curley_sw.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw.gif (1967 bytes)

.......... .
 
Có Chăng Một "Lãnh Binh"
Trương Chánh Thi?

          Đúng ngày Thanksgiving 2000, một ông bạn già điện thoại hỏi: "Có chăng một ông Lãnh binh Trương Chánh Thi?" Trương Chánh Thi là thân phụ ông Petrus Key.

Tôi không dám trả lời ngay, hẹn xin trả lời sau khi đọc lại hồ sơ.

          A. Theo một tài liệu, năm 1891, Petrus Key viết cuốn Généalogie de la Famille de P. Truong Vinh Ky tức Gia phả nhà Trương Vĩnh Ký. Jean Bouchot và nhiều tác giả đã nhắc đến tập này. Tôi chưa đọc nên không dám có ý kiến. Nhưng tôi nghĩ Petrus Key, có lẽ không nói cha ông là Lãnh binh, mà chỉ ghi cha mình là “võ quan.” Ngoài ra, thủ bút của ông còn ghi “Trương Vĩnh Thế, thày Bửu đỡ đầu, Trương Thị Gia, Bà Se Si La [hay Se Di La] đỡ đầu, Trương Vĩnh Nhi, Mr. Galy đỡ đầu.” (Nguyễn Văn Trung, 1993, tr. 62) Không rõ Trương Vĩnh Thế, Trương Thị Gia hay Trương Vĩnh Nhi là ai, liên hệ với Petrus Key ra sao. Kết luận duy nhất là trong họ Trương, ngoài Petrus Key, còn có ba người khác được Hội truyền giáo nuôi.

          B. Tác giả Henri Cordier, trong bài tưởng niệm Petrus Key đăng trên T’ng Pao (Séries II, I, 1900, tr. 261-8), không cung cấp nhiều chi tiết về cha mẹ Petrus Key. Tương tự, tác giả Pierre Khorat, trong bài viết về 4 nhân vật Ki-tô bản xứ nổi danh Đông Dương trên tờ Annales de la Société des Missions Etrangères năm 1913, cũng chỉ đề cập sơ sài về gia đình Petrus Key (tr. 243-9).

          C. Học giả Milton E. Osborne, người nghiên cứu khá kỹ lưỡng về Trương Vĩnh Ký, từng sử dụng các tư liệu gia đình họ Trương cũng như hồ sơ Petrus Key trong văn khố Pháp tại Sài Gòn để soạn bộ The French in Cochinchina and Cambodia: Rule and Response, 1859-1905 [Người Pháp ở Nam Kỳ và Cao Miên: Cai trị và Phản ứng, 1859-1905], chỉ ghi một cách mơ hồ rằng cha Petrus Key là võ quan, chết khi cậu mới 9 (chín) tuổi, tức vào năm 1846. Osborne suy đoán rằng cha Petrus Key là giáo dân Ki-tô, nhưng chức võ quan của ông ta đã bảo vệ được gia đình trong cuộc bài đạo Ki-tô.(Osborne 1969:95) Khoảng 30 năm sau, hai ông Nguyễn Văn Trấn và Nguyễn Văn Trung đều ghi nhận cha ông Petrus Key chỉ là “võ quan.” (Lại có tác giả cho rằng cha Petrus Key chỉ theo đạo sau khi lấy vợ đạo gốc).

          D. Người đầu tiên nêu lên chi tiết “lãnh binh Trương Chánh Thi” mà tôi được biết là hai ông Viên Đài và Nguyễn Đồng, trên Bách Khoa số 40 (1/9/1959) (tr. 43). Chẳng hiểu hai tác giả này đã dựa theo sách nào, hay tự tìm được chi tiết “lãnh binh Trương Chánh Thi.”

Ông Hồ Hữu Tường lập lại chi tiết trên; nhưng vì tác giả Phi Lạc Sang Tàu không phải là nhà khảo cứu chuyên nghiệp, lại không nói rõ lấy tài liệu từ đâu, chẳng nên chú ý lắm. Mới đây, có tác giả ở hải ngoại và trong nước lập lại chi tiết này.

Giáo sư Nguyễn Thanh Liêm thì ghi “lãnh binh Trương Chánh Thi” thời Minh Mạng, chết tại Nam Vang năm 1845.

Tóm lại, theo các tài liệu hiện hữu, ông Trương Chánh Thi là một võ quan và có thể đã lên tới chức lãnh binh, ông ta theo đạo Ki-tô, và chết vào ba thời điểm: 1840, 1845 hay 1846.

          E. Cũng may, khi soạn bộ Các Vua Cuối Nhà Nguyễn, 1883-1945 (gồm 3 tập, đã xuất bản năm 1999-2000) tôi ghi chép khá đầy đủ về bang giao Việt Nam-Chân Lạp và những cuộc binh biến ở "Trấn Tây thành." Theo sự hiểu biết của tôi, bộ Đại Nam Thực Lục, Chính Biên thời Minh Mạng (1820-1841) và Thiệu Trị (1841-1847) không hề nhắc đến tên "Trương Chánh Thi." Tôi còn kiểm lại cả ba bản "Sách Dẫn" của bộ ĐNTL,CB (trong tập 22 và 26) mà không thấy tên này. Riêng Châu bản triều Minh Mạng thì tôi mới chỉ được đọc bản Mục Lục, tập II, do Trần Kính Hòa dịch, Đại học Huế xuất bản năm 1962. Cũng không thấy tên Trương Chánh Thi, dĩ nhiên.

Đểảo đảm hơn cho câu trả lời của mình, tôi tìm đọc những người mang họ Trương ở miền Nam có dính líu đến Chân Lạp (đổi tên thành Cao Man dưới thời vua Thiệu Trị) hoặc xuất hiện tại Gia định thành.

          1. Có ông "Trương Văn Thi" nào đó, nhưng ông ta là con cụ Trương Minh Giảng, một đại thần từng Bảo hộ Chân Lạp khá lâu, trước khi cai quản "Trấn tây Thành" (tức nước Chân Lạp trong thời gian bị nhà Nguyễn chiếm đóng) và đã từ trần khi triệt thoái về tới An Giang vào tháng Chín Tân Sửu [15/10-12/11/1841] vì buồn bực và xấu hổ.(ĐNTL,CB, 23:351-2)  Con cụ Giảng là Trương Văn Thi bị rút hàm thất phẩm. Dòng dõi cụ Trương Minh Giảng có Trương Minh Ký tự nhận là học trò Petrus Key. Tôi chưa hề nghe ai nói Petrus Key có họ hàng với cụ Trương Minh Giảng. Như thế, cái tên Trương Văn Thi có thể gạch bỏ trong việc truy tìm tông tích phụ thân ông Petrus Key.

          2. Lại có một ông "Trương Minh Lượng" (cùng họ Trương). Ông này làm quyền tri huyện Trà Vinh, tỉnh Vĩnh Long. Tháng Năm năm Đinh Dậu [3/6-2/7/1837] Tri huyện Lượng tra tấn người đến chết, phải trốn chạy về Gia Định. (ĐNTL,CB, 19:136-7) Không ai nói thân phụ ông Petrus Key là sát nhân. Hơn nữa, chữ "Minh" và "Chánh", cũng như "Thi" và "Lượng" khác nhau quá xa, không sử quan nào lẫn lộn được. (Ngoại trừ trường hợp sau này ông Trương Chánh Thi đổi tên)

          3. Lại có Lãnh binh Trương Cầm, phụ thân lãnh tụ nghĩa quân Trương [Công] Định. Chắc không có liên hệ gì đến Petrus Key, người thích gọi những lãnh tụ kháng Pháp như Trương Định, Thiên hộ Dương, Thủ khoa Huân, Tán Thuật, Phan Đình Phùng, v.. v... là rebelles (phiến loạn).

          4. Tri phủ An Biên là Trương Công Bình tử trận vào tháng 9 àt T1845]. Tên ông này cũng nên gạch bỏ vì Tri phủ là một chức quan văn trung cấp.

          5. Có một Lãnh binh họ Trương từng lập công lớn ở Trấn Tây trong cuộc hành quân tái chiếm đất Chân Lạp năm 1845 (tháng 9 Ất Tnhưng tên ông ta là Trương Tiến. Lãnh binh Trương Tiến an toàn về nước, và tháng 8/1947, vua Thiệu Trị cho khắc tên Lãnh binh Tiến lên một trong 12 khẩu thần công mới đúc xong để tuyên dương công trạng.( ĐNTL,CB, 25:347, 26:341) Chẳng hiểu ông Trương Tiến này liên hệ gì đến Trương Chánh Thi hay chăng? Tôi nghĩ là không. ìng Thi đã chết năm 1840, 1845 hoặc 1846!

          6. Trong số những người chết trận năm 1845 trên đất Chân Lạp người ta thấy có Phó vệ úy Trương Lý.(ĐNTL,CB, 25:293) Ông Trương Lý này liên hệ gì đến Trương Chánh Thi chăng? Có lẽ cũng không. Hai chữ “Lý” và “Thi” khác nhau xa, khó thể lẫn lộn. Hơn nữa, con ông Trương Lý được tập ấm làm Cẩm y vệ, trong khi con ông Trương Chánh Thi, nếu quả có nhân vật này, làm con nuôi các giáo mục.

          7. Lại có tên Trương Trịnh bị giết ở Vĩnh Long vào tháng 10 năm Bính Ngọ [19/11-17/12/1846].(ĐNTL,CB, 26:165-6) Tôi nghĩ Trương Trịnh không phải là thân phụ ông Petrus Key, vì y là một tướng cướp.

          F. Người bạn già nói ông Trương Chánh Thi làm quan dưới hai triều Minh Mạng (1820-1841) và Thiệu Trị (1841-1847), nhưng lại bảo ông Thi chết “năm 1840” [khác với đa số tài liệu khác, ghi ông Thi chết năm 1845 hoặc 1846]. (Chi tiết này giống trong sách của Nguyễn Văn Trấn, 1993, tr. 9). Nếu thế ông Trương Chánh Thi chắc chắn không thể phục vụ triều Thiệu Trị: Vua Thiệu Trị lên ngôi ngày 20 tháng Giêng Tân Sửu, tương đương với ngày 12/2/1841. Vua Minh Mạng chết trước đó gần một tháng vào buổi chiều ngày 19 tháng Chạp Canh Tý (21/1/1841) (nghĩa là không thể chết vì té ngựa trong dịp lễ diễn binh thọ ngũ tuần như Linh mục Pagès và các nhà truyền giáo Ki-tô Vatican truyền tụng, vì đại lễ ngũ tuần đã chấm dứt hơn nửa năm trước).

Cách nào đi nữa, không có tên Trương Chánh Thi dưới hai triều Minh Mạng và Thiệu Trị.

          G. Ông bạn già còn nói ông Trương Chánh Thi làm quan đến chức Lãnh binh ở Nam Vang, đại diện triều Nguyễn bên cạnh vua Chân Lạp.

          1. Lãnh binh là chức võ quan khá to. Thông thường Lãnh binh cầm đầu binh đội (biền binh) của một tỉnh, quan tước có thể lên tới Chánh hoặc Tòng Tam, Tứ phẩm. Dưới triều Minh Mạng, các Lãnh binh đều được ghi chép trong sử, vì sử ghi chép rõ sự thuyên chuyển, thăng cấp, giáng cấp của họ. Dưới thời Thiệu Trị, lãnh binh và phó lãnh binh còn được ban phát bài ngà có khắc tên. Không được sử quan ghi tên, ông Trương Chánh Thi khó thể mang quân chức Lãnh binh.

          2. Phần ba cơ "An Man" tại Nam Vang (Trấn Tây Thành) thì đều là người Chàm, mỗi cơ chỉ có 6, 7 cán bộ người Việt, kể cả một thông ngôn. (Theo ĐNTL,CB, vào tháng Một Mậu Tuất [17/12/1838-14/1/1839], ba cơ An Man ở Trấn Tây phần đông là người Chàm Đồࠢà ở nhờ đất Chân Lạp. Hết lòng trung thành với nhà Nguyễn, nên bị thổ dân ghét. Vua mật dụ cho Trương Minh Giảng cân nhắc họ; 20:262-5)

          3. Hơn nữa, nói đến chức vụ "đại diện triều Nguyễn bên vua Chân Lạp," thì phải xác định vua nào? Quốc vương Ang Chan [Nặc ông Chăn] (1805-1834) hay Nữ chúa Ang May [Ngọc Vân quận chúa] (1834-1837), con gái và người kế vị Ang Chan năm 1834? Tôi đọc khá kỹ Đại Nam Thực Lục, Chính Biên hai triều Nặc Chăn và Ngọc Vân, không thấy có ông Lãnh binh người Việt nào họ Trương ở Nam Vang hay Trấn Tây Thành trước năm 1842. Ngay cả đến giai đoạn ngắn ngủi của Ang Duong [Nặc Ong Giun] hay Ang Em [Nặc Yểm] trong hai năm 1845-1846 cũng vậy.

Như thế, ít nữa theo sử quan nhà Nguyễn, không hề có Lãnh binh Trương Chánh Thi, mà cũng chẳng có "thừa biện" Trương Chánh Thi bên cạnh vua Chân Lạp. (Ông Nguyễn Văn Trấn cũng nhắc đến chi tiết “sứ thần” này) [Xem Phụ Bản ở cuối bài].

          4. Người Chân Lạp thì không biết dùng giấy mực như người Việt nên dĩ nhiên không thể ghi tên "Lãnh binh, đại diện triều Nguyễn" Trương Chánh Thi. Sau này, các học giả Pháp giúp triều đình Cambodge viết lại lịch sử Chân Lạp, nhưng cũng không thấy nhắc đến “thừa biện, lãnh binh” Trương Chánh Thi. Còn “sứ thần” bên cạnh vua Miên có lẽ chỉ nằm trong trí tưởng tượng của những người kể chuyện cổ tích.

Lướt qua sử liệu triều Nguyễn (xem thêm Phụ Bản ở cuối bài), ta thấy ngay đến các Cai đội, quản cơ, đội trưởng hay Phó Lãnh binh còn được nêu tên. Nếu quả thực có "Lãnh binh" Trương Chánh Thi, lại là thứ lãnh binh vì nước bỏ mình trên đất Chân Lạp, hẳn không thể lọt sổ.

          Như thế, ông "Lãnh binh" Trương Chánh Thi không hiện hữu. Phụ thân Petrus Key, nếu quả thực mang tên Trương Chánh Thi, có thể là võ quan cấp nhỏ (cử nhân võ vào thời Thiệu Trị chỉ được hàm Chánh hoặc Tùng lục phẩm), và nếu quả từng phục vụ ở Trấn Tây, trong đạo binh An Man, thì có lẽ là người gốc Chàm, gốc Hoa, hay giữ chức thư lại, thông ngôn (giống như đoạn đầu hoạn lộ của Petrus Key với đạo quân viễn chinh Pháp sau này). (Một Giáo sư miền Nam, ông Trần Thượng Thủ, nghĩ rằng Petrus Key có thể là người gốc Hoa, vì họ Trương rất phổ thông trong giới người Hoa tại miền Nam)

Đáng lưu ý thêm rằng trong thư ra mắt Trung tá Hải quân Jauréguiberry vào tháng 3/1859, Petrus Key chỉ ký tên Petrus Key mà không có tên Việt “Trương Vĩnh Ký” đi kèm như ông thường dùng sau này. Trong thư ra mắt một cấp chỉ huy Pháp (Grand Chef et vous tous)— để xin việc làm, kiểu “cover letter” ở Mỹ,  như ai đó lý luận—mà không ghi thêm tên thực Trương Vĩnh Ký là việc hơi khác thường. Có thể vì một lý do nào chưa biết, như muốn dấu bí mật đề phòng trường hợp thư bị lọt vào tay quan quân nhà Nguyễn? Nhưng cũng có thể vì ngày ấy Petrus Key chỉ biết mình có cái tên độc nhất và vỏn vẹn hai chữ Petrus Key. Cách nào đi nữa, bốn năm sau mới thấy chính thức xuất hiện thêm tên Trương Vĩnh Ký. Và, từ đó, cái tên Trương Chánh Thi, Nguyễn Thị Châu, v.. v.... Nói cách khác, không thể không tự hỏi và cần tìm hiểu những cái tên “Trương Vĩnh Ký” và “Trương Chánh Thi” xuất hiện từ thời điểm nào? Một trong những cách kiểm chứng khả tín nhất là viết thư cho Collège général de Pinang, xin một bản sao thông tín bạ (học bạ) của Petrus Key tại đây. Việc này xin dành cho các nhà “Petrus Key học.”

Nói cách khác, nhân vật "Trương Chánh Thi," "lãnh binh, thừa biện bên cạnh quốc vương Chân Lạp" hay “sứ thần” ở gần Nam Vang có lẽ chỉ hiện hữu trong trí tưởng của người đã công bố. Cũng tương tự như huyền thoại ông Bùi Viện "từng qua Mỹ, được Tổng thống Ulysse Grant tiếp kiến" huyễn truyền ở Việt Nam bấy lâu và được lập lại trong hồi ký của ông Bùi Diễm. (Theo Robert H. Miller, trong cuốn The United States and Vietnam, 1787-1941 [Washington, DC: NDU, 1990], không có một tư liệu nào trong văn khố Bộ Ngoại Giao Mỹ đề cập đến nhân vật Bùi Viện như một tác giả Việt đã viết; tr. 274-5n1). Hay, việc cụ Phan Châu Trinh bị "nhốt chung" với Nguyễn “Ô Pháp” tức Ái Quốc "ở ngục Santé," cùng những lời tuyên bố chẳng chút nào hợp với khẩu khí của nhà chính trị cải lương họ Phan. Đóà chưa kể những “bí ẩn lịch sử” như phụ thân cụ Phan Bội Châu đã phải đổi tên “Sang” của cụ thành “Châu” vì “sợ phạm húy vua Duy Tân [Vĩnh San]” trước ngày ông vua này ra đời cả chục năm!(Xem Nguyễn Mạnh Quang, Thực chất Giáo hội La Mã, II:695-700; Chính Đạo, Hồ Chí Minh: Con người & Huyền thoại, tập I (ấn bản 1997); hoặc Vũ Ngự Chiêu, Các Vua Cuối Nhà Nguyễn, 1883-1945, tập II & III (ấn bản 2000))

Đáng buồn là những công trình "ziết sử" hay "bí ẩn" lịch sử loại này không thiếu trong khối "nghiên cứu văn" Việt Nam.

Tại sao Petrus Key
làm con nuôi các cố đạo?

          Duyệt xét các cung văn về Petrus Key, một vấn đề khiến người học sử không thể không thắc mắc: Đó là, tại sao bà Nguyễn Thị Châu trao Petrus Key cho các cố đạo nuôi?

Trước khi đi sâu vào vấn đề này, cần xác định vài thời điểm. Trước hết, ông Petrus Key bắt đầu đi “trọ học” hay vào nhà chúa Bl’7901;i hoặc tiểu chủng viện từ bao giờ? Thứ hai, phụ thân Petrus Key thực sự chết ngày nào? Cả hai câu hỏi trên đều chưa có đáp án rõ ràng. Người nói bà Nguyễn Thị Châu trao Petrus Key, lúc mới 5 tuổi, cho giáo mục Tám, và rồi sau khi ông này chết, giáo sĩ Pháp có tên Việt là cố Long nuôi. Như thế, từ năm 1842 Petrus Key đã xa mẹ. Nhưng cũng có tác giả ghi Petrus Key chỉ được các cố đạo nuôi từ năm 1846, khi đã 9 tuổi. Về ngày phụ thân Petrus Key từ trần cũng vậy. Người ghi năm 1845, người ghi năm 1846, lại cũng có người ghi năm 1840. Các nhà Petrus Key học tương lai cần giải quyết hai vấn đề tiên thiên trên trước khi bàn về những chi tiết khác.

Hai vấn đề thời điểm Petrus Key được giao cho các cố đạo nuôi, và ngày phụ thân ông từ trần rất quan trọng trong việc tìm hiểu tại sao bà Nguyễn Thị Châu, thân mẫu ông Petrus Key, gửi hay giao bán con cho các nhà truyền giáo. Nếu việc gửi gấm hay giao bán này xảy ra trước ngày ông Thi chết, sẽ nẩy sinh câu hỏi khác: Phụ thân ông Petrus Key có được thông báo, và đồng ý chăng, hay bà Châu đã tự ý quyết định? Nếu phụ thân Petrus Key chết trước ngày cậu được gủi cho các giáo sĩ nuôi, vấn đề trở thành đơn giản hơn; vì mọi quyết định đều do bà Nguyễn Thị Châu.

Câu hỏi thứ nhất khá phức tạp, đòi hỏi việc tìm tòi vết tích ông Trương Chánh Thi. Câu hỏi thứ hai hạn chế trong ba giả thiết cơ bản: (1) bà Châu là người đạo gốc muốn gửi con cho các giáo sĩ dạy bảo để sau này có chức, có phận (như thày kẻ giảng, giáo mục); (2) bà Châu vì hoàn cảnh kinh tế khó khăn, phải giao Petrus Key cho các giáo sĩ nuôi; và, (3) vì hoàn cảnh khó khăn, bà Châu đã cải đạo, đồng thời giao con cho nhà chúa Blời.

          Trước hết, chưa tài liệu nào cho phép khẳng định ông bà Trương Chánh Thi-Nguyễn Thị Châu là tín đồ Ki-tô giáo (khai sinh, giấy chứng nhận rửa tội, gia phả, người thân, v.. v...). Hy vọng những chuyên viên gia phả học, như quí ông Vũ Hiệp, v.. v... sẽ giúp khẳng định có hay không tư liệu hộ tịch của gia đình ông Trương Chánh Thi.

Nếu bà Nguyễn Thị Châu không là tín đồ Ki-tô, việc giao con cho các cố đạo nuôi thường xảy ra trong trường hợp bất khả kháng nào đó. Nên nhớ thời gian này, vua Thiệu Trị và Tự Đức đang thi hành chính sách cấm đạo. Gửi con cho các nhà truyền giáo nuôi là một việc làm nguy hiểm đến tính mạng như không. Cũng không một bà mẹ thương con nào nghĩ rằng thày kẻ giảng, hay giáo mục là người có chức, có phận trong một chế độ áp dụng chính sách bài Ki-tô. Vì càng có chức phận trong đạo, càng bị hình phạt nặng nề; nhẹ thì khắc chữ lên mặt, lên trán, tập trung để giáo hóa; nặng thì có thể lên tới án lưu đầy, tử hình. Trong số những hoàn cảnh bất khả kháng, có hai trường hợp đáng suy nghĩ: Thứ nhất, bà Châu quá nghèo khổ, đành giao cho con cho các giáo mục nuôi cho bớt gánh nặng. Hoặc, thứ hai, bà Châu đã “bán” con cho các giáo sĩ, và bản thân có thể cũng theo đạo, để được giúp đỡ về phương diện kinh tế.

Vào giữa thế kỷ XIX, “bán con” là một hủ tục quen thuộc tại Đại Nam (cũng như Trung Hoa). Cho đến thập niên 1940, tức khoảng 100 năm sau ngày Petrus Key làm con nuôi các cố đạo, vẫn còn tục lệ bán con nói trên.

Trong khi đó, vì chính sách bài đạo của nhà Nguyễn, các giáo sĩ Ki-tô tìm đủ cách để gia tăng số tín đồ. Trong kế hoạch gia tăng giáo dân trên  có việc dùng tài lợi mua chuộc, nuôi dưỡng trẻ mồ côi, và mua con nít của những gia đình Lương nghèo khổ (như ăn mày) để huấn luyện làm thày kẻ giảng, và nếu đứa trẻ thông minh, có thể huấn luyện làm giáo mục bản xứ. Tại Cao Miên, số tiền các giáo sĩ bỏ ra để “rửa tội” cho mỗi người ngoại đạo lên tới hơn 100 quan vào năm 1858. Cũng năm này, tại các giáo phận, đại đa số những trẻ em được rửa tội đều đã sắp chết. Số trẻ em mồ côi hơặc con nhà nghèo bán cho các nhà tu hàng năm cũng khá quan trọng.(Xem Phụ Bản 2) Đa số “các chú” trong các “nhà Chúa Bl’7901;i” đều là cô nhi hay con nhà nghèo được giáo sĩ bỏ tiền ra mua về.

Thêm vào đó, từ năm 1840 tới 1845, tình hình Gia Định thành cực kỳ bất an. Loạn “Thổ dạy” lan tràn khắp nơi. Vùng Cái Mơn của gia đình Petrus Key là một trong những địa phương bị thiệt hại nặng nhất. Phụ thân Petrus Key, nếu quả thực là một võ quan nhỏ, lương bổng chẳng bao lăm. Một khi từ trần, thân mẫu ông có thể gặp nhiều khó khăn về sinh kế.

Cả hai điều kiện khách quan và chủ quan, cung cũng như cầu, đều mở cửa cho những người cha mẹ nghèo giao bán con cho các cố đạo nuôi. Cho tới khi có tài liệu chứng minh ngược lại, chú bé Petrus Key có nhiều phần trăm thuộc vào đa số “các chú” nói trên. (Hy vọng trong một tương lai gần, sẽ có được đầy đủ lý lịch và thông tín bạ của Petrus Key tại trường Collège général de Pinang).

Mark_03.gif (833 bytes) Petrus Key và vấn đề ngoại ngữ

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao ĐiểmThư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........