curley_sw.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw.gif (1967 bytes)

.......... .
 

          Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một đại văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” (Xem, chẳng hạn, Nguyễn Văn Trấn, Trương Vĩnh Ký [Con người và sự thật], Sài Gòn: 1993, tr. 7) Dưới thời Pháp thuộc, rồi Cộng Hòa Nam Kỳ, Quốc Gia Việt Nam, và Việt Nam Cộng Hòa, người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân), được đặt tên cho trường học lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.

Thực chất, chúng ta biết rất ít về Petrus Key. Hầu hết chi tiết về gia đình,  thân thế và hoạt động chính trị của Petrus Key đều chịu ảnh hưởng chung của hai trào lưu trong nước: Đó là “cung văn” và “đào mộ.” Tuy nhiên, đã hơn 100 năm qua sau ngày Petrus Key nằm xuống, xúc động về lập trường chính trị hợp tác-kháng chiến, đạo-ngoại đạo, hay yêu-ghét đã lắng dịu, đủ để các nhà nghiên cứu tái dựng lại vai trò Petrus Key trong lịch sử.

Petrus Key hay Petrus Ký?

          Trước hết, cần minh định tại sao tôi dùng tên “Petrus Key” mà không “Petrus Ký” trong bài viết này.

Như chúng ta đã biết, các tài liệu viết về Trương Vĩnh Ký thường đặt trước tên ông một bí danh Latin khác là Petrus, Pétrus, hoặc kèm cả tên thánh “J.B.” tức Jean-Baptiste. Người Pháp, khi viết về Petrus Key, thường ghi Pétrus Ký hay Petrus Ký. Đây có thể do cách gọi đặt   tên trước họ theo kiểu Âu Mỹ, nhưng lược bỏ những chữ “J.B. Trương Vĩnh.” Cách gọi tên này còn hàm ý ông theo đạo Ki-tô. Petrus Ký cũng có thể tiêu biểu thói quen gọi tên kép quen thuộc tại miền Nam, như “Paulus Sang,” “Simon Của,” “André Đôn,” “Raymond Khánh,” v.. v.... Nhưng tài liệu do tôi phát hiện năm 1996 cho thấy năm 1859, người mà chúng ta sau này biết là Trương Vĩnh Ký tự xưng, được đặt hay tự đặt cho mình tên “Petrus Key,” không có ba chữ Trương Vĩnh Ký kèm theo tên Petrus Key.(Xem Phụ bản) Cho tới năm 1863, tài liệu Soái phủ Pháp vẫn ghi “Petrus Key,” trong khi phần Hán tự ghi thêm là Trương Vĩnh Ký. (Xem Chính Đạo, Hồ Chí Minh, 1892-1969, tập I: 1892-1924, tr. 68; Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối, tập I, tr. 297)

Sử dụng tên Petrus Key, như thế, trước hết không những chính xác hơn tên Petrus Ký hoặc Pétrus Ký, mà còn tôn trọng ý nguyện của ông. Thứ nữa, dùng tên Petrus Key còn có hàm ý kêu gọi những nỗ lực nghiên cứu thêm về gia thế ông. Các nhà “Petrus Key học” tương lai nên tìm hiểu, một cách rõ ràng chính xác mà đừng suy đoán vu vơ, là tại sao Petrus Key sau này đặt tự khai (hoặc lấy lại) tên Trương Vĩnh Ký? Phải chăng “Trương Vĩnh Ký” chỉ là tên Việt hóa của Petrus Key, cho những mục tiêu nào đó (như bỏ tu, lấy vợ, trở lại xã hội)? Hay, Petrus Key đơn giản chỉ là bí danh đầu tiên của Trương Vĩnh Ký, như chúng ta thường hiểu?

          Khi đã lớn tuổi, Petrus Key còn dùng tên hiệu “Sĩ Tải” Trương Vĩnh Ký. (Xem hình ở đầu bài; Nguyễn Văn Trung, Trương Vĩnh Ký Nhà văn hóa [Hà Nội: 1993], bìa sau). Tuy nhiên, hầu hết các sách của Petrus Key vẫn đề “P.J.B. Truong Vinh Ky.”

[Xem, chẳng hạn, Cours d’histoire annamite à l’usage des écoles de la Basse Cochinchine, par P.J.B. Truong Vinh Ky, 1ère édition, Saigon, Impr. du Gouvernement, 1875-1877; hiện tàng trữ tại Thư Viện Quốc Gia Pháp, Paris, với danh số [cote] LK10-102 (1); nhưng tập II đóng lên trước tập I. Ngoài ra, còn có 27 cuốn khác; kể cả 2 bản Abrégé de grammaire annamite (1867, 1924), 1 bản Grammaire de la langue annamite (1883), 1 bản Cours pratique de langue annamite (1868), 2 bản Mẹo luật dạy học tiếng Pha-lang-sa: tóm lại văn vắn để dạy học trò mới nhập trường (1867, 1872), 1 bản Dictionnaire francais-annamite (1878), 2 bản Petit dictionnaire francáis-annamite (1884, 1920), 2 bản Poème Kim Vân Kiều truyện (1875, 1889), 1 bản Lục vân tiên truyện (1897), 1 bản Lục súc tranh công (1887), 1 bản Poèmes populaires annamites (1889), 1 bản Huấn mông khúc ca: sách dạy trẻ nhỏ học chữ nhu (1884), 1 bản Tam tự kinh quốc ngữ diễn ca (1884), 1 bản Voyage au Tonking en 1876 (1881). Tác giả cảm tạ Luật sư Trần Thanh Hiệp đã cung cấp bản danh sách trên, cũng như đã ưu ái giúp kiểm lại những chi tiết cần tra cứu khi sách được hiệu đính lần chót vào tháng 12/2001. Gia đình của tác giả, vào tháng 1/2002, cũng tìm được một bản phóng ảnh tập II cuốn Cours d’histoire annamite.]

          Vì Petrus Key là người của hai nền văn hóa—đúng hơn, hai nền văn hóa rưỡi, tức văn hóa thuộc địa/bảo hộ  Pháp, thần quyền Ki-tô Vatican, và văn hóa Trung cổ Việt đang suy thoái—gọi Petrus Key bằng bất cứ tên nào đều có thể chấp nhận được. Nhưng để tôn trọng tâm nguyện của Petrus Key Trương Vĩnh Ký, xuyên suốt bài viết này tôi sẽ dùng tên Petrus Key hay Trương Vĩnh Ký, hoặc “P.J.B. Truong Vinh Ky” mà không ghi “Petrus Ký” hoặc “Pétrus Ký”. Với ai đó, cái tên “Petrus Key” có thể hơi “lạ,” nhưng cách ghi này chỉ là nguyên tắc thông thường thôi. Nên trả lại cho Cesar những gì của Cesar, vật hoàn cố chủ, theo đúng nghĩa đen của chữ.

Sơ Lược về những tài liệu
giúp nghiên cứu Petrus Key:

          Cho tới hiện nay, quan điểm và mục tiêu chính trị giai đoạn vẫn ảnh hưởng mạnh trên hầu hết các tác phẩm viết về Petrus Key.

Khối văn chương “cung văn” [hagiographies] có bốn nguồn chính: tài liệu truyền giáo, các tác giả Pháp, cựu học sinh hay giáo chức trường Petrus Ký, và những người muốn mượn tên tuổi Petrus Key làm hậu thuẫn chính trị.

Về tài liệu truyền giáo, tiêu biểu có Pierre Khorat với bài “Les personalités annamites catholiques [Những nhân vật An-nam-mít có đạo Ki-tô]” trong cuốn Annales de la Société des Missions Etrangères [Niên giám Hội truyền giáo hải ngoại] năm 1913 (tr. 243-9). Trong bài này, Khorat ca ngợi Petrus Key như một trong bốn giáo dân Ki-tô góp công lớn trong việc thiết lập nền bảo hộ Pháp, bên cạnh Linh mục Trần Lục (Père Six, cánh tay bản xứ của Giám mục Paul Puginier, người tự nhận là cầm đầu hệ thống tình báo dân gian), Huyện Sỹ Lê Phát Đạt (ông ngoại cựu Hoàng hậu Nam Phương), và Tổng đốc Trần Bá Lộc (cấp chỉ huy quân sự bản xứ lừng danh từ Nam Kỳ ra tới Bình Thuận trong các chiến dịch bình định của quân viễn chinh Pháp).

Vài tác giả Pháp cũng viết về Petrus Key như Henri Cordier (“Pétrus Truong Vinh Ky;” T’oung Pao, Séries II, 1 (1900), tr. 261-8) để tưởng nhớ ông, và đặc biệt là Jean Bouchot, một viên chức quản thủ văn khố [archivist]. Bouchot bỏ ra một thời gian dài thu thập tư liệu của gia đình Petrus Key hầu viết tiểu sử ông (Petrus J. B. Truong Vinh Ky, 1837-1898, Saigon, Paulus Cua, 1927), v.. v... Đây quả là vinh dự cá nhân cho Petrus Key. Nhưng, đồng thời, những tư liệu trên cũng hùng hồn chứng minh vai trò trung gian bản xứ ngoại hạng mà Petrus Key thủ diễn trong cuộc xâm lăng và bình định xứ Nam Kỳ của Pháp, cũng như mở rộng cuộc xâm lăng ra Bắc và Trung Kỳ (1859-1886), hay sát nhập nước Ai Lao vào Liên bang Đông Dương thuộc Pháp (1893).

Cựu học sinh và giáo chức trường Petrus Ký lên tới hàng chục ngàn người, gồm nhiều khoa bảng và viên chức cao cấp từ thời Pháp thuộc tới Việt Nam Cộng Hòa, và rồi chủ nghĩa xã hội hiện nay. Một số người này không thể không viết tốt về nhân vật đã được đặt tên cho ngôi trường thuở ấu thời và thanh thiếu niên của họ. “Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy,” như một nhà thơ từng viết.(Xem, chẳng hạn, Nguyễn Thanh Liêm, Trường trung học Pétrus Ký và nền giáo dục phổ thông Việt Nam [n.d.]) Một số tác giả miền Nam còn mang tâm trạng “tôn sùng vĩ nhân” bản xứ. Trường hợp tiêu biểu nhất là hai tác giả Viên Đài & Nguyễn Đồng, qua bài “Nhân ngày giỗ thứ 60 P.J.B. Trương Vĩnh Ký: Người đã mở đầu một kỷ nguyên văn học Việt Nam mới” (Bách Khoa [Saigon], số 40, [1/9/1958], tr. 43-57). Rất tiếc chẳng những không giúp được gì cho sự hiểu biết thêm về cá nhân Petrus Key hay sự triển biến tư tưởng ông ta, hai tác giả trên chỉ đóng góp được một phụ bản chữ ký của “P. Trương Vĩnh Ký” vào ngày 23/7/1872, và bản danh sách 127 [trong số “143”?] tác phẩm mà hai tác giả đoán rằng Petrus Key đã biên soạn. (Ibid., 40:54) Còn lại, thuần những dữ kiện mờ tối, cần kiểm chứng và truy cứu thêm mà Bouchot và các tác giả khác đã ghi từ năm 1927. (Xem phần dưới)

          Đáng quan tâm hơn nữa là đôi ba người không những chỉ coi như “chân lý” các dữ kiện “cung văn” kiểu Petrus Key thông hiểu “26 thứ tiếng,” Petrus Key là nhà “đại ái quốc,” (Pierre Vieillard, “Un grand patriote  Pétrus Ký;” France-Asie, ngày 15/2 & 15/3/1947), Petrus Key tượng trưng cho tình thần bất khuất, nhìn xa thấy rộng, “muốn tự trị” của xứ Nam Kỳ lục tỉnh, v.. v..., mà còn ra công bảo vệ thứ “chân lý giả ngụy” này bằng mọi giá. (Nguyễn Văn Trấn, 1993)

[Một tác giả trong nước, mới đây còn tiểu thuyết hóa cuộc đời Petrus Key, hết lời cung văn cho việc hợp tác với quân viễn chinh Pháp, coi đó là một hành động yêu nước. Theo đúng thủ thuật cung văn quen thuộc của các chế độ chuyên chính, và được sự cổ võ của vài ba nhân vật quyền thế như Sáu Dân Võ Văn Kiệt, tác giả này cho Petrus Key từ thuở lên bốn, lên năm đã đọc tứ thư, ngũ kinh (chỉ dành cho những khóa sinh chuẩn bị thi Hương hay thi Hội); đọc Thánh kinh (Bible) viết bằng tiếng Latin từ lúc chưa đầy tám, chín tuổi, dù ngay đến các giáo sĩ Pháp cũng rất ít khi, nếu chẳng phải chẳng bao giờ được quyền mang theo Thánh kinh đi giảng đạo (họ chỉ mang theo sách giảng tám ngày, sách lễ và đại loại); tảng lờ hoặc không biết đến những báo cáo do đích tay Petrus Key viết trình lên thượng cấp người Pháp; bịa đặt ra những cảnh giáo dân Ki-tô bị quan quân đập chết bằng vồ, con nít bị xé xác làm nhiều mảnh trong các chiến dịch bài đạo của vua Minh Mạng, v.. v... (dưới dạng ngủ mơ); có lẽ với mục đích bảo vệ quyết định của Sáu Dân thay tên đường Thái Văn Lung bằng Alexandre de Rhodes, rồi cho lập trường trung học tư (dân lập) Petrus Ký. Loại phóng bút hoang tưởng này bất chấp những sự thực lịch sử như Việt Nam, đặc biệt là đất Đàẵng/Hội An, đã dung chứa hàng trăm giáo sĩ và giáo dân Nhật trốn chạy cuộc thảm sát Ki-tô ở Nhật trong giai đoạn 1597-1624; mở rộng vòng tay đón nhận những giáo sĩ Ki-tô “Hòa Lan” đầu tiên như Francesco Buzomi (Italia), Diego Carvalho (người Portugal), Antonio Diaz (người Espania), cùng hai người Nhật Joseph và Paul từ ngày 18/1/1615; rồi đến các giáo sĩ Andrea Fernandez (Portugal, 1615), Francisco Mareto (Portugal), Francesco di Pina (Italia, 1617), Christoforo Borri (Italia, 1618); và cho phép họ mang thông ngôn đi hỏi người Việt, “Con Gnoo muon bau lom laom Hoa laom chỉa?” (Con nhỏ muốn vào trong lòng Hòa Lan chưa?) (Hồng Lam & Léopold Cadière, Lịch sử đạo Thiên chúa ở Việt Nam [Huế: Đại Việt, 1944], tr. 169-75 [Việt ngữ]). Tại Đàng Ngoài, chúa Trịnh cũng vậy. Trên thực tế, vua chúa Việt không hề tắm máu giáo dân Ki-tô như vua chúa Nhật, mà thường chỉ trừng trị hàng giáo sĩ hay giáo mục bản xứ. Cổ nhân thường dạy “Dặm đổ, bìm leo,” là vậy!]

          Trong số người muốn dùng Petrus Key để bày tỏ quan điểm chính trị của mình có các ông Hồ Hữu Tường và Nguyễn Văn “Bảy” Trấn, cựu đao thủ phủ đất Chợ Đệm trong hai năm 1945-1946.

Qua bài “Hiện tượng Trương Vĩnh Ký: Từ người trí thức tới kẻ sĩ phu” đọc tại Sài Gòn và đăng lại trên báo Bách Khoa năm 1974, Hồ Hữu Tường  đưa ra những biện hộ tương đối ôn hòa nhất, dù ông Tường chẳng sử dụng được một tài liệu nào mới, và dữ kiện đưa ra thường không đúng sự thực. (Hồ Hữu Tường, “Hiện tượng Trương Vĩnh Ký hay là hóa trình từ người trí thức đến kẻ sĩ phu;” Bách Khoa (Sài Gòn), M [1974], tr. 15-22) Gần 20 năm sau, trong tập Trương Vĩnh Ký in năm 1993, ông “Bảy” Trấn giải thích rằng chữ “người Pháp” (mà Petrus Key cổ võ thúc dục người Việt phải đưa cả hai tay ra mà bám chặt lấy để đứng lên) trong thư từ hay báo cáo Petrus Key viết cho các viên chức Pháp phải hiểu rộng thành “Tây phương.” (Trương Vĩnh Ký, 1993, tr. 17; Báo cáo ngày 28/4/1876, P. Truong Vinh Ky gửi Amiral Duperré). Lối giải thích quá rộng rãi này, dù với hàm ý gì đi nữa, có thể khiến ông Petrus Key phải dơ tay phản kháng từ đáy mồ. (Vì Petrus Key rất hãnh diện được làm thần dân của một quốc gia mới là nước Pháp; Xem, Cours dõhistoire annamite, tập II [1879?], tr. 252, 278) Giáo sư Nguyễn Thanh Liêm, vào khoảng năm 1995, thì trích dẫn lại hầu hết những lời xưng tụng nhà giáo dục Petrus Key mà không hề kiểm chứng mức độ khả tín của tư liệu, và nhất là quên đi khía cạnh chính trị của nền giáo dục thuộc địa ấy.(Nguyễn Thanh Liêm, op. cit., tr. 11-22)

          Dĩ nhiên, nhiều cựu học sinh trường Petrus Ký biết rất rõ vai trò đích thực của Petrus Key cũng như khả năng ngôn ngữ và vai trò “văn hóa” của ông, nhưng họ đã chọn thái độ im lặng. Chẳng ai muốn khuấy bùn làm đục nước ao. Khả năng và tinh thần yêu nước của các cựu học sinh trường Petrus Ký chẳng liên quan gì tới vai trò lịch sử hay tài năng của Petrus Key, một cá nhân đã được chính quyền Bảo hộ đặt làm tên trường học của họ (và họ không có một lựa chọn nào hơn phải chấp nhận). Họ phân biệt rõ ràng giữa “tinh thần trường Petrus Ký” và “tinh thần Petrus Key.” Hàng trăm, nếu không phải hàng ngàn, cựu giáo chức và học sinh trường Petrus Ký đã đổ máu hay hy sinh mạng sống trong cuộc đấu tranh kháng Pháp, giành độc lập, giương danh quốc dân và đất nước Việt trên thế giới, hoàn toàn trái ngược với lời hô hào hãy đồng hóa quyền lợi của người An-nam-mít với quyền lợi Đại Pháp mà Petrus Key đề xướng—hai thứ quyền lợi khác nhau như nước với lửa.

Cũng có tác giả nghiêng về khuynh hướng “đào mộ,” thích gọi Petrus Key bằng những tiếng xúc phạm nặng nề như “Việt gian,” “tay sai đắc lực cho thực dân Pháp,” v.. v... Từ thập niên 1960, tại miền Bắc đã công khai dùng tiếng này. (Xem Tô Minh Trung, “Trương Vĩnh Ký: tên tay sai đắc lực đầu tiên của chủ nghĩa thực dân Pháp trong lịch sử ta;” Nghiên cứu lịch sử (Hà Nội), Bộ 65, số 2 (1964), tr. 43-6; Mẫn Quốc, “Trương Vĩnh Ký: một nhà bác học trứ danh đã ngang nhiên đóng vai đặc vụ tình báo, làm tay sai đắc lực cho thực dân Pháp;” NCLS, Bộ 60, số 3, 35-8) Tại miền Nam, một số tác giả cũng đặt lại vai trò Petrus Key trong lịch sử. Tiêu biểu nhất có những bài viết trên bán nguyệt san Bách Khoa của Nguyễn Sinh Duy [8/1974] và Phạm Long Điền [11/1974]. Hai tác giả Nguyễn Sinh Duy và Phạm Long Điền đã trả lời khá xuất sắc cung văn của ông Hồ Hữu Tường về Petrus Key. (Tôi chưa được tham khảo tập Cuốn Sổ Bình Sinh do ông Nguyễn Sinh Duy biên soạn và xuất bản vào tháng 3/1975 [hay 1974?])

          Vào thập niên 1990, con người và tác phẩm Petrus Key lại được đem ra mổ xẻ. Phần vì có thêm những tư liệu mới. Phần vì có nỗ lực chính trị để thiết lập một trường trung học dân lập (tư thục) mang tên Petrus Ký tại Sài Gòn. Ngoài ra, còn âm mưu bành trướng ảnh hưởng của một thiểu số giáo mục và giáo dân Ki-tô tham vọng. Tôi không theo dõi kỹ những cuộc tranh luận này vì vài lý do.

Trước hết, tôi không nuôi tham vọng làm một “nhà Petrus Key học.” Những tư liệu tìm được về Petrus Key chỉ rất tình cờ. Hơn nữa, vai trò lịch sử của Petrus Key đã được xác định, từ lâu: một trong những khai quốc công thần của nền bảo hộ Pháp; nhưng vẫn chỉ là một thành phần trung gian bản xứ “được khai hóa.” (Chỉ cần nhìn vào hàng huy chương trong di ảnh Petrus Key đủ chứng minh điều này: Nào là Bắc đẩu Bội tinh, Long Khánh Bội tinh, v.. v...)

Thứ hai, tôi hiểu rằng với các sử quan Cộng Sản, mọi nghiên cứu sử học chỉ nhằm phục vụ mục tiêu chính trị giai đoạn của Đảng Cộng Sản và Nhà nước Xã hội Chủ nghĩa. Những kết luận lớn và nhỏ của các sử quan (chưa hẳn đã là sử gia) trong nước, bởi thế, chẳng nên bận tâm. Vì chúng sẽ được thay đổi hay bỏ quên khi cần. Chỉ so sánh những tài liệu sử quan Cộng Sản viết về Trung Quốc trong thập niên 1950 và 1960, với những gì họ công bố từ năm 1980 tới 1990, rồi những gì họ đang viết vào đầu thế kỷ XXI (và ngược lại) đủ hiểu thân phận và nỗi buồn của người nghiên cứu còn đôi chút lương thiện trí thức tại quốc nội. Nói cách khác, kết luận của những buổi hội thảo về Petrus Key ra sao đi nữa chẳng đóng góp gì nhiều cho kiến thức sử học.

Tuy nhiên, một trường hợp đặc biệt cần ghi nhận. Đó là trường hợp cuốn Trương Vĩnh Ký: Nhà văn hóa của Giáo sư Nguyễn Văn Trung (Hà Nội [?]: Nhà văn, 1993). Một thời, nhóm ông Trung (trí thức Ki-tô tiến bộ) đả kích cả hai ông Petrus Key và Phạm Quỳnh khá nặng. Nhưng trong tập sách mới trên, ông Trung tự nhận đã thay đổi quan điểm.(Ibid., tr. 49, 137) Sự thay đổi này có lẽ do mục đích chính trị giai đoạn hơn văn hóa. Trước hết, Giáo sư Trung ra công sưu tập được một số tư liệu nguyên bản của Petrus Key tại Sài Gòn và Hà Nội—như danh sách 141 tác phẩm do chính Petrus Key tự liệt kê vào năm 1892 (Ibid., tr. 109-131), danh sách 7 ngoại ngữ Petrus Key từng học hỏi ghi trong hồ sơ cá nhân ông (anglais, franỄais, espagnol, italien, malais, cambodgien, latin; Ibid., tr. 138), hay phân tích khá kỹ lưỡng tờ học báo ít người chú ý, tức nguyệt san Thống Loại Khóa Trình (Miscellanées ou Lectures instructives pour les élèves des écoles primaires, communales, cantonales et les familles) trong hai năm 1888-1889 (loại tài liệu dạy trong bộ môn khoa học, hay cách trí thường thức). Ông Trung cũng tham khảo những bài viết về Petrus Key của một số tác giả, như Lê Thanh, Nguyễn Văn Tố, và một cây bút ít ai biết như Pierre Vieillard [Villard?], v.. v... Nhưng vì mục đích “kéo” Petrus Key về với văn hóa Việt Nam, ông Trung mất đi thế đứng trung dung của người nghiên cứu, để lộ vài kẽ hở kỹ thuật. Một trong những nhược điểm này là ông Trung tránh phân tích nội dung một số tác phẩm của Petrus Key như bộ Bài giảng sử An-Nam-mít, v.. v... Giáo sư Trung chỉ ghi nhận sơ sài rằng ông Petrus Key đả kích các vua Nguyễn một cách “nghiêm khắc.” Thực ra, trong tập “giáo khoa sử” trên, Petrus Key không những chỉ “nghiêm khắc” với các vua nhà Nguyễn mà còn bịa đặt ra, hoặc sao chép lại những lời bịa đặt của người khác, cho mục đích chính trị nhất thời. Thí dụ như không hề có việc ông Nguyễn Văn Thành [mà Petrus Key viết thành Nguyễn Văn Thiềng] làm “vice-roi” [Phó vương] miền Bắc, bị vua Minh Mạng hại chết (Tome II:260); hay việc Minh Mạng giết hai con Hoàng tử Cảnh và chị dâu sau khi khiến chị dâu góa bị mang thai.(Tome II:259-60; xem thêm phần dưới) Hai Hoàng tử của vua Thiệu Trị không phải là “Hoàng Bảo” và “Hoàng Nhậm”; tên đệm của họ là “Hường.” Từ thời điểm này nhìn lại những lời bịa đặt, chỉ trích đầy sai lầm về dữ kiện ấy chẳng xứng đáng chút nào với lời “cung văn” của ông Nguyễn Văn Tố như “science, conscience, modestie” [khoa học, lương tâm, khiêm tốn].(“Pétrus Ký (1873-1898); Bulletin de la Société d’Enseignement Mutuel du Tonkin [Thành tích biểu Hội Truyền bá chữ quốc ngữ Bắc Kỳ], Tome XVII, Nos. 1-2, Janvier-Juin 1937; dẫn trong Nguyễn Văn Trung, 1993, tr. 49, 197-8. Tại Thư viện Quốc Gia Pháp có tựa sách này, nhưng hiện nay không được phép tham khảo vì đã “không sử dụng được”) [Xem thêm phần sau]. Và dĩ nhiên, khó thể  giúp xếp loại Petrus Key là “sử gia trung thực và có lương tâm” [historien fidèle et consciencieux] như ông ta tự nhận (Tome II:251), hay được “cung văn”.(Nguyễn Văn Trấn, 1993, tr. 45)

          Ông Trung còn tránh đề cập đến khía cạnh “tài tử” trên lãnh vực ngôn ngữ học của ông Petrus Key; hoặc đúng hơn, chưa phân biệt rõ ràng khía cạnh “thực dụng” của khả năng ngoại ngữ (thông ngôn, giáo viên dạy tiếng Việt và Pháp) và “lý thuyết” ngôn ngữ học mà Petrus Key không hoặc chưa có dịp thảo luận. Tôi nghĩ những ghi chép vỏn vẹn 1, 2, 3 hay 5, 10 trang về một ngôn ngữ chưa đủ phản ảnh, hay chưa đủ số lượng tư liệu để lượng giá, khả năng hiểu biết của tác giả về ngôn ngữ ấy. Và, gọi là “tác phẩm” thì hơi quá đáng.

Hơn nữa, ông Trung cố lý luận rằng Giáo sư trường Thông ngôn và rồi Tập sự Hành chính (hay, “Hậu bổ” nếu muốn) đã trở thành một nhà ngôn ngữ học—có lẽ do những chữ linguiste hay philologue ghi trong hồ sơ cá nhân Petrus Key—dù chính ông chưa được đọc những tựa sách như Essai sur la similitude des langues et des écritures orientales [Bàn về sự tương đồng trong các ngôn ngữ và cách viết Ầông phương]; Analyse comparée des principales langues du monde [Phân tích tỉ đối các ngôn ngữ chính trên thế giới]; Etude sans titre sur les langues de la Pennisule indochinoise [Nghiên cứu không có tựa đề về các ngôn ngữ ở bán đảo Đông Dương]; Etude comparée sur les langues, les écritures, les croyances et les moeurs de l' Indochine [Nghiên cứu tỉ đối về ngôn ngữ, chữ viết, tín ngưỡng và phong tục Ầông Dương]; Combinaisons des systèmes conventionnels des écritures idéographiques, hiérogliphiques, phonétiques et alphabé-tiques [Sự phối hợp những hệ thống qui ước về các lối chữ viết hội ý, ký hiệu (giống như chữ cổ Ê-gípt), ghi âm và bằng mẫu tự La-tin]; hay Etude comparée des écritures et des langues des trois branches linguistiques [Nghiên cứu tỉ đối về ba ngành ngôn ngữ học].

          Chưa một ai cho biết  mỗi cuốn trong 6 tựa sách trên dày bao nhiêu trang, nội dung ra sao. Cuốn Essai sur la similitude des langues et des écritures orientales [Bàn về sự tương đồng trong các ngôn ngữ và cách viết Đông phương] còn dưới dạng bản thảo, được Giáo sư Elucian Luro nhắc đến năm 1872, và in lại trong Thành tích biểu Hội Giáo dục Đông Dương (BSEI, tome XV, No. 1-2, 1er & 2è trimestre 1940, tr. 73).  Bản thảo Analyse comparée des principales langues du monde [Phân tích tỉ đối các ngôn ngữ chính trên thế giới] do ông Nguyễn Văn Tố nhắc đến năm 1937 trong Thành tích biểu Hội Truyền bá Quốc Ngữ Bắc Kỳ (BSEMT, tome XVII, No. 1-2, Janvier-Juin 1937, tr. 37). Bản thảo Etude sans titre sur les langues de la Pennisule indochinoise [Nghiên cứu không có tựa đề về các ngôn ngữ ở bán đảo Đông Dương] do ông Lê Thanh nhắc đến trong cuốn Trương Vĩnh Ký, in tại Hà Nội năm 1941. (Có lẽ là tập ghi chép 33 trang trao tặng cho Viện Khảo cổ Sài Gòn năm 1958). Tương tự, ba bản thảo Etude comparée sur les langues, les écritures, les croyances et les moeurs de l’ Indochine [Nghiên cứu tỉ đối về ngôn ngữ, chữ viết, tín ngưỡng và phong tục Đông Dương]; Combinaisons des systèmes conventionnels des écritures idéographiques, hiérogliphiques, phonétiques et alphabétiques [Sự phối hợp những hệ thống qui ước về các lối chữ viết hội ý, ký hiệu (giống như chữ cổ Ê-gípt), ghi âm và bằng mẫu tự Latin]; và Etude comparée des écritures et des langues des trois branches linguistiques [Nghiên cứu tỉ đối về ba ngành ngôn ngữ học] chỉ thấy ghi trong thư mục chép tay của Petrus Key năm 1892, nhưng chưa ai được tham khảo. Hình dạng sách hay bản thảo chưa hề thấy, nội dung sách hay bản thảo chưa được đọc mà cứ nhắm mắt lại khen nức nở, sợ có thái quá chăng?

Đoạn nói về “Nghiên cứu nguồn gốc chữ viết Việt Nam” của Petrus Key, ông Trung dẫn hai cuốn Sách mẹo Annam, Abrégé grammaire annamite (1867, 1924) và Ecriture en Annam [Chữ viết ở An-Nam] để giới thiệu “thuyết” của Petrus Key rằng “chữ cổ Việt” vốn “ghi âm” [phonétique] hơn “tượng hình.” Lời võ đoán này chẳng dựa trên bằng chứng cụ thể nào ngoài câu tuyên bố vu vơ như dấu khắc tìm thấy trên đá núi Dahia. (Trương Vĩnh Ký, Sách mẹo An-Nam, Abrégé grammaire annamite, [Sai Gon, 1867], phần mở đầu; và “écriture en Annam;” BSEI, année 1888, 1er semestre, tr. 5; dẫn trong Nguyễn Văn Trung, 1993, tr. 143-4) Sợ rằng đây chỉ là thứ lập luận . . . “mua vui cũng được một và trống canh!” Chưa một tài liệu nào, kể cả các bộ cổ sử nặng mang tính cách dựng quốc thống của Ngô Sĩ Liên hay di tích khảo cổ, cho phép tuyên bố nước cổ Việt đã có chữ viết giống như những nét khắc trên đá “ở đỉnh núi Dahia?” Dựa vào những câu phụ chú hoang tưởng [exotic] của Kinh Thư và Sử Ký về sứ nước Việt Thường tiến cống rùa vàng (đời vua Nghiêu, 2356-2255 TTL) hay chim trĩ trắng (năm thứ sáu đời Chu Thành vương, 1115-1079 TTL), “chín lần” hay “ba lần” thông ngôn mới hiểu được nhau, để đoan chắc hoặc phóng tưởng rằng người cổ Việt đã có chữ viết từ thế kỷ thứ V TTL (?) sợ rằng lối suy luận ấy chẳng “science, conscience, modestie” chút nào! Nó là một thứ võ đoán, trong nhiều võ đoán khác của Petrus Key rải rác trong các sách còn lưu giữ được, tương tự như lời phán “con nít từ nách chui ra.”

[Trước ông Petrus Key hơn bảy trăm năm, Cheng Ch'iao (Trịnh Tiều, 1104-1162) dựa theo huyền thoại sứ Việt Thường (có người ước đoán từ Nghệ An tới Quảng Bình, Quảng Trị hiện nay) đến cống Chu Thành Vương (1115-1079 TTL) một con chim trĩ trắng (Shu Waltham), tr. 199-200; Cương Mục [Sài Gòn], 1965, II:29-31) để tán vào tập sách T'ung chih [Thông chí] của mình rằng sứ Việt Thường đã qua tới Trung nguyên vào đời vua Đường-Nghiêu (2356-2256 TTL), cống “con rùa ngàn năm trên lưng có chữ khoa đẩu.” Rồi ghi thêm rằng vua Nghiêu dùng loại chữ ấy để soạn “lịch rùa!” (Cương Mục [Sài Gòn], 1965, II:28-9). Hơn trăm năm sau nữa, khi dùng Kinh Thư để viết Thông Giám Tiền Biên—tức phần Tiền Biên cho cuốn Tư trị Thông Giám của Tư Mã Quang (1019-1086)—Kim Lý Tường  (1232-1303) vẫn giữ chi tiết “rùa thần” nhưng loại bỏ các chi tiết chữ “khoa đẩu” và “lịch rùa” của Trịnh Tiều trong sách Thông chí. Hiện nay, tài liệu khảo cổ tiết lộ chữ “giáp cốt” (tức chữ viết trên mai rùa và xương thú) xuất hiện vào khoảng giữa đời nhà Thương-Ân, tức sau triều Bàn Canh. [Xem thêm bài Tư liệu lịch sử]

          May mắn là thời gian Petrus Key còn sống, những di tích khảo cổ chưa được phát hiện, bằng không có thể sẽ có những loại lý luận kiểu “hoa văn [hình khắc] trên trống đồng Đông Sơn” là “chữ cổ Việt theo dạng ghi âm!”

Tại hải ngoại, nhờ tư liệu văn khố mới phát hiện và có điều kiện nghiên cứu tác phẩm cùng sách báo nguyên bản, các nhà nghiên cứu đã tái dựng gần đúng sự thực hơn về Petrus Key cùng nhiều tác nhân thời Pháp xâm chiếm Đại Nam. Đáng lưu ý là bài viết của các ông Bùi Kha, Nguyễn Đắc Xuân, v.. v... trên tờ Giao Điểm (California) mới đây [số 41 & 42, năm 2001], và nhất là hai tập Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hòa Toàn Thư, tập I (tái bản năm 2000) và Thực Chất Giáo Hội La Mã (2 tập, 1999) của Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang. Sử dụng nhiều loại tài liệu, kể cả một số tư liệu văn khố do tôi sưu tập, Giáo sư Quang khẳng định ông Petrus Key không yêu nước. (Ngược lại, Giáo sư Hứa Hoành, cựu giảng viên trường Võ bị Ầà Lạt, tác giả nhiều biên khảo về miền Nam, dù sử dụng phần tư liệu tương tự, lại kết luận Petrus Key chưa hẳn đã là Việt gian, mà còn yêu nước).

          Tóm lại, trước năm 1996, chúng ta biết rất ít về Petrus Key ngoài những huyền thoại, cung văn tức tài liệu truyền đơn, khẩu hiệu. Đãọi là cung văn thì dĩ nhiên cái gì Petrus Key cũng tốt cũng hay. Những người chê trách thì—ngoại trừ  các ông Nguyễn Sinh Duy, Nguyễn Đắc Xuân, Bùi Kha, hay Nguyễn Mạnh Quang—chỉ sử dụng tư liệu cũ và giải thích theo lòng yêu ghét hay quan điểm chính trị giai đoạn của họ.

Nhưng hiện nay, văn khố thuộc địa Pháp cũng như Hội truyền giáo Paris đã mở ra cho giới nghiên cứu, đa số những điều người Pháp viết về “công ơn khai hóa” của họ tại Đông Dương bắt đầu bị sự thực lịch sử đào thải dần. Những cung văn về các nhà đại ái quốc của tân trào bảo hộ Pháp như Petrus Key hay Hiệp sĩ Vatican Nguyễn Hữu Bài, Trần Bá Lộc, Ngô Đình Khả, Ngô Đình Diệm, v.. v... cũng chịu chung số phận khó tránh. Những tài liệu văn khố mới được công bố này rất khả tín [authentique], và không ai, nếu có đủ lý trí để suy xét và sự lương thiện trí thức tối thiểu, có thể bài bác. Vậy mà, thật đáng buồn, đôi ba người vốn chẳng có bao lăm kiến thức sử học, lại đầy tư tâm, tìm cách bênh vực Petrus Key bằng mọi giá, nhắm mắt lại mà đả kích những tác giả công bố các tư liệu mới về thông-ngôn-gia chính ngạch kiêm học giả miền Nam này!

Thuở thiếu thời của Petrus Key:

          Những tư liệu về thuở thiếu thời của Petrus Key đầy chi tiết trái ngược nhau.

Năm 1958, Viên Đài & Nguyễn Đồng cho rằng thân phụ Trương Vĩnh Ký là “Lãnh binh Truơng Chánh Thi,” (Bách Khoa [Saigon], số 40, [1/9/1958], tr. 43) chết năm 1845 trong khi tùng sự ở Nam Vang (Ibid., tr. 43); năm  1846 mẹ (Nguyễn Thị Châu) ủy thác cho một giáo sĩ người Pháp có tên Việt là “cố Long” (Ibid., tr. 44);  năm 1847, Tự Đức lên ngôi, cấm đạo gắt gao phải chạy sang Cao Miên (Ibid., tr. 44); năm 11 tuổi nói được 5 thứ tiếng (Ibid., tr. 44); năm 1852 được cố Long hướng dẫn sang Đại chủng viện Pinang, và ghé qua Sài Gòn gặp mẹ được vài giờ (Ibid., tr. 44); tại Pinang học tiếng Anh, Nhật, ấn (Ibid., tr. 45); năm 1858 mẹ chết, về Cái Mơn thọ tang; ngày 28/12/1860, được Giám mục Lefèbvre giới thiệu “giúp việc cho Đại úy thủy quân” [sic]  Jauréguiberry (Ibid., tr. 45). (Đại tá J. D’Ariès được lệnh thay Trung tá Jauréguiberry từ tháng 2/1860; chính thức bàn giao vào tháng 4/1860]; Vũ Ngự Chiêu, Các vua, I:124)

          Mười sáu năm sau, nhà chính khách tự nhận là “Đệ tứ Cộng Sản” (Trotskyite) Hồ Hữu Tường, cho rằng Petrus Key  sinh trong một gia đình “công giáo” (Bách Khoa; N [404], 5/9/1974, tr.17), cha là “lãnh binh Trương Chánh Thi,” mẹ là Nguyễn Thị Châu (Ibid., tr. 17). Năm 1847, được một linh mục nhận nuôi (Ibid., tr. 17). Sau khi học tại các trường đạo, Petrus Key nói thông thạo “10 thứ tiếng khác nhau”: La-tinh, Pháp ngữ, Anh ngữ, Y pha nho, Hoa ngữ, Mã lai, Ấn độ ngữ, Nhật ngữ. (Ibid., tr.17,18) Năm 1858, mẹ chết; Petrus Key được phép về thọ tang mẹ (Ibid., tr.18). Ngày 20/12/1860, khi người Pháp khánh thành trường Thông ngôn; Petrus Key đứng đầu trường này.( Ibid., tr.18)

Năm 1974, Phạm Long Điền, qua bài “Trương Vĩnh Ký trong quĩ đạo xâm lăng văn hóa của thực dân Pháp” (Bách Khoa Q [1974], tr. 45-54; & R [1974], tr. 32-42) cung cấp một niên biểu khác: Năm 1842, khi mới 5 tuổi, Petrus Key đã theo Linh mục Tám của vùng Cái Mơn (Bách Khoa Q [1974], tr.47); bốn năm sau, 1846, theo Cố Long, một Linh mục người Pháp (Ibid., tr.47); hai năm sau nữa, 1848, Cố Long đưa qua Pinhalu, Miên (Ibid., tr. 47); năm 1850, qua Pinang, học trường Dulama (Ibid., tr. 47); năm 1857, nghe mẹ từ trần, rời Pinang về Nam Kỳ (Ibid., tr. 47-8); hai năm sau, được Giám mục Lefèbvre giới thiệu cho người Pháp. Rồi năm 1861, Cố Doan [Đoan] làm mai cho lấy vợ, Vương Thị Thọ, con Vương Tấn Nguơn, Hương chủ làng Nhơn gian, Chợ quán.

Khoảng giữa thập niên 1990, tại hải ngoại, Giáo sư Nguyễn Thanh Liêm cũng chép lại gần như nguyên văn các chi tiết trên. Nào là “lãnh binh Trương Chánh Thi dưới thời Minh Mạng,” “chết năm [1845] trong khi đang đồn trú tại Nam Vang” (tr. 12); thuở nhỏ Petrus Key học chữ Nho với thày “đồ Học,” được “cụ Tám” xin mang về nuôi; rồi theo cố Long, cố Hòa học tiếng Latin và chữ Việt mới (tr. 12); năm 1848 qua học ở Miên, rồi qua Pinang; năm 1858, mẹ chết, về nước.(tr. 13)

          Trong nước, năm 1993, Nguyễn Văn Trấn hầu như chỉ lập lại những lỗi lầm của người đi trước. Theo ông Trấn, Petrus Key sinh ngày 16-12-1837 tại Cái Mơn, làng Vĩnh Thành, tổng Minh Lệ, huyện Tân Minh, tỉnh Vĩnh Long (nay thuộc Bến Tre). (Trấn, 1993, tr. 9) Cha là võ quan dưới hai triều Minh Mạng và Thiệu Trị, “làm sứ thần bên cạnh vua Cao Miên, đóng quân ở phụ cận Nam Vang,” chẳng may chết vì “ma thiêng nước độc” khi Petrus Key mới có 3 tuổi. Hai năm sau, Petrus Key học với một ông đồ. Năm 1846 được một giáo mục An Nam là “cố Tám” từng chịu ơn ông Trương Chánh Thi ghé nhà, xin mang đi nuôi ăn học. Cố Tám chết, một linh mục Pháp là cố Long đưa Petrus Key lên Nam Vang, cho vào trường “Pô-nhia Lư” [Pinhalu] của cố Hòa (Belleveaux).(tr.9-10) Năm 1851, khi Petrus Key đã 14 tuổi, cố Long đưa sang Pinang học “Seminaire général des missions étrangères en Extrême-Orient”. Năm 1852, làm tu sinh ở Pinang. Trường này có hơn 300 học sinh, nhờ vậy Petrus Key học được tiếng Anh, tiếng Nhật, tiếng Hindu (tr. 12). Năm 1859, mãn khóa 8 năm ở Pinang, “im lặng” về nước. Năm này, Pháp đã chiếm Đàẵng, mẹ đã chết.(tr. 13) Dạy học ở Cái Nhum, rồi trốn lên Sài Gòn, ở chung với Lefèbvre.(tr. 16) Tháng 12/1859, trở thành thông ngôn của “quan ba hải quân” (sic) Jauréguiberry.(tr. 17) Năm 1963 được Phan Thanh Giản xin làm thông ngôn cho sứ đoàn qua Pháp.(tr.24)

          Khối văn chương được nhiều người nhìn nhận [established] về Petrus Key này có vẻ bất ổn. Chúng ta thử lược duyệt từng chi tiết từ phụ thân Petrus Key tới những đặc tính khác của ông.

Mark_03.gif (833 bytes) Gỡ lần những manh mối lịch sử | gia phả của Petrus Key

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........