curley_sw_03.gif (1967 bytes)  Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw_03.gif (1967 bytes)

.......... .
 

Đọc sách: Những cuộc Cách Mạng Thành thị Tại Trung quốc

China’s Urban Revolutionaries
(Explorations in the History of Chinese Trotskism, 1921-1952)
-Gregor Benton
Humanities Press, New Jersey, 1996. [270 trang]
  • Vũ Huy Quang
vq-1trosky.jpg (11791 bytes) vq-7trinhluu.jpg (20621 bytes) vq-2btc.jpg (18405 bytes)
Trái: Trần độc Tú (hình chụp năm 1937). Ấn bản “Vấn đề cách mạng Trung quốc” của L. Trotsky -tr.21
Giữa: Trịnh kiều Lâm, Lưu kính Chân
Phải: Bành thư Chí (in với chú thích sai, là hình Trần độc Tú) - tr.66

     Cuốn sách này ra đời với 2 phụ lục giá trị của 2 người Trotskit Tàu kỳ cựu (Trịnh Kiều Lâm, Vương Phàn Tư ), là cuốn sách phong phú hiếm hoi về cách mạng thành thị Trung quốc. Người đọc sẽ giật mình khi liên tưởng từ những khám phá lịch sử của cách mạng Việt nam, Trung quốc và Nga sôviết nối kết với đường lối cách mạng của Lênin, Trotsky, Stalin, Bukharin ...có ảnh hưởng tương phản nhau thế nào.

     Đảng Cộng sản Trung quốc do Trần Độc Tú phát nguyên từ 1921, khởi từ Ngũ Tứ Vận Động 1919 tại Bắc Kinh do Trần Độc Tú (1) lãnh đạo cùng Lý Đại Chiêu (2). Phong trào cách mạng này lan ra các thành phố lớn, rồi cùng các biến động nội địa cộng với ảnh hưởng từ bên ngoài, mà thành các đối kháng về quan điểm cách mạng, đưa đến những tàn sát, tù đầy của những người chủ trương cách mạng từ thành thị - những người Trotskit Tàu về sau này.

     Những người Trotskit Tàu – làm cách mạng xã hội, mẫu mực như cách mạng Nga 1917, không chấp nhận đường lối Stalin - có tính tự phát nội địa, cùng tiếp cận với Tả Đối Lập Nga về sau, cộng với kinh nghiệm cay đắng của hợp tác Quốc Dân đảng (tàn sát Thượng Hải 1927) mà thành. Từ 1927, cho đến suốt thập niên ’30, tại các thành thị, họ bị tầm nã, tận diệt bởi Khủng bố Trắng (Quốc Dân đảng), Khủng bố Đỏ (Cộng sản tổ chức - Organized communist, tức cộng sản do Stalin cầm đầu, những người Staliniêng), và người Nhật. Sau khi đuổi được Tưởng Giới Thạch, ngày 22 tháng Chạp năm 1952, trên toàn lục địa, chính quyền Mao lùng bắt những người Trotskit cho vào tù không cần xét xử. (Từ ngữ “Tờ-rốt-kít” đã bị mạt sát, đồng nghĩa với “phát-xít”, “chó săn”, “phản động”, “phản cách mạng”, “gián điệp đế quốc”... đã xấu xa, còn tai hại hơn bệnh dịch.)

     Cuốn sách của Gregor Benton tuy xuất bản muộn (1996), nhưng cũng vẫn hợp thời, vì cung cấp được những dữ kiện bị che dấu quá lâu. Người đọc sẽ hiểu thế nào là xuyên tạc, vu cáo chính trị cùng những đường lối sai lầm làm tổn hại hàng triệu sinh mạng. Những phát giác về những điều lâu nay bị coi là cấm kỵ để bàn cãi công khai.

Khi xét lại quá khứ, lịch sử cách mạng Trung quốc có một chỗ trống lớn mà chế độ chuyên chính Mao-it phải chịu trách nhiệm. Chế độ đó đã xóa sạch dấu vết lịch sử về những người lập đảng Cộng sản khởi thủy, những người chủ trương cách mạng thành thị - những người Trốtkít Tàu. Ba năm sau khi kiểm soát lục địa, năm 1952, hàng ngàn người Trotskit - kể cả cảm tình viên - bị công an, mật vụ lùng bắt trên toàn quốc. Họ bị xử kín – hoặc bị giam mà không xét xử, tống ngục (rất nhiều người bị chết trong tù) vì tội “phản cách mạng”. Những Trotskit Tàu không chỉ bị tù, bị chết trên nước Tàu, họ bị Mật vụ Nga GPU thủ tiêu ngay trên đất Nga, hoặc bị tù trong Tây Bá Lợi Á – khi họ tham gia Tả Đối Lập tại Moscow (1929-1930). Bị coi là đối thủ nguy hiểm cho Tưởng, họ bị tàn sát trên đất Tàu (thập niên ’30).

     Những người Trotskit bị vùi dập bi thảm nhất trong lịch sử cách mạng. Điều bi thảm cho Auguste Blanqui, nhà lãnh tụ cách mạng Pháp, là ông ta bị giam lâu nhất (33 năm), trong lịch sử cầm tù của những người hoạt động chính trị - đến nỗi có biệt danh là L’enfermé, kẻ bị nhốt. Nhưng kỷ lục này bị Trịnh Kiều Lâm (1901-) một người Trotskit Tàu phá, khi ở tuổi 79, cộng với số 7 năm tù do Tưởng tặng cho, chế độ Mao-ít cho ông thêm 27 năm tù nữa (1952-1979). Trịnh bị nhốt 34 năm, hơn Blanqui 01 năm.

vq-6wanxi.jpg (28749 bytes)   vq-8maotuong.jpg (27353 bytes)
Trái: Vương phàn Tư (trái) và Frank Glass. Phải: Mao-Tưởng hợp tác do Mỹ hướng dẫn (1945)

     Những người Trotskit Tàu không chỉ bị thủ tiêu ở Nga, ở Tàu, mà cả ở Việt Nam nữa:

Lưu Gia Lương (người dịch “The Tragedy of the Chinese Revolution” của Harold Issacs) đến Sàigòn năm 1950, tiếp xúc với anh em nhóm Liên Minh cộng sản quốc tế chủ nghĩa. Hai đồng chí cùng Lưu Gia Lương vào bưng biền (ở Biên Hòa), nghe lời Việt Minh thương lượng cùng kháng chiến với Việt Minh. Lưu đã bị chết tại Việt nam. (Ngô Văn, “Au Pays de la Cloche Felee”). Những chết chóc mờ ám kiểu này, bấy lâu đã bị giấu giếm hoặc xuyên tạc. Dù còn ít nhiều tài liệu về những người Trotskit tàng trữ trong các thư khố các Nhà nước Cộng sản Staliniêng, chỉ một số chuyên gia hiếm hoi mới được mó vào.

     Trên diễn đàn công cộng, sau cái chết của Mao, nhiều sử gia đòi làm sáng tỏ chỗ đứng của Trần Độc Tú, người sáng lập đảng. Từ đó, cùng lúc đã có nhiều rửa tiếng cho những người Tả Đối lập. Rất nhiều bài viết của các lãnh tụ Trotskit được công bố trên báo chương, kể cả Hồi Ký của Vương Phàn Tư (Wang Fanxi) (3) nay đã được dịch qua Anh, Pháp, Nhật, Đức ngữ (bản tiếng Tây Ban Nha đang trong vòng thương thảo), và sách của Trịnh Kiều Lâm (Zheng Chaolin) (4) đã dịch sang Nhật, Đức ngữ, đang dịch sang Anh và Pháp ngữ. Bành Thư Chí (Peng Shuzhi) đã có bản Pháp văn; ở Hồng Kông, Tôn Lương Đức (Sun Liangsi) đã xuất bản hồi ức toàn tập. Cuốn “Trần Độc Tú Đại tập” đã xuất hiện tại các nhà sách Hán văn tại Hoa kỳ (2001).

Dư luận báo chí tại Hồng Kông tương đối thoáng, nên từ ’50 đã có các sách báo của Tả Đối lập, nhưng chính thức thì từ 1974, “Tạp Chí Tháng Mười”, “Tân Tư Trào”, “Mầm Mới” ...tiếng nói của Tả Đối Lập mới ra đời.

     Tháng Ba 1995, nhà báo Trung quốc nổi tiếng thế giới vì lòng can đảm và sự trung thực Đới Thanh (Dai Qing) đã tung ra những sưu tập văn bản của những người Trotskit cùng những bình luận của bà về chủ đề nghiên cứu những người Trotskit. Sách được trân trọng đề tặng đến Trịnh Kiều Lâm, Vương Phàn Tư và Lâu Quốc Hoa (Lou Guohua) – những người mà bà coi là các quán quân cho việc tranh đấu cho tự do công bằng, những tiên tri đi trước thời đại.

     Theo Gregor Benton, nạn nhũng lạm, cửa quyền, bất công phát triển trong chế độ cộng sản Mao-ít (kinh nghiệm Tứ Nhân Bang – 1976) làm người ta phải xét lại nguồn gốc cách mạng và lịch sử  Đảng. Sự mất ảo tưởng về phát triển tại các thành phố kỹ nghệ ngay từ thời Đặng Tiểu Bình cùng tác động từ chiến tranh Việt Nam làm những người ý thức về tiến trình phát triển thành thị càng thêm thôi thúc đòi hỏi sự thật về căn nguyên của dân chủ. Trotskit đang là bóng ma ám ảnh Trung quốc. (tr.119)

     Ngay trong đảng cũng có những đảng viên bị kỷ luật, hoặc khai trừ khi họ lên tiếng trong trào lưu Giải phóng tư tưởng: Từ đầu thập niên 70, cho đến những năm ’80, các đảng viên ly khai như Vương Tích Chân (Wang Xizhe), Trần Phú (Chen Fu) và Sử Hoa Thần (Shi Huasheng) đã bị các luận đề về dân chủ xã hội của Trotskit Tàu hấp dẫn. Những người này đã phát biểu những ý kiến đòi dân chủ – tuy không dùng luận điểm hoặc từ ngữ theo kiểu Trotskit – nhưng đã bị bắt. Khi bị thẩm vấn viên tra cung rằng, “Cuốn sách nào tác động đến đồng chí nhất?” Vương Tích Chân trả lời là “Tư Bản luận”. Và theo một người đồng tù (Lau Sanching) kể lại, Vương bị chìa vào mặt chứng từ là cuốn  ảnh hưởng anh ta nhất, lại là cuốn “Tư tưởng Mao Trạch Đông và Cách Mạng Văn Hóa”, tác giả là một Trotskit, Vương Phàn Tư. Có chứng cớ rằng anh ta còn truyền sách này cho người khác đọc nữa (tr.119).

     Sử gia Lý Phú Công (Lee Feigon) nhận định phân tích về tàn sát Thiên An Môn, “Cuốn sách của tôi về tiểu sử Trần Độc Tú, người sáng lập đảng cộng sản Trung quốc, đã không phải không có những liên hệ tới cuộc nổi dậy của sinh viên trong biến cố Thiên An Môn.” Biến cố này khởi từ Bắc Kinh 5/ 1989 sinh viên đã đứng dậy theo truyền thống Ngũ Tứ Vận Động của Trần Độc Tú. Trong cuôc nối y từ thành thị của sinh viên, họ đã hô hào những khẩu hiệu đòi hỏi cải cách của Trần Độc Tú lúc trước, như “Khoa học và dân chủ phải đi đôi“.

     Ngôi mộ của Trần ở Tứ Xuyên đã được chính quyền cải táng về quê nhà, chôn cạnh hai người con ông ở An Huy. Các nhóm nghiên cứu, các hội Ái Hữu đã thành lập ở An Huy, Thượng Hải, Hà Nhĩ, Bắc Kinh, Vũ Hán, Quảng Châu, Hợp Phì, Trùng Khánh, và Trường Xuân.

vq-5borodine.jpg (29271 bytes)  vq-4bentau.jpg (40738 bytes)
Trái: Borodine, do Stalin gửi qua, hô hào Cộng sản Tàu chỉ nên “làm cu-li” cho Quốc dân đảng
Phải: Công nhân bến tàu đình công tại Hương cảng 1922

Khởi thủy Đảng Cộng sản Trung quốc

Có ba sắc thái hợp thành đảng Cộng sản Trung quốc: Từ Ngũ Tứ Vận động, từ Nga, từ Âu châu.

1. Ngũ Tứ Vận Động:

     Phong trào này (5/4/1919) đòi dân chủ xã hội, cải cách văn học, giải phóng đất nước, do những người thành thị cầm đầu. Mầm mống là chống lại Hòa Ước Versailles, mà Pháp nhường cho Nhật đặc quyền trên đất Tàu. Trần Độc Tú đã tham gia Cách Mạng Tân hợi (1911), nhưng nhìn ra ảo tưởng của chủ nghĩa Tam dân trong việc cộng tác với cường quốc kỹ nghệ đòi dân chủ, nên lập đảng Cộng sản (1921). Trong Tuyên Ngôn Tháng Mười của đảng, “Đảng Cộng sản sẽ hướng dẫn cuộc cách mạng vô sản đấu tranh chống lại tư bản, đoạt quyền chính trị từ tay tư bản; đảng sẽ trao quyền cho công nhân và nông dân, như cách mạng Nga đã làm năm 1917.”

2. Sinh viên từ Nga:

     Sinh viên, thanh niên từ các thành phố lớn tham gia cách mạng đã nhìn Nga xô viết như một kiểu mẫu, nên đã đi du học Nga. Những lãnh tụ như Trần Độc Tú, Lý Đại Chiêu hoạt động trong nước. Theo Trịnh Kiều Lâm (Phụ lục i), năm 1924 là năm có mốc quan trọng trong lịch sử đảng Cộng sản: Năm khởi đầu cho sự hợp tác Quốc Dân đảng. Cũng là năm trường Võ bị Hoàng phố thành lập. Cố vấn chính trị và quân sự đến từ Nga, sinh viên du học Moscow trở về nước. Cách mạng thành thị hồi sinh, nhất là sau khi đã bị tê liệt trong cuộc đình công thất bại của Nghiệp đoàn, tháng Hai, 1923.

(Lý Lập Tam, Lưu Thiếu Kỳ, Hướng Đức Long (Xiang Delong) lúc ấy hoạt động trong phong trào công nhân lao động – tuy không thuộc Nghiệp đoàn Liên công của Trương Quốc Đào – nhưng sẵn sàng hợp tác với “nhóm Moscow” du học từ Nga về.)

     Trịnh Kiều Lâm đã nhận thấy có những mờ ám không rõ ràng trong thời gian này, khi xét nguyên tắc của thuyết cách mạng quốc gia, phong thanh là từ Voitinski (đại diện Quốc tế Cộng sản) và Bành Thư Chí. Thuyết này chủ trương làm cách mạng Tư sản quốc gia trước, trái với tuyên ngôn của cách mạng Nga (tr.126).

Điều này đưa đến những phân ly về sau.

3. Cán bộ với tinh thần cộng sản từ Âu châu:

     Những sinh viên đã sống và hấp thụ tinh thần Âu châu, sống trong không khí xã hội buốc-gioa, thường có suy nghĩ độc lập, phi tín điều, chống tinh thần suy tôn lãnh tụ, như Đặng Tiểu Bình, Lưu Thiếu Kỳ, Lưu Kính Chân, Trịnh Kiều Lâm, Chu Ân Lai.

Do thời thế: Chiến tranh Trung Nhật, Quốc Dân Đảng tảo thanh, lý thuyết của Leon Trotsky, sách lược hợp tác từ Moscow (qua Borodin - đại diện đường lối của Stalin và Bukharin chỉ đạo) mà ba nhóm này lúc hòa nhau, lúc tách nhau từng thời điểm.

Trần Độc Tú vẫn là Tổng Bí thư cho đến 11/1929. Tả Đối Lập Trung quốc thành lập năm 1931.

Những thú vị bất ngờ

     Ít ai ngờ được, là lý thuyết Cộng sản không chỉ du nhập từ Nga, mà về sau, thuyết Tả Đối lập của Trotsky du nhập vào Trung quốc từ Thổ và Hoa kỳ!

     Đệ Tứ Quốc Tế rất ít biết về hoạt động cùng những khó khăn của những người cộng sản phi-Stalin Trung quốc. Hầu như Cộng sản quốc tế chỉ có quan hệ hiếm hoi với những người Cộng sản Trung quốc - qua các cửa khẩu. Cộng sản Trung quốc bị cô lập, lâu lâu, khi có Trotskit nước ngoài (thường là thủy thủ người Mỹ) đến thành phố tiếp xúc, lúc ấy người cộng sản Trung quốc mới có dịp trao đổi tư tưởng, tìm hiểu thế giới bên ngoài. Frank Glass người Anh, và nhất là Harold Issacs ký giả người Mỹ ở Thượng Hải có những hoàn cảnh đặc biệt đảm nhiệm việc liên lạc thông tin giữa Trotsky cùng Tả Đối Lập Trung quốc - trong những năm của thập niên ’30 tại Thượng Hải. (Tr.85, 88). Tài liệu của văn bản Trotsky thì ngay cả khi Radek làm giám đốc Trường Tôn Trung Sơn, các sinh viên Tàu du học ở Moscow cũng chưa được phổ biến để hiểu nhiều về lý thuyết này.

     Về vụ “Mũ ông Trương trên đầu ông Lý” (tr.55), một giai thoại hiếm có trong lịch sử cận đại: Chân dung Trần Độc Tú phổ biến trên khắp thế giới sau khi ông ta qua đời (5/1942) lại là hình ảnh một người khác, Bành Thư Chí. (Sách của Rius, “Mao for Beginners”, xuât bản 1980 cũng vẫn đăng hình này). Phải chờ đến Trịnh Kiều Lâm - người cùng hoạt động với Trần lâu năm - sau khi được tạm thích, truy tầm nguyên do bng cách vào tìm chồng báo cũ trong thư viện An Thanh (Anqing) mới rõ: Năm 1932, nhờ điềm chỉ, QDĐảng bắt được Trần Độc Tú. Có ba lý do để Tưởng không sát hại Trần: Trần lúc ấy không có thực lực gì làm trở ngại cho QDĐ; Trần có uy tín quá lớn trong dân chúng; các đảng viên cùng sĩ quan QDĐảng cũng ngưỡng mộ ông. QDĐ phải áp giải Trần, đưa ra tòa Thượng thẩm Giang tô xét xử. Một ký giả tờ “Xã hội Tin báo” săn chụp được lúc giải giao Trần Độc Tú và Bành Thư Chí (5) lúc ra tòa, bèn đăng hình lên báo. Chỉ do một lỗi lầm nhỏ, tên ảnh người phía trái (Trần Độc Tú) chú thích đảo thành phía phải (là Bành Thư Chí, người có hình chụp đầu đội nón Trung sơn).

Tấm hình được coi là tài liệu quốc tế về chân dung Trần Độc Tú. Từ đó trở đi, mỗi khi muốn đăng ảnh lãnh tụ Cộng sản Trung quốc, các nhà báo cứ xé đôi tấm hình, in lên tấm ảnh đã chú thích sai. Trịnh Kiều Lâm còn chỉ rõ rằng, ngay trong tấm hình chụp chung đã tỏ cá tính khác hẳn nhau: Trần thần thái ung dung, Bành nét mặt ảm đạm.

     Nhưng tại sao sự lầm lẫn này duy trì lâu như thế? Chế độ Cộng sản Mao-ít dĩ nhiên không muốn nhắc đến Trần; còn ngược lại thời gian của các thập niên ‘20, ‘30, thì lúc ấy, hình ảnh lãnh tụ Cộng sản, - nếu có được phổ biến công khai trên báo chí quốc gia chủ nghĩa hay Staliniêng, đều là hình ảnh các lãnh tụ có chủ trương hợp tác QDĐảng. Cùng là cộng sản, nhưng những ai đi ngược lại đường lối của Stalin-Borodin-Tưởng-Uông Tinh Vệ đều phải mai danh ẩn tích. (Chống Tưởng là làm tay sai ngoại bang; chống Stalin tức là nhận tiền, làm gián điệp cho Nhật - Cũng như Trotsky bị cáo là làm gián điệp cho Mật vụ Đức Gestapo; giết Kirov (!)”) (Tr. 201).

vq-3chuanlai.jpg (60294 bytes)
Trịnh kiều Lâm, thứ tư từ trái. Chu ân Lai, thứ sáu từ phải (hình chụp nhóm sinh viên du học tại Paris, tháng 2/1923)

Lý thuyết Cách Mạng Thường trực

     Chống lại quan niệm “Xã hội chủ nghĩa trong một xứ” - phải làm cách mạng lần lượt là qua cách mạng quốc gia (giải phóng thuộc địa, để giai cấp tư sản trong nước cầm đầu) mới tới giai đoạn cách mạng vô sản, là lý thuyết cách mạng thường trực. Những câu này xem như nhạt nhẽo, nhưng là chủ cốt của thuyết cách mạng thường trực để bác bỏ quan niệm “Xã hội chủ nghĩa trong một xứ”, có nghĩa : Quốc tế Tư bản phải do Quốc tế Vô sản lật đổ. Cách mạng toàn cầu của vô sản, phải do quốc tế vô sản cùng làm. Không thể làm “cách mạng hai giai đoạn”, đó là chủ trương chống đối của Trotsky bằng thuyết Cách mạng Thường trực. Nhưng, “cách mạng thường trực” chủ trương thế nào?

     Theo Trịnh Kiều Lâm, (tr.191), phải đi ngược lịch sử  để nhìn thấy Lênin và Trotsky từng chống nhau về lý thuyết cách mạng. Lênin khám phá lý thuyết “Phát triển bất đồng”, và điều này có thể giải thích những hiện trạng lịch sử trên đường làm cách mạng. Trotsky khám phá thuyết “Phát triển hiệp đồng”, còn giải thích các điều kiện đấu tranh nhiều hơn, ứng dụng nhiều hơn trong thực tế. Luật của Trotsky chứng tỏ rằng trong nhiều giai đoạn lịch sử của những giai đoạn gọi là thời kỳ “chuyển tiếp”, không hẳn là chuyển tiếp (transitional), nhưng chỉ là một thể hiện của hiện tượng xã hội đáp ứng thời kỳ của xã hội đó. Quá Khứ và Tương Lai hình thành một hình thái phát triển “hợp đồng” trong xã hội với tính đặc thù của lúc đó, triển khai thành một hệ thống xã hội. Thí dụ, bản sắc của tính “chuyên quyền” (autocratism) trong xã hội tân thời lúc này của Âu châu lại tạo ra một hiệp đồng phát triển gồm ít nhiều đặc tính của chủ nghĩa tư bản cộng với tính phong kiến đã tương đối kéo dài, cùng nhau kìm hãm chính chế độ chính trị, văn hoá là tư tưởng của tự thân xã hội ấy. “Sarít” (Tsarism, chế độ Sa Hoàng), là một hệ thống cai trị nước Nga cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, không chỉ là thơì kỳ “chuyển tiếp" (6) mà còn đã thành một hệ thống hợp nhất phục vụ cho chế độ đó, với những đặc tính riêng trong chế độ đó, đặc tính chế độ ấy là chủ nghĩa tư bản khống chế chính quyền phong kiến, cùng lúc sử dụng chế độ phong kiến, sử dụng đường lối của phong kiến làm phương tiện khai thác bóc lột cho nó.

     Đấy là điều hiển nhiên, vì rằng phong kiến và tư bản đã có “phát triển hiệp đồng”, cho nên cách mạng Nga không thể đầu tiên chỉ lo đánh đổ hệ thống phong kiến mà thôi, mà phải cùng lúc lật đổ chế độ sở hữu cuả Tư bản chủ nghĩa nữa. Rất nhiều nan giải trong thực tế của lịch sử có thể dùng hiểu biết này làm đáp án, bằng cách dùng nguyên tắc “phát triển hiệp đồng” của Trotsky. Để trả lời cho sự xuyên tạc của Đường Bảo Lâm (Tang Baolin), tác giả “Lịch sử Trotskit Tàu” (History of Chinese Trotskism), Vương Phàn Tư trả lời trong Phụ Lục ii, với Gregor Benton về thuyết Cách Mạng Thường Trực, (tr. 204) như sau,” Thuyết CMTT của Leon Trotsky có thể hiểu theo hai nghĩa: “dọc”, tức là trong những nước kinh tế hậu tiến, giai cấp buốcgioa không thể làm cách mạng tư sản nổi, cho nên cách mạng tư sản và cách mạng vô sản phải lồng vào nhau, thực hiện dươí sự lãnh đạo của vô sản; và “ngang”, tức là “sự hoàn tất cuộc cách mạng xã hội trong giới hạn biên giới quốc gia là điều không thể nghĩ tới... Cách mạng xã hội chủ nghĩa khởi đi từ đấu trường quốc gia, trở rộng ra trên lãnh vực quốc tế, và hoàn thành trên toàn thế giới.”

     Làm sao những người như Bành Thư Chí mãi về sau vẫn chưa nắm vững lý thuyết này? Không nên trách ông ta, vì khi mà “Karl Liebknecht còn không hiểu phép Duy vật biện chứng, Plekhanov còn mù mờ về Điều kiện khách quan.” (tr. 187)

     Về thuyết “Cách mạng Thường trực” trong cách mạng Nga, Lênin nhấn mạnh cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa chỉ bắt đầu được sau khi cuộc cách mạng tư sản đã hoàn tất, nhưng sau khi trở về Petrograd tháng Tư, quan niệm ông thay đổi và chấp nhận lý thuyết cách mạng của Trotsky là đúng. (Luận Đề Tháng Tư)

Sự khác biệt giữa đảng Cộng sản Trung quốc và đảng Cộng sản Nga

     Cùng giống nhau trong mục đích, như Trần Độc Tú nhận định về cuộc chiến Trung Nhật là cuộc chiến tranh chống đế quốc, không phải để thực hiện quốc gia chủ nghĩa, “Mục đích tối hậu của cuộc chiến đấu này là để lật đổ những chướng ngại của đế quốc đặt lên cản đường Trung quốc trên đường phát triển kỹ nghệ.”(tr. 80)

Nhưng, một trong những khác biệt lớn nhất của hai cuộc cách mạng Nga - Tàu, là người Nga chỉ lập đảng sau khi đã luận chiến, tranh biện kỹ lưỡng về đường lối cùng  lý thuyết đấu tranh đủ mặt, sự tranh biện trong Đảng vẫn cứ tiếp tục - kể cả về sau.  Cho nên cách mạng Nga sau khi đã minh họa đường lối xong, mới cùng bắt tay vào việc thực hiện; đảng viên có quyền giữ quan điểm riêng của mình. Cách mạng Trung quốc khởi thủy đã không được như vậy. Không được minh định đồng thuận, không có luận chiến đường lối cũng như lý thuyết cách mạng trước khi lập đảng,  - về sau cũng không có chuyện như thế; khi tranh đấu cứ như lao đầu vào lưả. Vì trên lý thuyết thì chúng tôi (Trịnh Kiều Lâm) không nắm vững, cứ tuỳ vào đồng chí nước ngoài cùng Quốc tế Cộng sản: Chúng tôi tin họ lúc nào cũng có giải pháp cho những khó khăn. Đó là lý do chúng tôi thất bại liên tiếp. (tr. 149).

     Thiếu minh định lý thuyết cách mạng là lý do chính làm phân hoá nội bộ đảng Cộng sản do Trần Độc Tú sáng lập. Người con của ông, Trần Yên Niệm (7), đã ủng hộ đường lối Stalin – qua Borodin (8), chống lại Trần Độc Tú. Thiếu minh định lý thuyết cách mạng cũng đưa đến chế độ Mao-ít, hậu quả là nạn cường hào, phi dân chủ, chênh lệch phát triển nông thôn – thành thị; và nông dân vẫn chịu thiệt thòi, họ không thể là chủ cốt trong thời phát triển kỹ nghệ được.

     Những ngoắt ngoéo của lịch sử còn nhiều (9). Trong chiến dịch Maoit vu cáo Trần Độc Tú năm 1938 là gián điệp Nhật ( để xứng với Trotsky bị Staliniêng vu là gián điệp cho Hitle) cùng năm Lỗ Tấn mất (1936) xuất hiện bài viết ký tên ông, “Thư Gửi người Trotskit” nay đã được khám phá ra của một người Staliniêng viết, Phùng Tiết Phong (Feng Xuefeng). Lỗ Tấn là người dịch “Văn Học và Cách Mạng” của Leon Trotsky từ 1926, đối với lãnh tụ của phong trào cải cách văn học là Trần Độc Tú, Lỗ Tấn rất ngưỡng mộ. Nhưng trong chỉ đạo của Đảng trên văn học, Lỗ Tấn tuy được thổi phồng, quan niệm ông đã bị trà trộn, mạo hoá đến thành nghi án. Lỗ Tấn đã nhìn Trần Độc Tú ra sao? (tr. 94-104), Mao Trạch Đông đối với thanh trừng văn nghệ sĩ phản động (Dinh Linh, Luo Feng, Xiao Jin, Ai Qing, Wang Shiwei) thế nào? Đọc kỹ, hẳn sẽ làm người đọc liên tưởng đến sự đầy đọa của không ít văn nghệ sĩ Việt Nam thời Nhân Văn-Giai Phẩm. Mỗi khi nói tới cách mạng thành thị, người ta nhìn lại vai trò của Tả Đối lập. Khi thấy chuyên chính Đảng với chuyên chính Vô sản là hai cái khác nhau, người ta ắt sẽ tìm hiểu quan niệm dân chủ từ Ngũ Tứ Vận Động: Liên hệ xã hội chủ nghĩa và dân chủ là mối quan tâm chủ yếu, nóng bỏng của thế hệ trẻ trong nước hiện nay, đăbiệt tại các Đại học. Nền kỹ nghệ vô sản nay tiến tới lực lượng trên 50 triệu công nhân, khác với thời 1949 chưa tới 1 triệu. Đã là một bước tiến dài của xã hội Trung quốc từ khi khai lập Đảng (1921), từ thời Cách mạng văn hóa 1966 - đóng cửa 4 năm toàn thể các Đại học: Nay công nhân không còn mù chữ nhiều như thời Trần Độc Tú; Nông dân cũng đã giữ vai trò tích cực trong phát biểu, sinh hoạt chính trị.

     Cuốn này đã mổ xẻ được phần nào những sai lầm của những người làm Cách mạng khởi thủy Trung quốc. Thất bại của họ sẽ là những đóng góp tích cực cho các thế hệ sau, cho những ai muốn phân tách diễn biến của các thế lực đương đại ... một khi rút được kinh nghiệm của người trước. Những chằng chịt của lịch sử, tuy mù mịt, nhưng không phải không có lối ra - cho những người muốn tìm hiểu.

Vũ Huy Quang, 12/01.

(Thương Tiếc Anh Đặng Văn Long (1919-2001), tác giả “Người Việt ở Pháp 1940-1954”)

Cước Chú:

(1) Trần Độc Tú (Chen Duxiu, 1879-1942): Chủ biên “Tân Thanh Niên”, lãnh tụ Tân Văn Hoá sáng lâp đảng Công sản Trung quốc, là Tổng bí thư cho đên1927. Năm 1931, thành Trotskit, lập Tả Đối lâp Vào tù 1932, được thả sau biến cố Lư Cầu Kiều bùng nổ, 1937.

(2) Lý Đại Chiêu (Li Dazhao, 1889-1927): Một trong những lãnh tụ đầu tiên của Đảng Cộng sản Trung quốc, đứng thứ hai sau Trần Độc Tú. Bị hành quyết ở Bắc Kinh. Đã từng nâng đỡ kiê᭠cho Mao Trạch Đông ( 1893-1976) chân chạy việc ở Thư viện Bắc Kinh. (Found Mao a menial job in the library at Peking Univsity. It’s was 1918. (p. 51) –“Mao for Beginners” -Rius, 1980 ).

(3) Vương Phàn Tư (Wang Fanxi, 1907-): Gia nhập đảng từ hồi là sinh viên ở Bắc Kinh. Thành Trotskit ở Moscow. Về nước làm phụ tá Chu Ân Lai, 1929. Hoạt động cạnh Trần Độc Tú 1930-31, sau khi bị đảng khai trừ. Bị bắt 1931, và 1937. Sống trong tù những năm biến động. Lưu vong từ 1949.

 (4) Trịnh Kiều Lâm (Zhang Chaolin (1901-): Văn gia và dịch giả, gia nhập đảng Cộng sản ở Paris 1922. Thành viên của Uy ban Hồ Bắc, 1925-27, thành Trotskit 1929, thành viên sáng lâp Trotskit Trung quốc. Bị tù lâu nhất lịch sử. Hồi ký đã được ân hành 1986 tại Trung quốc.

(5) Bành Thư Chí (Peng Shuzhi, 1896-1983): Du học Moscow, Ủy viên Trung ương 1925. Bị Quốc tế Cộng sản khai trừ khỏi Đảng CSTQ cùng Trần Độc Tú 11/1929 vì tội ủng hộ Trotskit. Sống lưu vong ở Los Angeles vài năm trước khi chết.

(6) “Chuyển tiếp”: Transitional. Thường dịch là “quá độ” mỗi khi nói về lý thuyết, lịch sử cách mạng vô sản. Thực ra chuyển tiếp có thể là chuyển tiếp trong bất cứ chế độ vơí tương quan sản xuất nào của lịch sử.

(7) Trần Niệm, (Chen Yannian, 1899-1927): Bí thư Nam khu-bộ được điều động làm viêc ở Quảng châu. Trong cuộc tranh chấp đường lối của Borodin-Trần Độc Tú là nên hợp tác vơí QDĐ, Yên Niệm ngả theo phe Borodin, cho Borodin là đại diện đích thực của cách mạng Nga. Sau bị Tưởng giết tại Thượng Hải. (Một con trai khác của Trần Độc Tú, Trần Quán Niệm (Chen Quaonian, 1902-1928) gia nhập đảng ở Pháp, bị Tưởng giết tại Giang tô).

(8) Borodin, Mikhail Markovich (1884-1951): Đại diện Quốc tế Cộng sản từ Moscow cạnh QDĐ. Ủng hộ hợp tác Quốc Cộng đưa đến tàn sát Thượng Hải 1927. Theo Workers Vanguard,  “Mădù có những yêu cầu lập đi lập lại từ những nhà lãnh đạo Cộng sản Trung quốc đòi tách khỏi QDĐảng, Stalin – Bukharin vẫn kềm lại. Được chỉ định từ Moscow, Borodin làm cố vấn cho Tưởng Giới Thạch, tuyên bố rằng Cộng sản Tàu nên “làm cu-li” cho QDĐ. Tưởng còn được bầu là thành viên danh dự của Comintern (Quốc Tế Cộng sản), chỉ có một phiếu chống – là của Trotsky.”(Despise renewed request from the CCP leadership to quit the KMT, Stalin and Bukharin held fast. Borodin, assigned by Moscow to act as Chiang’s advisor, declared that Chinese Communist should do “coolie service” for the Guomingdang. Chiang was made an honorary member of the Comintern with only one opposing vote – Trotsky.”)    – Spartacist, Summer, 1997. (tr. 26).

(9). Cuộc cách mạng thứ nhì ở thành thị bắt nguồn từ 30 tháng Năm, 1925, khi học sinh sinh viên biểu tình chống lại áp bức của cảnh sát đối với lao động, bị lính Anh bắn chết 12 người. Cuộc đình công lan ra khắp Thượng Hải, Quảng Đông, Hán Khẩu và Hong Kong, cộng với phong trào tẩy chay hàng hoá Tây phương trên các thành phố lớn. Tháng Ba, 1927, quân QDĐảng kéo đến Thượng Hải, nơi có trên 500,000 thợ thuyền đình công, sắp nổi dây. Phong trào vô sản với 150 khẩu súng, họ chiếm được trại Cảnh sát, các đốc quân cát cứ đã bỏ chạy, nhưng Stalin đã ủng hộ Tưởng trong việc tàn sát hàng triệu người nổi dậy, trong đó có 25,000 cán bộ Cộng sản. Xã hội đen gom góp cùng 50 công ty nước ngoài và Ngân hàng lo lót cho Tưởng 10 triệu USD đê ban hành thiết quân luật cùng càn quét Nghiệp đoàn. Tưởng khánh thành chiến thắng tàn sát này, bằng danh xưng “Liên Hội Quốc tế Chống Cộng đầu tiên khai mạc”. (The First Conference of The World Anti-Communist League).

 

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........