việt Nam. Nhưng liệu người Việt Nam chịu đựng được sự thâm hụt đó trong bao lâu?  Thì cầm bằng như một chuyện phi lý là chính phủ Việt Nam phải chịu chi 70 triệu đô la để  phụ vào chỗ thiếu hụt cho một ngành công nghiệp chỉ chiếm có 1% tổng lượng xuất khẩu của quốc giạ Sự bù lỗ đó tính ra khoảng 200 đô la cho một người nuôi trồng cá tra, con số này cao gấp 7 lần so với số tiền chi cho giáo dục công cộng tính trên mỗi đầu sinh viên, và cao hơn gấp 70 lần so với số tiền chi cho y tế công cộng tính trên mỗi đầu người dân.

      Cứ chiếu theo cái luật của Bộ Thương nghiệp này thì sẽ không tránh khỏi cái hậu quả là người tiêu thụ Mỹ phải trả giá cao hơn, và một sự trả đũa lại cho những nhà xuất khẩu Mỹ, nhưng cái thất bại ý nghĩa nhất chính là ta đã làm tổn hại uy tín của ta. Điều ngớ ngẩn của cái luật này là tạo ra một trò hề của luật chống bán phá giá của Mỹ. Phía Việt Nam đang cho rằng chúng ta không tôn trọng hiệp định thương mại mà chính chúng ta đã ký. Và câu chuyện cũng phải đến hồi cuối, quyết định của tháng Ba năm ngoái đã lập nên các rào cản thép trong thương mại, làm cho thế giới đã có lý do để chất vấn việc Mỹ cam kết về tự do thương mạị

      Đối với vụ cá tra, chúng ta vẫn còn thời gian. Bộ Thương mại sẽ ấn định luật cuối cùng vào tháng 6 năm nay. Việc cởi bỏ thuế đánh vào cá tra Việt nam có lẽ là một việc cần làm để cho thế giới thấy rằng các bộ luật, các luận thuyết và các tuyên bố của Mỹ vẫn còn có nghĩa.  Và có lẽ đó cũng là lẽ công bằng mà thôi.

Chú thích:

(*) Bài viết trên đây là chuyển ngữ từ bài "Catfish ruling: Fishy business" của hai tác giả Huyen Pham va Van Pham trên mục "Phát biểu tự do," một chương trình của Asia Times trên mạng (Asia Times Online) cho phép bạn đọc gửi gắm tâm tư của mình.  Bà Huyen Pham là giáo sư luật (Associate Professor), và chồng, Van Pham là giáo sư kinh tế (Assistant Professor) thuộc Trường Đại học Missouri, Mỹ.

[1] Brookings Institution và Cato Institute là hai trung tâm nghiên cứu chính trị - xã hội thuộc nhóm hữu khuynh ở Mỹ.

Người dịch: Quang Nguyên

 

arrow.gif (848 bytes) Về trang Nghiên cứu & đối thoại tháng 3-2003

 

Home  |  Top Page | Về trang mục lục

© Thư từ và bài viết cho mục này, xin gởi attachment về email: giaodiem@giaodiem.net

. ..........