curley_sw.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw.gif (1967 bytes)

.......... .
 
vnc-keys2.JPG (61425 bytes)
vnchieu.JPG (48911 bytes) Vũ ngự Chiêu

          L.T.G.: Tôi vốn không chuyên biệt về khía cạnh chính trị trong giai đoạn Pháp thuộc. Lại không định viết tiểu sử các tác nhân, ngoại trừ tập Nhân Vật Chí (ký tên Chính Đạo) ghi chép vắn tắt dài theo hơn phần tư thế kỷ nghiên cứu vừa qua (đã tái bản, có bổ sung năm 1997, và sẽ in lần thứ ba năm 2005). Những tài liệu phát hiện về Petrus Key cũng như các tác nhân lịch sử cận và hiện đại thường rất tình cờ. Với ước muốn dùng các thay đổi văn hóa và xã hội để giải thích chiến thắng của người Cộng Sản năm 1975, ngoài những vấn đề ngoại giao, chính trị, kinh tế, không thể không nghiên cứu thêm các tôn giáo và ý thức hệ tại Việt Nam trước năm 1945. Bởi vậy, năm 1996, khi tìm đọc các tài liệu về Giám mục Dominico Lefèbvre, vô tình bắt gặp lá thư thủ bút của Petrus Key vào cuối tháng 3/1859 để tự tiến thân với các quan tướng Pháp. Khi đọc tư liệu của Trung tá Hải quân Henri Rieunier, cựu chánh văn phòng của Jean Bernard Jauréguiberry, cũng người cầm đầu phái bộ Pháp của “Cochinchine” [Nam Kỳ] bên cạnh sứ đoàn Phan Thanh Giản năm 1863, mới xác tín rằng Petrus Key, thông ngôn hạng nhất của Soái phủ Sài-gòn, là thông ngôn của phái bộ Pháp, dưới quyền Gabriel Aubaret,  không phải của sứ đoàn Việt như thường huyễn truyền (thông ngôn của triều Nguyễn là hai người khác, kể cả một linh mục Việt, Nguyễn Hoằng). Khi đọc tư liệu văn khố Hội truyền giáo hải ngoại, mới biết chính sách mua trẻ mồ côi để tăng số giáo dân và thày kẻ giảng (thí dụ như Lettre commune năm 1858), và từ đó hiểu tại sao những Petrus Key và Ngô Đình Khả v.. v... bỗng dưng trở thành các “chú” của nhà Chúa Blời. (Xem Phụ bản) Đọc tư liệu Joseph Page và Jauréguiberry mới rõ nghị quyết của ổy Ban Cochinchine năm 1857 yêu cầu sử dụng “thày kẻ giảng và 600,000 giáo dân Ki-tô làm nòng cốt” cho “tân trào” bảo hộ Pháp. Đọc tài liệu trường Collège général de Pinang mới rõ chương trình huấn luyện các thày kẻ giảng bản xứ, và đại cương về các chủng sinh [Nên không thể không đặt câu hỏi Petrus Key tốt nghiệp trường Pinang chưa mà không được thụ phong linh mục hay thày kẻ giảng ở Pinang, đã phải vội vã “cưỡi ngựa”, vượt sông vượt biển về Cái Nhum chờ đón những sứ giả “Moises và Jacobs” mà “Thiên chúa” gửi sang “giải phóng” giáo dân Việt năm 1858? Phải chăng vì Lefèbvre (người ngày đêm trông đợi binh thuyền Pháp tới đòi vua Tự Đức nợ máu) đã được thông báo về Nghị quyết 1857 của Ủy Ban Cochinchine, yêu cầu thiết lập một tân trào với các thày kẻ giảng làm trụ cốt và sự trợ giúp của 600,000 giáo dân?].

          Công bố những tài liệu mới phát hiện này hay không, chúng vẫn nằm ở đó, thu thập bụi thời gian và chờ ngày bị mục nát, nếu chưa được những người nghiên cứu khác tìm đọc. Nhưng tôi đã quyết định công bố tất cả các sử liệu tìm được suốt hơn 20 năm qua, dưới sự hướng dẫn của ánh sáng lương tâm nghề nghiệp. Sự thực nhiều khi khiến đau lòng, nhưng hậu thế Việt Nam xứng đáng và có quyền được hiểu biết những sự thực ấy. Họ có đọc chăng, suy nghĩ gì, đó là quyền của họ. Gần trọn nửa đời bị bưng tai, bịt mắt tại Việt Nam, thấy xà cừ mà tưởng lầm là bạc—nửa đời trăn trở dưới vực thẳm giữa những triền đá dựng đứng, dốc ngược của sự ngu dốt sặc sỡ và lừa dối hào nhoáng—khiến tôi không-thể-không công bố chúng. Thứ bóng tối kinh hoàng nhất là bóng tối của sự ngu dốt, khiến nhân diện nhợt nhạt, trí tuệ hôn ám. Nỗi hổ nhục sâu cay nhất là cứ tưởng mình “biết rồi!” những điều mình thực sự chẳng biết gì cả. (Xem Nguyên Vũ, Paris: Xuân 1996, Houston: Văn Hóa, 1997; và, Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối nhà Nguyễn, 1883-1945, 3 tập, Houston: Văn Hóa, 1999-2000)

          Đã hẳn tôi hiểu rất rõ rằng công bố các tư liệu văn khố mới phát hiện không có nghĩa tất cả những người đương thời sẵn sàng chấp nhận sự thực ấy. Vì như tôi đã nhắc đó đây, cảm nhận về lịch sử (a perception of history) thường ảnh hưởng đám đông hơn chính sự thực lịch sử. Đó là nỗi buồn riêng mình mình biết của người còn giữ được sự lương thiện trí thức. Hoặc, nói theo những sách vở cổ thời Tây phương, đó là hớp độc dược mà Socrate (470-399 TTL) phải nuốt qua cuống họng vì tội “làm ung hoại tuổi trẻ”, hay con thuyền chở chàng “nô lệ” Plato (427-347 TTL); nhưng nhất định không thể là lời xin lỗi nghẹn ngào, ứa nước mắt của Galliléo Galiéli (1564-1642) về việc phát hiện ra rằng trái đất quay quanh mặt trời, mà không phải mặt trời quay quanh trái đất như Giáo Hội dạy bảo, và đã trở thành một thứ “kinh điển đã thiết lập” [establsihed literature]. Hoặc, nói theo ngôn ngữ hiện đại, là nỗi buồn đứt ruột của những nhà y học đã tìm cách tái tạo [cloning] được một bào thai sơ khai [embryo gem cells] , nhưng đang chịu đủ thứ búa rìu dư luận (như bị kết án là kiêu ngạo, không tin ở Thượng đế, thiếu đạo đức, không chấp nhận và thách thức thuyết sáng tạo của đạo Ki-tô); có thể bị luật pháp ngăn cấm. Nên chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi nghe lời ong tiếng ve về những tài liệu lịch sử mới phát hiện đó, như muốn “bêu xấu,” hay “nói xấu,” làm giảm uy tín các “lãnh tụ” dưới thời Pháp thuộc, hoặc chính những người đang cai trị ở Việt Nam. Cũng chẳng ngạc nhiên khi thấy xuất hiện các “tác phẩm” của bầy cuồng tín tôn giáo và ý thức hệ, nhắm hạ nhục và nguyền rủa, vu cáo những người tìm sự thực.

          Người trí thức lương thiện, dĩ nhiên, luôn ấm như Xuân mà lạnh như Thu trước lời lăng mạ, hay mưu mô chồn cáo của loài tinh tinh, và ngay cả bạo lực. Hành trình vào tri thức và chân lý phải trả giá rất đắt. Hình ảnh của Promotheus bị kền kền moi gan, móc mắt suốt 13 kiếp trên đỉnh núi Olympia vì dám “đánh cắp lửa trời,” soi sáng cho trần gian, là cái giá phải trả ấy. Và, dĩ nhiên, núi lên càng cao, càng lạnh. Tìm hiểu và công bố những tội ác xâm phạm nhân quyền của quốc dân Việt là điều không một người Việt nào có thể xao lãng; bất kể cái giá phải trả!

Trong tập Các vua cuối nhà Nguyễn, tập I, ký tên thực Vũ Ngự Chiêu, tôi đã trình bày trường hợp Petrus Key khá đầy đủ. Dựa trên tài liệu văn khố mà không phải những tác phẩm và nguồn tin đã xuất bản suốt hơn trăm năm qua (thường chỉ sao chép lại những lỗi lầm của người đi trước, rồi thêm thắt chỗ này, chỗ nọ, tự nhận của mình), tôi  nghĩ những gì  viết về Petrus Key đã tạm đủ. Petrus Key, trong dòng lịch sử quốc dân, chỉ là một tác nhân bản xứ phụ thuộc (thày kẻ giảng bỏ tu, làm thông ngôn và công tác văn hóa) trong chính sách xâm lăng và cai trị Việt Nam của người Pháp (1858-1945, 1945-1955). Sự khác biệt giữa những Petrus Key, Trần Bá Lộc, Lê Hoan, Ngô Đình Khả, Nguyễn Hữu Bài, v.. v... chỉ là vấn đề lượng hơn phẩm, về hình thức [pathos] hơn thực chất [ethos]. Những lời đả kích, chụp mũ quàng xiên nhắm vào những người nghiên cứu sử nào đủ biến đen thành trắng? Phấn son nào đủ tô hồng, chuốt lục cho những khuôn mặt không thể chuốt lục, tô hồng? Dẫu vậy, người học sử nghiêm túc thường cố tránh phê bình, đánh giá trong các nghiên cứu của mình, chỉ nỗ lực tái dựng sự kiện lịch sử, một cách trung thực tối đa, với những tài liệu có trong tay. Phán xét là của hậu thế. Nên, tôi đã chỉ dùng một thuật ngữ phi-chính-trị để mô tả họ: Thành phần trung gian bản xứ. Thuật ngữ này có thể dùng chung cho bất cứ một xã hội bị ngoại bang đô hộ hay chiếm đóng nào, trong bất cứ giai đoạn lịch sử nào.

          Sở dĩ trong tâm bút Ngàn Năm Soi Mặt này phải trở lại vấn đề Petrus Key vì hai lý do. Trước khi hoàn tất bộ Các vua cuối nhà Nguyễn, trong tập tâm bút Paris: Xuân 1996 (1997) ký tên Nguyên Vũ, tôi đã công bố một tài liệu then chốt trong cuộc đời sự nghiệp chính trị (và từ đó, văn học) của Petrus Key. Đó là lá thư Petrus Key viết cho Hải quân Trung tá Jauréguiberry vào cuối tháng 3/1859, do Phụ tá Giám mục Borelles chuyển giao, tự tiến thân để làm thông ngôn cho Pháp, hoặc do tự nguyện, hoặc theo lời xúi dục của các bề trên, hoặc cả hai. Bức thư này đã được in lại phần nào trong nguyệt san Quốc Dân (xuất bản tại Houston) năm 1996 và tập Hồ Chí Minh, 1892-1969, tập I (1997, tr. 68). Có người không được đọc số báo hay tập sách trên, hoặc tảng lờ phóng ảnh tài liệu trong đó, đặt câu hỏi thực chăng có lá thư “nói xấu” Petrus Ký ấy. Một câu hỏi đầy khôi hài. Vì trong cuốn Paris: Xuân 1996, tôi trưng dẫn xuất xứ khá rõ ràng: Đó là tư liệu của Jauréguiberry, hiện cất giữ trong Văn khố sử học Hải quân Pháp [Service historique de la Marine] tại Château de Vincennes. (Xem thêm Vũ Ngự Chiêu, Các vua, tập I, tr. 110, 130 chú 32, 297) Muốn biết tài liệu trên có thực hay chăng, một người trí thức lương thiện chỉ cần đến Château de Vincennes, hoặc nhờ thân hữu ở Paris kiểm chứng giùm. Vì chắc chắn không một nhà nghiên cứu nào có thể cho in lại toàn bộ những tư liệu văn khố mình phát hiện.

          Nhưng như trên đã nói, cảm nhận về lịch sử thường có tính cách thuyết phục hơn chính sự thực lịch sử. Người ta thường chỉ thích đọc và “khám phá” những gì mình tin là sự thực hơn chính sự thực. Bản thân tôi vẫn chưa quên được sự phản kháng từ chính nội tâm mình khi tìm thấy tập hồ sơ xin nhập học Trường Thuộc Địa (Ecole coloniale) Pháp, theo lối cổng hậu, của Nguyễn Tất Thành vào tháng 9/1911; hồ sơ hoạt động cho tình báo Liên Sô Nga, Trung Cộng, và tình báo Mỹ của Lin, Hồ Quang hay Lucius; hoặc công trình của Quân ủy Trung Cộng, cùng các Tướng Trần Canh, Vi Quốc Thanh, “hóa phép” Võ Nguyên Giáp thành một danh tướng; hồ sơ về việc Phạm Văn Đồng nhìn nhận lãnh hải mới do Trung Cộng vẽ ra năm 1958 để có quân viện đánh chiếm miền Nam và 300,000 cố vấn Trung Cộng, v.. v... Hoặc, tài liệu lần đầu tiên tiết lộ về cuộc đảo chính cung đình không đổ máu ngày 2/5/1933, cuộc từ chức ngày 18/7/1933 của Ngô Đình Diệm (1897-1963) cùng âm mưu của các phe Ki-tô giáo chống lại kế hoạch “đại cải cách” của Toàn quyền Pierre Pasquier; lá thư đề ngày 21/8/1944, trong đó Giám mục Ngô Đình Thục (1897-1984) xin Toàn quyền Jean Decoux nghĩ tới công lao hãn mã của cha mình, Ngô Đình Khả (như đã đào mả “rebelle" [ngụy hay giặc] Phan Đình Phùng ở Tây Bắc Quảng-bình năm 1896), mà nương tay với hai em Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Diệm; hay việc Ngô Đình Nhu và Ngô Đình Khôi thú nhận với Paul Arnoux, Tổng Giám đốc Cảnh Sát Đông Dương, rằng chế độ Bảo hộ Pháp là “bát cơm” [bol de riz] dòng họ Ngô. Từ thái độ phản kháng âm thầm ấy—giống như hình ảnh một tù nhân bị giam giữ trong hang tối quá lâu, thường quáng mắt khi đột ngột bị lôi kéo ra ngoài trời rực nắng— đến sự rẫy rụa, hò hét giận dữ là lẽ tự nhiên. Hơn nữa, sau gần hai thế kỷ bị bưng tai, bịt mắt và tẩy não bằng truyền đơn khẩu hiệu, trí óc nhiều người đã được điều kiện hóa trong khuôn khổ các truyền đơn khẩu hiệu ấy. Nên chỉ có trắng và đen. Có đạo và ngoại đạo. Thù và bạn. Cộng Sản và Quốc Gia. Yêu nước và Việt gian. Ta và địch. Phe ta và phe địch. Ta phải trường tồn, hay đẹp, địch phải xấu xa, cần bị tiêu diệt. Không còn một khoảng trống nào cho lẽ phải, hay sự suy lý vượt lên trên những dấu mốc nhị nguyên sỉn tanh dấu máu hận thù ấy. Con người bị hạ thấp xuống đâu đó gần con vật thí nghiệm của Pavlov. Chỉ cần một tiếng chuông gióng lên thôi đã có những biến chứng sinh học.

          Bởi thế, tôi chỉ cười, khi có người tung tin rằng các tài liệu tôi tìm thấy là “giả mạo,” hay “sai lầm,” hoặc việc công bố có “dụng tâm” nếu không phải “có thiên kiến.” Là người nghiên cứu sử chuyên nghiệp, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm và sẵn sàng ghi nhận những sai lầm, nếu có, của mình. Sai lầm nếu có trên, chỉ thuần do kỹ thuật, hoặc do tôi chưa có dịp tham khảo đầy đủ tư liệu, mà chẳng bao giờ do tiên kiến “xây dựng kỳ đài lịch sử” tưởng niệm, vinh danh, hay “đào mộ” vùi chôn một tác nhân nào. Hơn nữa, được huấn luyện chuyên nghiệp khá cao về sử học, tôi hiểu được tầm quan trọng của sự khách quan cũng như lương tâm nghề nghiệp. Nên tôi đã im lặng, cười, trước luận điệu chỉ trích hàm hồ, vì tự hiểu riêng mình nhất thời khó đủ sức lay chuyển, nói chi đập phá những kiến thức giả ngụy do các tài liệu tuyên truyền mạo danh là “sử”—Những tài liệu tuyên truyền viết từ những chân trụ đồng chơm chởm giáo mác của Mã Viện; từ “boong” chiến hạm hay nhìn nhắm dài theo nòng những khẩu đại bác đen bóng của các thế lực thực dân; được “vẩy nước thánh” với những lời cầu nguyện trên những cây thập tự giá, hay, những tiếng “rao giảng” “thánh chiến,” “nghĩa vụ quốc tế” của những kẻ cuồng tín; hoặc, lanh lảnh tiếng reo hò, chiêng khua, trống gõ đệm nhịp cho các cánh tay giơ cao ngọn giáo, lưỡi mác của người bản xứ để tự ca ngợi sự oai hùng, vĩ đại của các chiến công “châu chấu đá voi.”

          Như tôi đã cười, im lặng, khi một cháu bé 10-12 tuổi, con bà bạn mới từ Việt Nam qua Mỹ định cư, chỉ vào hình bìa tập Hồ Chí Minh, 1892-1969 bảo tôi “Bác sai rồi, cụ Hồ sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890 mới đúng!” Bị nhồi sọ từ nhỏ những “sự thực giả ngụy,” đệm nhịp bằng những bài đồng ca như “đêm qua em nằm mơ thấy ....,” phản ứng của cháu con bà bạn dễ hiểu thôi! Giận, trách mới thực là sai lầm. Tôi tin rằng mai này khi lớn khôn lên, được đọc sách sử thế giới, cháu sẽ mỉm cười nghĩ đến chuyện cũ.

          Như tôi đã cười, im lặng, khi thấy các tác giả tập Vàng Trong Lửa trong nước  cho rằng Nguyễn Thế Anh và tôi—qua tập Một Ngôi Trường Khác Cho Nguyễn Tất Thành - “không hiểu nổi hành trình tìm đường cứu nước” của cậu Nguyễn Tất Thành, tức Hồ Chí Minh sau này. Một câu phê bình thuần túy để phê bình, hay chỉ với mục đích giới thiệu tựa sách của Nguyễn Thế Anh và tôi?

Và, như tôi cũng đã chỉ im lặng, cười, chẳng bận tâm đối đáp với vài ba kẻ cóp nhặt các tư liệu tôi đã sưu khảo được sau hai thập niên làm việc tại các văn khố, chép vào sách họ, tự xưng đã tham khảo các tài liệu văn khố trên. Rồi “bí ẩn” rông càn về tục k húy, cuộc đảo chính không đổ máu ngày 2/5/1933, cao giọng cung văn những thành phần trung gian bản xứ theo đạo Ki-tô, v.. v.. (Nhưng vì là của giả, trộm cắp vặt, vẫn không che dấu nổi sự dốt nát). Lại còn cao giọng vu cáo tôi là “phịa” ra những tư liệu đã phá vỡ thứ kiến thức ao tù, ruộng cạn, và/hay đạp đổ loại niềm tin kiểu bình nước cạn, mặn chát tại các góc tối tăm của Nguyên Hồng trong Những nhân vật ấy đã sống với tôi.

[Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang, trong tập II bộ Thực chất Giáo hội La Mã, đã có vài chương dành riêng cho hiện tượng “ziết sử” thế-giới-thứ-ba này].

          Tôi không có và không muốn phí  thì giờ với loại mà Giáo sư Quang gọi là côn-đồ-văn- hóa, chẳng những thiếu kiến thức sử học, mà còn hàm hồ đầy tư tâm. Nhưng thái độ của tôi hẳn đã khác nếu lời cáo buộc trên do một người học sử chuyên nghiệp đưa ra. Tôi sẵn sàng tranh luận, trong nguyên tắclý lẽ tối thiểu của một cuộc tranh luận sử học: Muốn có một nhận định nào về tư liệu sử học, cần trình bày rõ sự đúng/sai của tư liệu ấy, và trưng dẫn những bằng chứng khả tín cần thiết để tán đồng hay phản đối.

          Từ ngày ra hải ngoại, tôi chọn cho mình ba bút hiệu. Tên thực, Vũ Ngự Chiêu, ký dưới các biên khảo sử học. Chính Đạo để viết những nghiên cứu nhẹ tính chất kỹ thuật hơn. Và, Nguyên Vũ, như một nối dài của nghề nghiệp sáng tác cũ, từ quê nhà. Các tác phẩm ký tên Nguyên Vũ thường là tư duy của tác giả về người, việc và vật phải gặp gỡ, chứng kiến, đầy tính cách cá nhân. Ba bút hiệu trên liên hệ với nhau, và chắc hẳn luôn luôn lấy sự thực làm đường đi, dù có dị biệt về phân loại của các tác phẩm. Những tác giả thận trọng thường phân biệt kỹ càng khi trích dẫn tác phẩm của tôi. Nhưng có người cố tình nối ba bút hiệu làm một, như “sử gia” Nguyên Vũ, cho mục tiêu nào đó.

Cũng nên thêm về hai chữ “sử gia” trong ngoặc kép trên. Theo tiêu chuẩn quốc tế, hoặc ít nữa ở Mỹ và Pháp, sử gia (historian) là người có bằng Tiến sĩ về ngành sử học rồi tiếp tục nghiên cứu hoặc giảng dạy ngành này. Nó là một học vị không thể tự xưng hay phong cho một ai đó theo ý thích riêng của mình. Chẳng hiểu người viết hai chữ “sử gia” Nguyên Vũ có hàm ý gì? Tôi không có bằng Tiến sĩ Sử học chăng? Hay tôi không tiếp tục nghiên cứu và viết sử suốt 17 năm qua, sau ngày tốt nghiệp? Cách nào đi nữa, cũng chẳng đáng quan tâm. Tôi vẫn nghĩ danh chỉ là khách của thực, và thường muốn tự coi mình như một người học sử. Tước vị sử gia hay những bằng cấp với tôi thật vô nghĩa, dù chúng là những tấm thông hành giúp tiến xa hơn trên hành trình vào tri thức.

          Trở lại với những chi tiết viết về Petrus Key trong tập Paris: Xuân 1996. Do lỗi kỹ thuật, khi đánh máy (trang 70, dòng 7) mất hàng chữ “thập niên 1920, chế độ Bảo hộ Pháp, và rồi,” nên chỉ còn “từ năm 1946, chính phủ Nam Kỳ Tự trị của Y sĩ Nguyễn Văn Thinh đã lấy tên Petrus Ký đặt tên trường trung học bản xứ lớn nhất Sài Gòn.” Giáo sư Trần Thượng Thủ, nguyên giáo chức trường Petrus Ký, ở Houston, và Y sĩ Trần Ngươn Phiêu từ miền Tây Bắc Texas đã nhắc tôi lỗi kỹ thuật này sau khi sách ra đời. Xin cảm tạ, và nhân đây xin độc giả đã mua sách sửa lại giúp.

Ngoài ra, trong sơ thảo Các vua cuối nhà Nguyễn, tập I, tôi đã sử dụng tài liệu của các nhà truyền giáo nên những đoạn nói về vụ án Hoàng tôn Đán không được nhất quán (tr. 52, 57). Khi nói về cuộc nổi dạy của “Lê Văn” Khôi tôi còn  ghi lại lỗi lầm của một số tác giả đi trước, rằng Khôi là “con nuôi của Lê Văn Duyệt” (tr. 81, chú 23). Tên thực của cố Trường, Th. Le Grand de la Liraye, đã viết không nhất quán (thiếu chữ “La”; tr. 169, dòng 12, tr. 172, dòng 16,21,24). Nay muốn mượn chương viết về Petrus Key, công bố rõ sai lầm của mình. Mong độc giả đã có trong tay tập I Các vua cuối nhà Nguyễn (ấn bản 1999 mà chưa kịp có phần Đính chính) lượng tình sửa giúp [Xem đoạn dưới].

Đa tạ.

 Mark_03.gif (833 bytes) Petrus Key hay Petrus Ký?  Vũ Ngự Chiêu

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

©  Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........