curley_sw.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw.gif (1967 bytes)

.......... .
 

Phụ Bản:

Đại Nam Thực Lục, Chính Biên & Nuớc Chân Lạp
cùng binh lính Việt ở thành Nam Vang

14/3-12/4/1801 [Tháng Hai Tân Dậu]: Hoàng tử Cảnh (1780-1801) chết vì bệnh đậu mùa ở Gia Định. (2:386)

Vợ là Tống Thị Quyên và hai con, Đán (Mỹ Đường) và Mỹ Thùy.

Giám mục Francois Pellerin, khi ra tường trình trước Ủy Ban Cochinchine tại Paris vào tháng 5/1857, nói có lẽ vua Gia Long đã giết Cảnh. (Xem Nguyên Vũ, Paris, Xuân 1996 (Houston: Văn Hoá, 1997). Không rõ Pellerin đã dựa theo nguồn tin nào.

Tháng 10 Mậu Tuất [17/11/1838]: Vua Minh Mạng bảo thị thần: Việc thông dịch tiếng Tây dương, trẫm nghĩ rất khó .... Vả lại phong tục nước ấy, giả dối nham hiểm bất thường, đạo giáo Gia-tô, ngày thường trẫm càng ghét lắm. Bọn khanh há không nhớ thái tử Anh Duệ ư? Hoàng khảo ta lúc mới mở nước, bị nước Xiêm khống chế, gửi thái tử Anh Duệ cho người Tây đem về nuôi dạy, để mưu tính giữ gìn. Đến khi lấy lại được Gia-định, nước ấy trả về, Thái tử không chịu bái yết tôn miếu, nói rằng áo quần theo cách thức nước ấy, Hoàng khảo ta đến bấy giờ mới hối, may nhờ Cao Hoàng hậu khéo dạy dỗ, vài tháng sau thái tử mới thay lòng đổi dạ, không thế hầu làm người Tây rồi. Lấy đấy suy ra, phong tục nước ấy dễ làm mê đắm lòng người, thật là đáng ghét." (ĐNTLCB, II, 20:250-1)

13/5-10/6/1801 [Tháng Tư Tân Dậu]: Hoàng tử Hi, con thứ hai của Nguyễn Chủng, chết bệnh.

Hi võ nghệ giỏi, thường mang theo búa bằng đồng. (2:395)

27/9/1802 [Tháng Chín Nhâm Tuất]: Hà-Nội: Gia Long phong Lê Duy Hoán làm Diên tự công.( ĐNTLCB, I, 3:74-5).

- Nguyễn Văn Thành làm Tổng trấn Bắc thành. (ĐNTLCB, I, 3:80-2)

Đặt ba "Tào" Hộ (giao cho Nguyễn Văn Khiêm), Binh (Đặng Trần Thường), và Hình (Phạm Như Đăng).(Ibid., 80)

4/12/1803: Quảng-Nam: Tàu Gunjava của John W. Roberts tới vịnh Đà Nẵng.

Xin gặp Gia Long nhưng vua bận tuần thú ra Bắc. Các đại thần địa phương cũng từ chối không gặp. Liên lạc với ba giáo sĩ Ki-tô là Jean Labartette, Giám mục Veren, cùng các Linh mục Jacques Liot và Francois-Joseph Gérard.

Tháng Giêng Giáp Tí [11/2-11/3/1804]:

4/3/1804: Thanh-Hoa: Gia Long ban chỉ dụ về vấn đề tôn giáo.

Không được sửa chữa các nhà thờ, chùa chiền v.. v.. nếu không được phép của các quan địa phương. Nếu vi phạm, xã trưởng phải bị đầy đi xứ xa, dân thì sung làm dịch phu, nhẹ thỉ đánh roi hay trượng, "để bớt tổn phí cho dân, mà giữ phong tục thuần hậu." (ĐNTLCB, I, 3:162-9)

Về đạo Ki-tô:

"Lại như đạo Gia tô là tôn giáo nước khác truyền vào nước ta, bịa đặt ra thuyết thiên đường địa ngục khiến kẻ ngu phu ngu phụ chạy vạy như điên, tiêm nhiễm thành quen, mê mà không biết. Từ nay về sau, dân các tổng xã nào có nhà thờ Gia tô đổ nát thì phải trình quan trấn mới được tu bổ, dựng nhà thờ mới thì đều cấm." (ĐNTLCB, 3:168-9. Theo các giáo sĩ, cấm cả sửa chữa nhà thờ; Louvet, La Cochinchine religieuse, II:16-9; Huồn 1965, I:267-8).

1/1/1805 [Tháng Chạp Giáp Tý]: Bangkok: Lễ thụ phong của vua Chân Lạp là Ang Chan II (Nặc ìng Chăn). Ang Chan mới 15 tuổi. Ngay sau đó, Ang Chan xin thuần phục Việt Nam; định lệ cống 4 năm một lần. Ba anh em của Ang Chan là Ang Em, Ang Duong và Ang Nguyên ở lại Xiêm.

28/1/1808 [Tháng Giêng Mậu Thìn]: Gia Định: Đổi tên các dinh trấn.

Gia Định trấn: Gia Định thành. Dinh Phiên trấn: trấn Phiên An; Dinh Trấn biên: trấn Biên hòa. Dinh Vĩnh trấn: trấn Vĩnh Thanh. Dinh Trấn Định: trấn Định Tường. (3:360-1)

20/10-17/11/1808 [Tháng Chín Mậu Thìn]: Gia Định: Đặt chức Tổng trấn Gia Định thành.

Lấy Nguyễn Văn Nhân làm Tổng trấn; Trịnh Hoài Đức làm Hiệp tổng trấn. Ban ấn bạc có tay cầm hình sư tử.(3:394)

4/2-4/3/1810 [Tháng Giêng Canh Ngọ]: Bắc thành:  Nguyễn Văn Thành có tang mẹ, xin đưa quan tài về kinh đô. Vua chấp thuận.

Nguyễn Hoàng Đức thay làm Tổng trấn; Lê Chất làm Hiệp Tổng trấn; Phạm Như Đăng làm Tham Hiệp Tổng trấn. (4:64)

* Gia Định: Tổng trấn Nguyễn Văn Nhân bị ốm. (4:52)

27/11-25/12/1810 [Tháng Một Canh Ngọ]: Chân Lạp: Gia Long sai Nguyễn Văn Nhân qua Nam Vang duyệt xét tình hình. (4:98-9, 101-2) Sau, quân Xiêm rút về. (4:103)

25/1/1811 [Tháng Giêng Tân Mùi]: Nguyễn Văn Nhân mang quân về Gia Định. Giải tán hương binh. (4:106)

24/3/1811 [Tháng Hai Nhuận Tân Mùi?] Huế: Xứ Xiêm nói về việc Nặc Chăn giết quan Bảo hộ Xiêm. (4:110-1, 112-3)

23/4/1811 [Tháng Ba Tân Mùi]: Nam Vang: Rút Nguyễn Văn Tồn về nước. Lập 3 đội Tráng ngự, Cường ngự, và Uy ngự, giao cho người Việt ở Chân Lạp cầm đầu. (4:114)

11/4-10/5/1812 [Tháng Ba Nhâm Thân]: Nặc Nguyên và Nặc Yêm cầu viện Xiêm đánh Chân Lạp. Nặc Chăn chạy về Nam Vang. Nguyễn Văn Thụy [Thơại] đưa Nặc Chăn về Gia Định tạm trú. (4:146-7)

9/7-6/8/ 1812 [Tháng Sáu Nhâm Thân]: Chân Lạp: Xiêm phải rút quân về vì đánh nhau với Miến Điện. (4:154-5)

* Huế: Nguyễn Văn Thành xin lập Thái tử. (4:157)

7/8-5/9/1812 [Tháng Bảy Nhâm Thân]: Gia Định: Lê Văn Duyệt thay Nguyễn Văn Nhân làm Tổng trấn. (4:160)

1/5-29/5/1813 [Tháng Tư Quí Dậu]: Gia Long cho lệnh Lê Văn Duyệt và Ngô Nhân Tĩnh mang 13,000 quân dẫn Nặc Chăn về nước. (4:187-9) Đắp thành Nam Vang cho Nặc Chăn ở. Tuy nhiên, bọn Nặc Nguyên vẫn ở Xiêm.

27/7/1813 [Tháng Bảy Quí Dậu]: Chân Lạp: Xây xong thành Nam Vang và Lô Yêm. Lê Văn Duyệt rút quân về. Nguyễn Văn Thụy [Thoại] ở lại bảo hộ với hơn 1000 quân. (4:194-5)

20/2/1814 [Tháng Hai Giáp Tuất]: Huế: Tống Hoàng hậu chết.

Thọ 54 tuổi. Vua cho Hoàng tử thứ tư, con nuôi của Tống Hoàng hậu làm chủ tế. Nguyễn Văn Thành muốn Hoàng tôn Đán (tức Mỹ Đuòng, con Hoàng tử Cảnh làm Chủ tế). Gia Long nói con theo mệnh cha để tế mẹ là việc danh chính, ngôn thuận, có gì mà không nên." Nguyễn Văn Thành có ý không bằng lòng.(4:213-4)

7/7/1815 [Tháng Sáu Ất Hợi]: Gọi Lê Văn Duyệt về kinh. Trương Tấn Bửu quyền Tổng trấn Gia Định.(4:252)

30/12/1815-28/1/1816 [Tháng Chạp àt Hợi]: Vua Chân Lạp trở thành một loại "chim hai đầu."

Vừa cống hiến Việt Nam, vừa cống hiến Xiêm.

* Huế: Vua hạ ngục Nguyễn Văn Thuyên, con Nguyễn Văn Thành (1758-1817).

Thành, gốc Thừa-thiên, sau tổ tiên rời vào Gia-định. Trước theo cha chống Tây Sơn ở Sông Cầu. Từng theo Nguyễn Chủng qua Xiêm La, giúp quân Xiêm đánh thắng Miến Điện. Là người đứng đầu sổ công thần, và được phong Tổng trấn Bắc thành. Năm 1810, nhân mẹ chết, mang quan tài về Huế, rồi nắm giữ binh lực (Chưởng Trung quân).

Nguyên cớ chính là Thành có ý lập Hoàng tôn Đán, trong khi Gia Long muốn lập Hoàng tử   Đảm. Có lần Gia Long giận nói: "Hắn muốn dựng vua nhỏ để dễ khống chế, ngày sau có thể chẹt họng, vỗ lưng chăng. Ta há tối tăm lầm lẫn, không biết đắn đo nên chăng, vội nghe lời hắn mà không vì xã tắc chọn người sao?"

Từ đó hễ vào chầu là Thành chỉ xin dựng Thái tử. Vua nín lặng. Thành biết không được vừa ý, lòng sinh ngờ sợ.

Con là Thuyên có lòng mưu phản, chiêu tập hào khách. Có người khách cũ là Nguyễn Trương Hiệu tố cáo với Thiêm sự Hình bộ Nguyễn Hữu Nghi rằng Thuyên muốn nổi loạn, từng sai Hiệu mang thơ thi mời gọi bọn Nguyễn Văn Khuê, Nguyễn Đức Nhuận, lời lễ rất bội nghịch.

Thơ rằng:

Văn đạo Ái châu đa tuấn kiệt
[Nghe nói đất Ái châu nhiều tuấn kiệt]
Hư hoài trắc tịch dục cầu ti
[Ta để dành chiếu trống bên cạnh đợi chờ]
Vô tâm cửu bảo Kinh sơn phác
[Vô tâm ôm mãi ngọc Kinh sơn]
Thiện tướng phưong tri Ký bắc kỳ
[Tướng tài mới biết ngựa ký đất bắc]
U cốc hữu hương thiên lý viễn
[Hương thơm trong u cốc cũng lan ra ngàn phương]
Cao cương minh phượng cửu cao tri
[Phượng gáy trên gò cao vang chín chằm]
Thử hồi nhuợc đắc trung sơn tể
[Ví thử tìm được tay tể [tướng] trong hang núi]
Tá ngã kinh luân chuyển hóa ky.
[Giúp ta ra tay chuyển cơ trời]

Nghi khuyên Hiệu mang bài thơ tố cáo với Lê Văn Duyệt. Duyệt vốn không ưa Thành, nạp bài thơ cho Gia Long. Vua thoạt tiên chưa muốn tra cứu.

Hiệu nhân thế giữ bài thơ làm tiền Thuyên. Có lần còn chặn đường Thành đòi tiền. Thành bèn cho bắt cả Hiệu và Thuyên, giao cho Quảng Đức viện tra hỏi, rồi đích thân trình sự việc với vua Gia Long.

Gia Long giao cho đình thần bàn nghị. Hiệu viện dẫn môn khách của Thuyên là Đỗ Văn Chương làm chứng, nhưng Chương đã bỏ vào Gia Định. Vua bèn tha Thuyên, và cho lệnh bắt Chương về Kinh đối chất.(4:267-9) [Xem 28/2/1816]

- Gia Long cấm dân Việt không được qua Chân Lạp làm ăn. (4:264-5)

29/1-27/2/1816 [Tháng Giêng Bính Tý]: Đổi Tổng trấn Bắc thành là Nguyễn Huỳnh Đức làm Tổng trấn Gia Định. (4:270)

* Châu Đốc: Đắp bảo Châu Đốc. (4:273)

28/2/1816 [Tháng Hai Bính Tý]: Ký lục Quảng Trị là Nguyễn Duy Hòa hạch tội Nguyễn Văn Thành. (4:275-6)

Tham tri bộ Hình Võ Trinh và Chưởng cơ Tống Phước Ngoạn bị hạ ngục. Lý do là xúi người làm chứng gian bênh vực Nguyễn Văn Thuyên. (4:277)

29/3/1816 [Tháng Ba Bính Tý]: Gia Long muốn lập Hoàng tử thứ tư là Hiệu làm Thái tử. (4:278-80) Hiệu còn có tên là Đảm (1791-1841).

27/4/1816 [Tháng Tư Bính Tý]: Thu ấn Chưởng trung quân của Nguyễn Văn Thành. Thuyên bị tống giam vào ngục.

Nguyễn Văn Nhân làm Chưởng Hữu quân, lãnh ấn Chưởng Trung quân của Thành.(4:283-4)

27/5/1816 [Tháng Năm Bính Tý]:

Tháng Năm [Ngày [11] Kỷ Mùi]: Chuẩn bị lễ tấn phong Hoàng thái tử.(ĐNTLCB, I, 4:288-289)

25/6/1816 [Tháng Sáu Bính Tý]:

25/6/1816: Huế: Ban mũ áo cho Hoàng thái tử Đảm. (4:288)

5/7/1816: Huế: Chính thức lập Đảm làm Hoàng Thái tử. (4:288)

- Luận tội Thành và Thuyên. (4:292-3)

21/9/1816 [Tháng Tám Bính Tý]: Huế: Sứ Xiêm tới hỏi việc Nặc Chân. (4:299)

- Phong Trương Tấn Bửu làm Chưởng Trung quân. (4:300)

21/10/1816 [Tháng Chín Bính Tý]: Nguyễn Huỳnh Đức làm Tổng trấn Gia Định. (4:305)

* Chân Lạp: Cử Chưởng cơ Lưu Phước Tường thay Nguyễn Văn Thụy [Thoại]. (4:300)

Sứ Chân Lạp có thể chầu hàng năm ở Gia Định. (4:301)

19/11/1816 [Tháng Mười Bính Tý]: Huế: Người tự nhận ăn cắp ấn Tả quân của Lê Văn Duyệt khai do Nguyễn Văn Thành xúi bẩy. Vua không tin. (4:302)

19/12/1816-16/1/1817 [Tháng Một Bính Tý]: Gia Long cử Lưu Phước Tường làm Bảo hộ Chân Lạp. (4:305)

15/6-13/7/1817 [Tháng Năm Đinh Sửu]: Nguyễn Văn Thành bị tống giam; uống thuốc độc tự tử.

Thành bị khép vào tội mưu phản với Lê Duy Hoán. Con Thành là Thuyên bị lăng trì. (ĐNTL,CB, I, 4:319-22) Việc này liên quan đến chuyện phế lập. (Xem ĐNTL,CB, I, 4:214) Cũng có thể do tư thù với Lê Văn Duyệt và Lê Chất. (ĐNTL,CB, I, 4:302)

Con Thành là Nguyễn Văn Hàm sau theo Nguyễn Hựu Khôi làm loạn, chỉ huy lực lượng Ki-tô giáo. Vì thế tất cả các con cháu Thành đều bị giết. Mãi tới năm 1848, Vũ Xuân Cẩn mới dâng sớ xin truy xét công trạng của Thành; cho dòng dõi là Loại làm chủ quân Cai đội.(ĐNTL,CB, IV, 27:76-7,119-20) [Xem Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối, tập I, tr. 83n38]

Petrus Key và các giáo sĩ chép rằng chuyện này xảy ra dưới thời Minh Mạng, và “Nguyễn Văn Thiềng” [Thành] “Phó vương (Vice Roi) ở Bắc Kỳ” bị Minh Mạng giết vì một bức thơ giả mang dấu ấn của Thiềng. Lê Văn Duyệt “ngán ngẫm” trước cảnh này, xin vào Gia định đánh giặc. (Cours d’ histoire annamite, 1857, tome II, tr. 261; Trấn 1993, tr. 51-2.

* Nam Vang: Đặt thêm đội Hùng bộ, mộ dân Việt xung vào. (4:322)

11/9-10/10/1817 [Tháng Tám Đinh Sửu]: Cách chức Bảo hộ Lưu Phước Tường. Phó tướng Tả quân Nguyễn Văn Xuân thay. (4:330)

30/9-29/10/1818 [Tháng Chín Mậu Dần]: Lấy Chưởng cơ Nguyễn Văn Thụy [Thoại] làm Thống chế, bảo hộ Chân Lạp. Nguyễn Văn Xuân lãnh trấn thủ Vĩnh Thanh.

27/12-25/1/1819 [Tháng Chạp Mậu Dần]: Rút bảo hộ Nguyễn Văn Thụy [Thoại] về Gia định. Cử Trần Văn Tuân thay. Vua Chân Lạp không thích Thụy, muốn lưu giữ Nguyễn Văn Xuân. (4:363-4)

19/10-17/11/1819 [Tháng Chín Kỷ Mão]: Đào sông Vĩnh Tế. Từ Châu đốc qua Hà Tiên. Sử dụng 5,000 nhân công, 500 dân quân. Còn dùng 5,000 dân Miên. Bắt đầu từ tháng 12.(4:389-90)

* Nam Vang: Bãi bỏ chức Bảo hộ. Chỉ lưu lại 3 ngự đội trú đóng tại Nam Vang.(4:390)

* Gia Định: Tổng trấn Nguyễn Huỳnh Đức, chưởng Tiền quân Quận công chết. Chưởng Hữu quân Nguyễn Văn Nhân thay. (4:390-1)

11/6-9/7/1820 [Tháng 5 Canh Thìn]: Chưởng Tả quân Lê Văn Duyệt được cử làm Tổng trấn Gia Định.

Toàn quyền hành động. Giết được Sư Kế, lãnh tụ kháng chiến chiến quân Chân Lạp. Giết Phó trấn Hoàng Công Lý.(ĐNLT,CB, q. 23 (Lê Văn Duyệt hạ), 1993 [Việt ngữ], II:391-2)

6/8/1823 [Tháng Bảy Quí Mùi]: Lê Văn Duyệt xin về kinh.

Vua thuận cho mang theo 1000 biền binh. Cử Trương Tấn Bửu làm quyền Tổng trấn.(6:212)

2/12/1823 [Tháng Một Quí Mùi]: Lê Văn Duyệt về tới kinh. (6:237-8)

1/3-29/3/1924  [Tháng Hai Giáp Thân]: Lê Văn Duyệt và Lê Chất dâng sớ xin từ chức Tổng trấn. (7:16)

27/6-25/7/1824  [Tháng 6 Giáp Thân]: Cho Lê Văn Duyệt về lại Gia Định thành. (7:63)

Chuyến đi này của Duyệt liên hệ đến vụ án Mỹ Đường thông gian với Tống Thị Quyên. Duyệt trấn nước Tống Thị Quyên đến chết. (7:104; ĐNLT, CB q. 20 (truyện Anh Duệ Hoàng thái tử) & 23 (truyện Lê Văn Duyệt hạ), [1993] II:52, 396) [Xem Tháng 12 Giáp Thân]

11/12/1924: Chaigneau và Vannier rời Đà Nẵng vào Sài-gòn.

Lê Văn Duyệt tiếp đón. Sau qua Singapore, rồi lên tàu Courrier de la Paix của hãng Balguerie et Cie về Bordeaux vào tháng 9/1825. Chaigneau chết tại Pháp năm 1832; Vannier, năm 1842.

19/1-17/2/1825  [Tháng 12 Giáp Thân]: Gia Định: Thành lập đội Hồi lương.

492 tù xung quân và tội lưu được tổ chức thành 10 đội Hồi lương; mỗi đội 50 người. (7:103)

* Huế: Biếm chức Mỹ Đường (?-1849) thành thường dân.

Trước đây, Mỹ Đường bị kết tội thông gian với mẹ đẻ là Tống Thị Quyên. Lê Văn Duyệt dìm chết Tống Thị Quyên. Mỹ Đường không được vào chầu. (ĐNTL,CB, 7:104-5; ĐNLT,CB, q. 2 & 23 (1993), II:49, 396)

Đây là dư hưởng cuộc tranh ngôi báu từ năm 1816. Cuộc thảm sát Tống thị Quyên, vợ Cảnh, năm 1824 và cái chết của Mỹ Thùy (em Đán) hai năm sau khiến các giáo sĩ tung tin Minh Mạng giết chị dâu và cháu để che dấu tội loạn luân. Thực ra, Mỹ Đường chết năm 1849. Riêng con trưởng Mỹ Đường, Tôn Thất Lệ Chung, được lấy làm con Mỹ Thùy, để thờ phụng Anh Duệ, với tước Thái bình công, hưởng lương bổng ngang với Chánh nhị phẩm. Sau khi Mỹ Đường chết, Tự Đức cho con cháu được biên lại vào sổ Tôn thất.(ĐNLT, CB, q. 2 (truyện Anh Duệ) [1993], II:49-52)

Thập niên 1870, Petrus Trương Vĩnh Ký, trong tập Cours d’histoire annamite [Bài giảng sử nước An Nam], (1877, II:258-9), thuật lại rằng: Người ta nói Minh Mạng “đi lại” với chị dâu góa [Tống Thị]. Và chị có thai. Khi cái bụng không còn ém được người đàn bà bị kết tội lăng chạ và thọ tử hình, chết với hai đứa con trai, với cái ơn vua là tự lựa chọn trong “tam ban trào điển” [tự tử bằng thuốc độc, thắt cổ, hoặc dao găm]. Sau khi Trần Trọng Kim, tác giả VNSL, khẳng định lời đồn này vô căn, (II:187) vẫn có người, vì lý do này hay lý do khác, lập lại “lời đồn” trên trong tác phẩm của mình như một sự thực lịch sử. (Phan Phát Huồn 1965, I:300-1; Nguyễn Văn Trấn 1993, tr. 51).

12/2/1825: Huế: “Dụ” cấm đạo đầu tiên. Theo các giáo sĩ, triều đình gửi cho Tổng đốc Quảng-nam văn thư sau:

"Tà đạo của Âu châu làm hư hỏng lòng người. Từ lâu, các thuyền Âu châu  khi đến buôn bán đã để lại nhiều cố đạo trong nước. Những cố đạo này dụ dỗ và làm hư hỏng nhân dân, đồng thời thay đổi và phá đổ các tập tục tốt lành trong nước....[K]hi có tàu Pháp đến thì phải chú tâm xem xét cẩn thận." (Thơ của Taberd, 1825, Annales III:456; Louvet, La Cochinchine religieuse, II:41; Huồn 1965, I:279; Gosselin, 113)

17/2/1825: Một nhà du lịch Bri-tên nhận xét Chân Lạp chia làm 3 phần: một do Xiêm kiểm soát, một do Việt, phần còn lại tự trị. (J.H. Moor, Notices of the Indian Archipelago (Singapore 1838; reprinted London 1968), tr. 238, dẫn Calcutta Journal, Feb 11, 1823; In Search 1971:120)

20/3/1825  [Tháng Hai Ất Dậu]: Mỹ Đường (Đán) đi thăm con bị bắt về. (7:120)

4/8-1/9/1826  [Tháng Bảy Bính Tuất]: Thái Bình Công Mỹ Thùy chết. (8:76)

Thùy đang bị lính ở Dực Chấn kiện thì bị bệnh chết. Không có con, bèn lấy con cả của Mỹ Đường (Đán) là Lệ Chung, tập phong làm Ứng Hòa Hầu, phụng thờ Anh Duệ Hoàng Thái tử. Năm sau, đổi làm Thái Bình hầu.(ĐNLT,CB, 1993, II:49)

2/9/1826  [Tháng Tám Bính Tuất]: Cho Lệ Chung, con Mỹ Đường (Đán), mới 6 tuổi được tước Ứng Hòa hầu. (8:97)

29/12/1826-26/1/1827  [Tháng Chạp Bính Tuất]: Taberd [Phú Hoài Nhân] được phong làm Giám mục Đàng Trong.

Dưới quyền có 8 giáo sĩ, 20 giáo mục bản xứ, và 60,000 giáo dân.(Huồn 1965, I:283)

22/8-20/9/1827  [Tháng Bảy Đinh Hợi]: Chao Anu chạy qua tá túc ở Nghệ An. (8:273)

* Huế: Bổ Taberd làm chánh thất phẩm thông dịch ty Hành nhân.

Tây Hoài Hoa (Isodoro Gagelin) và Tây Hoài Hóa (Odorico de Collodi), tùng thất phẩm. Cấm không được ra ngoài để truyền giáo.(8:283) Ba giáo sĩ được mời về Huế là Gagelin [Tây Hoài Hoa], Taberd (Phú Hoài Nhân), và Odorico de Collodi (Tây Hoài Hóa). Ba người làm việc từ 1827 tới 1828; Woodside 1971: 264-5. Họ được cư ngụ trong cung điện dành cho các đại sứ ngoại quốc. [Xem 1/6/1828] Sau này, Gagelin [và Jaccard] bị Minh Mạng giết, được Giáo hội La Mã phong thánh.

Về cơ quan thông dịch của triều Nguyễn, Hành Nhân ty thành lập năm 1827, và qua năm 1835, đổi thành Tứ dịch quán; Đại Nam hội điển sự lệ, 10:33ff; Woodside 1971:264.

Một tác giả Pháp ghi họ được chức Chánh nhị phẩm [cao hơn Tổng đốc!; Launay, Histoire générale de la Société des Missions étrangères, II:530; Huồn 1965, I:280-1)

Tháng Mười Đinh Hợi [19/11-17/12/1827]:

12/1827: Lê Văn Duyệt về tới kinh đô.

Theo các giáo sĩ, Duyệt về Huế [vào tháng 8/1827] để xin tha cho các cố đạo.(Louvet, La Cochinchine religieuse, II:43; Launay, Histoire de la SME, II:534; Cultru, Histoire de la Cochinchine francaise, 43; Huồn 1965, I:282). Trên danh nghĩa, Duyệt về Kinh dự lễ Thượng thọ 60 tuổi của Hoàng Thái hậu. (7:308, 317) [Xem tháng 3 Mậu Tý]

14/4-13/5/1828 [Tháng Ba Mậu Tý]: Lê Văn Duyệt về lại Gia Định.

Duyệt bị ốm nên ở lại Huế. Cho Duyệt trở lại Gia Định vì người Xiêm nể sợ. Cho mang theo vệ úy Lê Văn Tề, cùng các vệ Minh Nghĩa, 2 vệ Tả bảo nhất, Tả bảo nhị, và 2 cơ Thanh thuận, An thuận.(9:42) Phong cho Nguyễn Hựu Khôi làm phó vệ úy vệ Minh Nghĩa. Theo lời xin của Lê Văn Duyệt.(9:31)

14/5/1828 [Tháng Tư Mậu Tý]:

1/6/1828: Taberd, Gagelin và Odorico được phép rời Huế vào Nam.

Theo các giáo sĩ đây là do Duyệt đích thân ra Huế xin cho họ. [Sử Nguyễn không chép việc này]

12/6/1828 [Tháng Năm Mậu Tý]: Bắc Thành: Phát hiện vụ tham ô của Trần Nhật Vĩnh khi còn ở Gia-định.

Vĩnh trước là người tin cậy của Duyệt ở Gia định.(9:66, 71) Tháng Hai Kỷ Sửu [5/3/1829], giết Trần Nhật Vĩnh. Tịch biên tài sản Vĩnh được 128,000 quan. Cách chức Phạm Văn Châu, trấn thủ Phiên an; cai bạ Nguyễn Bá Uông; hiệp trấn Ngô Đức Chính.

4/2-4/3/1829 [Tháng Giêng Kỷ Sửu]: Nghệ An: Con A Nỗ là Chiêu Sơ chạy sang Trấn Tĩnh.

Khi A Nỗ dẫn binh về nước, bị Chiêu Nội, Phòng ngự sứ Trấn Ninh, bắt giải qua Xiêm. Chiêu Sơ xin về Nghệ An, nhưng vua ngại tai tiếng, cho ở Trấn Tĩnh.(9:170)

* Huế: Francis Jaccard (Phan Văn Kính hay Ninh?) được bổ nhiệm làm quan trong Hành Nhân ty [tới 1833].

Jaccard là người đã dịch cho Minh Mạng một số tài liệu về cuộc cách mạng 1789 của Pháp, cuộc đời Napoléon và cuộc chinh phục Ấn Độ của Bri-tên (Woodside 1971: 264-5). Sau này, Jaccard [và Gagelin] bị Minh Mạng giết, và được Giáo hội La Mã phong thánh. [Về cơ quan thông dịch của triều Nguyễn, Hành Nhân ty thành lập năm 1827, và qua năm 1835, đổi thành Tứ dịch quán; Đại Nam hội điển sự lệ, 10:33ff; Woodside 1971:264].

5/3/1829 [Tháng Hai Kỷ Sửu]: Huế: Sai Bạch Xuân Nguyên làm Chánh sứ qua Xiêm về việc Vạn Tượng.

Nguyên A Nỗ đã bỏ chạy sang Nghệ An. Được quân Nguyễn đưa về. Sau hiềm khích với người Xiêm, đánh nhau. Qua năm 1828, quân Xiêm giết chết sứ giả Việt gửi qua Xiêm. Sau quân Xiêm lại tấn công qua Lào.

Minh Mạng chỉ muốn giữ tình láng giềng với Xiêm. Miến Điện đã muốn liên kết đánh Xiêm, nhưng Minh Mạng từ chối. Cử sứ sang Xiêm, không có hồi âm. Đòi trả lại Lê Đình Duật và đạo sắc thư gửi cho A Nỗ, đồng thời trừng trị Thung-vi-sây, người đã giết sứ giả, và bọn tùy tướng ở địa phương (thiên tý). (9:186-9)

12/4-11/5/1831  [Tháng Ba Tân Mão]: Lê Văn Duyệt mật báo quân Xiêm có thể gây hấn ở Lào và Chân Lạp.

Sau đó Duyệt lại mật báo đa số người Phiên đều "hai lòng." (10:234-6, 237-8) Rồi báo quân Xiêm đưa hai em Nặc Chăn là Nặc Yêm, Nặc Giun về nước để báo hiếu cho mẹ. (10:239-41)

[Tài liệu Miên ghi năm 1830, Tướng Xiêm là Bodin đưa Ang Em và Ang Duong về nước. Ang Chan II phải bỏ chạy khỏi kinh thành. Bodin đưa quân đến tận Châu Đốc. Bị quân Nguyễn đánh tan; đưa Ang Chan II về lại kinh thành; Lê Hương, “Việc bang giao Miên-Việt;” Bách Khoa, 322 (1/6/1970), tr. 26.]

30/5-27/6/1832  [Tháng Năm Nhâm Thìn]: Thừa Thiên: Quản thúc giáo sĩ Phan Văn Kinh (Jaccard).

Jaccard được khoan hồng  "vì là người ngoại di ở phương xa, chưa thuộc pháp độ, được gia ơn cho làm lính ở phủ Thừa Thiên, nhưng bị quản thúc nghiêm ngặt, không cho ra ngoài để truyền giáo."

Bắt nhốt 1 lý cựu (Phạm Văn Khoa), 1 lý trưởng (Trần Văn Tài) ở làng Dương Sơn, huyện Hương Trà. Khoa bị giảo giam hậu (tội thắt cổ chết, nhưng tạm giam chờ hành hình). Tài bị phát vãng sung quân ở Trấn Ninh. Vũ lâm Phó đội Trần Văn Sơn bị cách chức, cùng 13 quân nhân khác bị phát lưu. Sơn và những người đi Quảng Ngãi gọi là "Phục nghĩa binh." Những ai đi Thanh Hoa gọi là "Phục Hoa binh." Nhà thờ đạo thì rỡ đi. (14:84)

28/6/1832 [Tháng Sáu Nhâm Thìn]: Linh mục Pierre Retord rời Macao qua Tây Đàng Ngoài (Tonking Occidental).

Giáo phận này do GM Havard cai quản; gồm 8 Linh Mục ngoại quốc, 80 giáo mục bản xứ, 180,000 giáo dân. Trụ sở chính đặt tại Kẻ Vinh. Có hai chủng viện tại Tho Ki và Kẻ Nạp, cùng 110 couvents, 1,200 nhà thờ. Nhưng từ năm 1831(?), Minh Mệnh đã ra lệnh cấm đạo. Giáo sĩ phải ẩn trốn, các trụ sở Ki-tô bị đánh phá.

27/7/1832  [Tháng Bảy Nhâm Thìn]: Lê Văn Duyệt ốm nặng. (11:122)

Thống chế biền binh Nguyễn Văn Quế tạm lãnh Tổng trấn Gia Định. (11:122) Hiệp lý Binh tào là Bạch Xuân Nguyên. (11:140)

* Huế: Từ nay, quan văn đứng bên trái (tả), võ đứng bên tay phải (hữu).

Văn Minh điện nằm phía trái điện Cần Chánh, Võ hiển điện nằm bên phải. (11:130)

2/8/1832: Retord tường trình về những hành động đánh phá Ki-tô giáo của Minh Mạng. (Ann, t. VI)

26/8-23/9/1832  [Tháng Tám Nhâm Thìn]: Lê Văn Duyệt chết. (11:140)

Vua rút hai vệ Tả bảo nhất và nhị thuộc Tả quân từ Gia Định về kinh; vệ Minh Nghĩa rút về Quảng Ngãi.

Thuộc binh, viên tử, hào mục của Duyệt bổ sung vào chân khuyết trong cơ đội ở thành. Ai muốn về quê quán thì giao sở tại ghi vào sổ để chịu sai dịch. (11:141)

- Quở trách Ngô Bá Nhân ở đồn Châu Đốc.

Bá Nhân còn giữ chức Bảo hộ Chân Lạp.(11:139)

20/4/1833 [Tháng Ba Quí Tị Vua Minh Mạng cắt cho Chân Lạp hai đội (100 lính) dưới quyền sai phái của Nặc Chăn. Ngạch lính thuộc sổ quân cơ An Giang. Ngoài ra còn 10 đội quân Phiên. (12:83-4)

11/12/1833-9/1/1834 [Tháng [Mười] Một Quí Tị Quân Xiêm chia làm 3 đạo xâm phạm nước ta. Thừa biện Nam Vang là Hồ Công Chỉ báo cáo về An Giang. Vua cho lệnh cấp phát thuyền, binh lo phòng thủ các tỉnh miền Nam. (13:283-5)

Khi quân Xiêm tiến tới sóc Phù sư, giáp ranh Chân Lạp, Đặng Văn Bằng tăng phái cho Nam Vang 100 lính, do quản cơ Mai Văn Đặng chỉ huy. Lại điều 300 biền binh từ Vĩnh Long về giữ tỉnh li An Giang, và báo cáo với Gia Định.

Vua sai Trần Văn Năng, Trương Minh Giảng và Nguyễn Xuân mỗi người dẫn 1,500 quân cưỡi thuyền đến An Giang. Trần Văn Năng sẽ lưu lại giữ thành An Giang. Trương Minh Giảng và Nguyễn Xuân lãnh nửa đại binh kéo lên Nam Vang. Đồng thời cho sứ tới Battambang chất vấn Tướng Xiêm.(13:292-3)

10/1-8/2/1834 [Tháng Chạp Quí Tị Vua Chân Lạp cưỡi thuyền nhỏ chạy sang An Giang. (13:297) [Sau chạy tới Vĩnh Long; dân theo 1,800 người, hơn 100 chiếc thuyền; 13:377-9]

- Quân Xiêm đánh phủ Bông xuy của Chân Lạp, tiến đến vụng Xà Năng, chỉ còn cách Nam Vang một ngày đường. Vua cho lệnh Nguyễn Văn Năng, Trương Minh Giảng và Nguyễn Xuân lập tức tiến quân. (13:297-9) Phó lãnh binh Lê Đại Cương làm Lãnh binh An Giang. Thái Công Triều làm thành thủ úy. Gọi thêm hương dõng ba tỉnh An Giang, Vĩnh Long và Định Tường. Mỗi tỉnh 2000-3000 người. (13:298)

* Hà Tiên: Thủy binh Xiêm tới hải phận Lam Dữ. Tuần phủ Trịnh Đường báo cáo về Gia Định. (13:311-2) Sau đó, hơn 100 chiến thuyền Xiêm xâm phạm hải phận Hà Tiên. Theo hai đường tiến đến: cửa biển Kim Dữ, và do sông nhánh Thị Lý đổ bộ. (13:316)  Quân Xiêm tiến đến sát thành Hà Tiên. Giặc dùng quân nhà Thanh làm tiền quân. Hà Tiên thất thủ. Các quan chạy về An Giang. (13:319-20)

* Quân Xiêm chiếm Nam Vang. Thừa biện Hồ Công Chỉ phải triệt thoái vì viện binh không đến kịp. (13:336-9) Cho lệnh dân chúng tự động chiêu mộ binh sĩ, luyện tập đánh giặc. (13:339)

* Quân Xiêm chia hai đường đánh chiếm đồn Châu Đốc. An Giang thất thủ. Trương Minh Giảng phá quân Xiêm ở Thuận cảng. Vua ban cho Giảng và Nguyễn Xuân tước Nam.(13:374-6)

9/2-9/3/1834 [Tháng Giêng Giáp Ngọ]: Trương Minh Giảng và Nguyễn Xuân đánh tan giặc Xiêm ở Cổ Hỗ, chiếm lại được Châu Đốc. (14:33-6) ít lâu sau, chiếm lại đồn Hà Tiên. (14:40-5)

Trần Văn Năng, Trương Minh Giảng dẫn quân lên Nam Vang. (14:46-7) Vua sai hộ tống vua Chân Lạp từ Vĩnh Long về nước. (14:48) Quân Xiêm cũng rút khỏi Lào. (14:49-51)

9/4-8/5/1834 [Tháng Ba Giáp Ngọ]: Đánh tan được quân Xiêm ở Chân Lạp. Để lại Nam Vang 2,000 quân. Vua dự trù xây đồn "An Man," cử một lãnh binh coi.

9/5-6/6/1834 [Tháng Tư Giáp Ngọ]: Thành An Man xây gần xong. Cho vua Chân Lạp dời đô về Nam Vang. (14: 233-4)

7/7-4/8/1834 [Tháng Sáu Giáp Ngọ]: Phó vệ úy Nguyễn Văn Hòa làm Lãnh binh đồn An Man. Thái Công Triều hợp lực cai quản binh đội. (14:359)

29/1-26/2/1835 [Tháng Giêng àt Mùi]: Sai Phan Thanh Giản đến đồn An Man tuyên chỉ: Phong Ang May [Ngọc Vân] làm Ngọc Vân Chân lạp quận chúa. (16:21, 105-6)

Đổi đồn An Man làm thành Trấn Tây. Trương Minh Giảng làm Tổng đốc, phụ tá có Lê Đại Cương. Sai thêm 20 viên chức qua làm việc. (16:22) Giảng được phong tuớc Bình thành bá, Đông các Đại học sĩ, lãnh ấn Tổng đốc An-Hà, bảo hộ Chân Lạp. (16:24-5) Nguyễn Văn Hòa được đổi làm Lãnh binh thành Trấn Tây; vệ úy Nguyễn Văn Tình làm Phó Lãnh binh. (16:41)

3-31/7/1837 [Tháng Sáu Đinh Dậu]: Trấn Tây: Chiêu tập lưu dân thành 22 thôn ấp, ở cùng với dân phiên, khai khẩn đất hoang. (19:148)

17/12/1838-14/1/1839 [Tháng Một Mậu Tuất]: Vua mật dụ cho Trương Minh Giảng cân nhắc ba cơ An Man. Binh sĩ ba cơ này phần đông là người Chàm Ầồ bà ở nhờ đất Chân Lạp. Hết lòng trung thành với nhà Nguyễn, nên bị thổ dân ghét. (20:262-5)

14/2/1839 [Tháng Giêng Kỷ Hợi]: Bắt đầu đặt quan người Việt ở Trấn Tây. Trương Minh Giảng xin trước 13 huyện quanh thành. (21:19) Hiệp trấn Cao Hữu Dực xin cho Phó quản cơ Triệu Văn Bảo qua Trấn Tây làm việc. (21:24) Xin hoán đổi tượng binh. (21:28)

9/8/1839 [Tháng Bảy Kỷ Hợi]: Cho lệnh giảm bớt việc đưa phạm nhân tới Trấn Tây. Hiện có hơn 1,400 tù phạm ở Trấn Tây. Số người phải làm chuộc tội lên tới 840 người. Trong ngục có 594 tù. (21:165, 168-9)

31/5-28/6/1840  [Tháng 5 Canh Tý]:  Đặt lại phủ huyện thành Trấn Tây. Trước đây đã lấy 2 phủ, 5 huyện chia vào hai tỉnh An Giang và Hà Tiên. Nay Trương Minh Giảng xin chia làm 6 tỉnh, gồm 14 phủ, và 29 huyện. Tại Hà Tiên, lấy hai huyện Long Xuyên và Kiến Giang thành một phủ, hợp cùng phủ Ba Xuyên của An Giang thành một tỉnh nhỏ. Vua chỉ cho chia thành 10 phủ, 23 huyện:

- Tổ chức lại quân đội ở Trấn Tây thành. Tất cả có 26 cơ; cơ tượng mục chuyên việc nuôi voi để nguyên. 25 cơ còn lại chia làm 5 doanh.

Tướng quân trực tiếp chỉ huy 2 doanh trung (Phó Lãnh binh Nguyễn Văn Hòa) và tiền (Phó Lãnh binh Hoàng Phúc Lợi). Tham tán chỉ huy tả doanh (Phó lãnh binh Nguyễn Công Nhàn). Đề đốc chỉ huy hữu doanh (Phó lãnh binh Nguyễn Tiến Phúc). Hiệp tán chỉ huy hậu doanh (Phó vệ úy Phan Ầình Vinh). Mỗi cơ xen vào 5, 6 người Việt gọi là "quản xuất" và có 1 lại dịch coi việc sổ sách.(22:134-6)

- Đổi phong quận chúa Chân Lạp là Ngọc Vân [Ang May] thành Mỹ Lâm quận chúa. Ngọc Vân được một toán lính hầu gồm 2 xuất đội, 100 lính; Ngọc Biện, Ngọc Thu, Ngọc Nguyên, mỗi người 1 xuất đội, 30 lính. (22:139)

- Lập miếu quốc vương Chân Lạp. (22:144-5): Minh Mạng lấy nước Chân Lạp từ tay quân Xiêm. Chân [Ang Chan] chết, đó là số trời. Nay đã xáp nhập vào Đại Nam, nên lập miếu thờ để tỏ rõ đạo "ưu hậu."

29/6-18/7/1840  [Tháng 6 Canh Tý]: Giáng chức quan chức Miên. Chưởng Vệ Trà Long xuống làm Cai đội. Nhâm Vụ làm Chánh Đội trưởng. Vệ úy La Kiên làm Đội trưởng. Phát giao cho Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên quản thúc. (22:157-8)

29/7-26/8/1840  [Tháng 7 Canh Tý]: Vũ Đức Trung làm Đề͊ đốc thành Trấn Tây. (22:173) Bố chính Nguyễn Song Thanh làm Tuyên phủ sứ Hải Tây; Trần Văn Thông làm Tuyên phủ sứ Hải Đông; Vũ Danh Thạc làm Lương trừ đạo thành Trấn Tây;

- Đưa bọn Ngọc Vân [Ang May] về Gia Định. (22:177-80) Đây là do vụ án Ngọc Biện thông đồng với địch [Nặc Yểm].

- Lãnh binh Hoàng Phúc Lợi coi đồn Chi Trinh; Phó Lãnh binh là Nguyễn Công Nhàn. (22:194-5)

27/8-25/9/1840  [Tháng 8 Canh Tý]: Thổ dân thành Trấn Tây làm phản. Giết chết Hoàng Công Hiền, Tri phủ Hà Đông; Tư vụ Nguyễn Văn Bách (từ kinh phái ra); Lại mục Võ Văn Thọ. Tri phủ [Võ công] Phạm Văn Chỉnh bỏ chạy. (22:225-6)

[Theo tài liệu Miên, một lý do là chính sách đàn áp Phật giáo của quan tướng nhà Nguyễn; Etienne Aymonier, Le Cambodge (Paris: 1900-1903), III:798. Đại Nam Thực Lục cũng ghi tên Sư Kế, một lãnh tụ tranh đấu Phật giáo Miên, nhưng không đi sâu vào chi tiết. Nên lưu ý rằng các tác giả Pháp thường muốn đề cao chủ quyền của vương quốc Miên trước năm 1863, cho những mục tiêu chính trị giai đoạn: tranh chấp biên giới với Xiêm La. Tương tự như thập niên 1880, các quan chức Pháp yêu cầu triều Nguyễn tìm cho bằng được những bằng chứng về biên giới Ai Lao phía Tây sông Khung hay Mekong cho mục tiêu chính trị giai đoạn là biến Lào thành một xứ mới trong Liên bang Đông Dương]

- Trương Minh Giảng phái Phó Lãnh binh Nguyễn Tiến Phúc đến phủ Võ Công; quản cơ Lê Văn Chân đến phủ Nghi Hòa. Viện binh An Giang và Vĩnh Long kéo qua đàn áp. Sau đó lấy thêm quân Gia Định, Biên Hòa, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Lại còn cử một số Tướng ở Kinh tăng viện. Mang bọn Trà Long về kinh, hạ ngục, bắt viết thư khuyến khích ngừng nổi loạn. (22:225-32)

- Thổ biền tại phủ Quảng Biên là Quản cơ Nha Tiên, huyện úy Khai biên là Biên Kế tại tỉnh Hà Tiên cũng họp hơn 2,000 người nổi loạn, chiếm giữ trạm Quảng Trường, huyện Vĩnh Trường. Lãnh binh Hà Văn Củ mang quân tới đánh.

- Khắp Trấn Tây chỗ nào cũng có giặc. Phải lấy thêm quân Khánh Hòa, Phú Yên, Bình Thuận vào tiếp ứng. Đề͊ đốc Vũ Đức Trung thắng lớn ở Lợi Bắc và Rừng Me. (22:232-5)

* Chân Lạp: Dân Miên nổi dạy chống nhà Nguyễn. Xiêm yểm trợ Ang Duong [Nặc Ong Giun], em Ang Chan.

26/9-24/10/1840  [Tháng 9 Canh Tý]: Thổ mục Y La Việt Tốt ở huyện Hà Âm, phủ Tĩnh Biên nổi loạn. Có 700 quân. Lãnh binh Nguyễn Đức Huấn mang quân đến đánh, bị bại. (22:238-9)

* Trấn Tây: Huyện úy huyện Phong Nhương là Sa Tuân làm phản. Tri huyện Vũ Doãn Thạnh, huấn đạo Nguyễn Văn Thiết chạy về Hà Tiên lánh nạn. (22:239-40)

- Phủ úy phủ Hải Đông là Bồn Đột làm phản. (22:241-6) Nhiều quan chức người Miên cũng nổi dạy. Lãnh binh Nguyễn Đức Huấn ở Vĩnh Tế bảo bị cách làm lính. (22:247-8)

* Định Tường: Thổ dân Nam Thái nổi loạn, cướp đồn Bồng Nguyên. Vệ úy Trần Hợp đánh tan, thu lại thành. (22:239-41)

* Phủ Tây Ninh, tỉnh Gia Định: 2,000 quân Miên tấn công phủ, giết chết suất đội Nguyễn Văn Nhiên. (22:249) Bố chính Lê Khánh Trinh sai vệ úy là Trương Cầm, phó cơ là Trần Văn Thanh, chặn được địch. Tổng đốc Nguyễn Văn Trọng sai Phó lãnh binh là Trần Nhữ  Đoan tăng viện. (22:249)

- Lấy lãnh binh Quảng Ngãi là Vũ Viết Tuấn làm Lãnh binh ở Trấn Tây. (Tôn Thất Khải thay Tuấn ở Quảng Ngãi) Phó Lãnh binh Bình Định là Nguyễn Duy Tráng thăng thự Lãnh binh An Giang. (Phó vệ úy Nguyễn Lương Nhàn thay Tráng)

- Giáng chức Trương Minh Giảng, Dương Văn Phong (tham tán), Cao Hữu Dực (hiệp tán).

* Hà Tiên: Tổng đốc An-Hà Dương Văn Phong sai Lãnh binh Hà Văn Củ mang 600 biền binh đánh đồn Chu Nham, đã bị giặc chiếm. Thua to. Phó vệ úy Định Tường là Nguyễn Văn Điệp, cai đội thủy vệ An Giang là Ngô Thiên Tường chết cùng hơn 70 biền binh. Củ cũng bị trọng thương. (22:255-6)

- Phái Trương Như Uyển vào Định Tường làm thự Bố chính, thay Nguyễn Đắc Trí. (22:266) [Án sát là Hà Thúc Giao]

25/10-23/11/1840  [Tháng Mười Canh Tý]: Thổ dạy vẫn tiếp tục. (22:278-90) Sai Tả quân chưởng phủ là Phạm Văn Điển làm Kinh lược Đại thần ở Trấn Tây. (22:290-1)

- Quản cơ Nguyễn Văn Thuận bị phục kích chết khi triệt thoái tiền đồn Tà-sô. (22:308)

Phó Lãnh binh Đoàn Văn Sách và Phó Lãnh binh Nguyễn Công Nhàn phá được vòng vây đồn Chi Trinh. (22:308-10)

* Hà Tiên: Thu lại đồn Chu Nham. (22:296)

* Gia Định: Phản công ở Tây Ninh. (22:297) Lãnh binh Ngô Văn Giai. Tri phủ Nghi Hòa: Trương Đình Bằng (22:281) An Hà: Quản cơ Trương Văn Tố. (22:298)

24/11-23/12/1840  [Tháng Một Canh Tý]: Giặc vẫn hoành hành ở Nghi Hòa, Tĩnh Biên. (22:319-20) Đầu sỏ ở Tĩnh Biên là Chân Triết, thuộc hạ cũ của Phiên vương Chân. (22:325)

5/7-2/8/1845 [Tháng 6 Ất T Sai Võ Văn Giải làm Kinh lược, cùng Nguyễn Tri Phương, Doãn Uẩn, v.. v... đánh Chân Lạp. (25:282-7, 292-7, 303-5)

- Quyền Phó Vệ úy Trương Lý tử trận. Được hàm Vệ úy; con được thụ ấm Cẩm Y thiên hộ và 30 lạng bạc. (25:293, 321, 324)

2-30/91845  [Tháng 8 Ất T Võ Văn Giải và Nguyễn Tri Phương tái chiếm Trấn Tây.(25:321)

27/1-25/2/1846  [Tháng 1 Bính Ngọ]: Phó Lãnh binh Lê Viên ở Trấn Tây với 400 binh. (26:17-8) Võ Văn Giải coi quân thứ Trấn Tây. (26:40)

25/5-23/6/1846  [Tháng 5 Bính Ngọ]: Bắt được hai cố đạo Pha-ba-ly-e và Di-nê-ô. Kết án tử hình. Sau cho tàu đi mua hàng thả ở hải ngoại.(26:79)

24/65-22/7/1846  [Tháng 5 nhuận Bính Ngọ]: Võ Văn Giải ở Trấn Tây.(26:89-90,91,95)

3/7-21/8/1846  [Tháng 6 Bính Ngọ]: Võ Văn Giải, Nguyễn Tri Phương ở Trấn Tây.(26:107-9) 

 

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........