curley_sw.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw.gif (1967 bytes)

.......... .
 

Petrus Key và Sứ Đoàn Phan Thanh Giản (1863-1864)

          Trong tâm bút Paris: Xuân 1996, tôi còn công bố tài liệu về việc năm 1863, khi phái đoàn Phan Thanh Giản qua Pháp xin điều đình việc chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, ông Petrus Key là thành viên của phái bộ hướng dẫn Pháp, do Trung tá Henri Rieunier cầm đầu, mà không phải là thông ngôn của sứ đoàn nhà Nguyễn. Một phóng ảnh đã được in lại trong cuốn Hồ Chí Minh, 1892-1969, tập I (1997, tr. 68), và Các vua cuối nhà Nguyễn, tập I (1999, tr. 297).

Cho tới năm 1996, nhiều người vẫn tin rằng năm 1863 “Phan Thanh Giản yêu cầu Trương Vĩnh Ký làm thông ngôn cho phái đoàn đi Paris và Madrid.”(Nguyễn Văn Trấn, 1993, tr. 24) Thực ra, chi tiết ông Petrus Key thuộc phái bộ Pháp tháp tùng sứ đoàn Phan Thanh Giản đã được công bố ở Sài Gòn từ năm 1960. Báo Văn Đàn [của nhóm Tinh Việt Văn Đoàn?] từng đăng bản dịch “Tây Hành Nhật Ký” [Nhật ký đi Tây] của cụ Phạm Phú Thứ, một phó sứ của Phan Thanh Giản, đã trình lên vua Tự  Đức ngày 31/3/1864. Theo tài liệu này:

Ngày 1-2/7/1863, triều đình bổ sung danh sách phái bộ, thêm hai người thông ngôn [một người tên Nguyễn Văn Trường bị chết dọc đường]. Về phía Pháp, bổ sung thêm 4 người, trong đó có Trương Vĩnh Ký làm thông ngôn, Tôn Thọ Tường làm ký lục. (Hải Ngọc sao lục, in lại trong Phạm Phú Thú với tư tưởng canh tân [Đà Nẵng: 1995], tr. 166-7).

[Thực ra, từ năm 1919 và 1921, tờ Bulletin de Amis du Vieux Hue (BAVH, Thành tích biểu của Hội Những nguòi bạn của cố đô Huế) đã có những loạt bài dịch tập Nhu Tây sứ trình nhật ký của Phan Thanh Giản và Phạm Phú Thứ. Các tài liệu này đều xác nhận thông ngôn chính của sứ đoàn Nguyễn là Linh mục Nguyễn Hoằng. Petrus Key và Tôn Thọ Tường là phụ tá của Trung tá Aubaret, thông dịch viên chính thức cho sứ đoàn Phan Thanh Giản trong thời gian tại Paris và Madrid. Xem, chẳng hạn, “L’Ambassade de Phan Thanh Gian,” traduit par Trần Xuân Toạn et Nguyễn Đình Hòe; BAVH (1921), pp. 147-187, 243-281; hay A. Delveaux, BAVH (1926), pp. 69-80. Năm 1919, Cửu phẩm Ngô Đình Diệm tại Tân Thơ Viện Huế cũng dịch và giới thiệu tập nhật ký của Phan Thanh Giản-Phạm Phú Thứ, nhưng tôi chưa đuọc tham khảo]

Không được đọc các tài liệu trên, hoặc đọc mà không hiểu, cho tới năm 2001, tại hải ngoại vẫn có người cả đoan rằng chính sứ thần Phan Thanh Giản đích thân xin ông Petrus Key tham gia sứ đoàn Nguyễn, và nhắm mắt lại “phán” rằng tài liệu văn khố tôi công bố là “sai lầm.” Tôi không nêu tên những người này, vì không cần thiết. Điều đáng nói ở đây là sự phản ứng do tư tâm và cảm tính trên, dù dễ hiểu, nhưng không thể chấp nhận được ở những người từng tốt nghiệp Đại học. Trước hết, những người này chưa từng nghiên cứu về sử, và kiến thức sử chỉ là tổng hợp những tư liệu đầy rẫy sai lầm của các tác giả và nhà truyền giáo trước đây (như không một giáo dân nào tiếp tay Francis Garnier trong cuộc đánh chiếm Hà Nội và Bắc Kỳ năm 1873 [sic]). Thứ hai, do một nguyên nhân thầm kín nào đó, họ mất đi sự lương thiện tối thiểu cần thiết của người trí thức và người cầm bút trong một cuộc tranh luận: Muốn chỉ trích hay đả phá một phát hiện lịch sử nào, cần trưng dẫn những tài liệu rõ ràng, hiển nhiên (thí dụ như trong trường hợp này, văn thư của cụ Phan Thanh Giản gửi các quan tướng Pháp, hoặc trình báo lên vua Tự Đức về việc xin đích danh Petrus Key, hay ban khen của Tự Đức sau khi hoàn tất sứ mệnh). Ví thử kiến thức có bị ô nhiễm vì những sách báo cũ từ trước đến nay  kiểu Petrus Key làm thông ngôn trong phái đoàn Phan Thanh Giản, hay “đích thân Phan Thanh Giản xin Petrus Key đi làm thông ngôn,” thì cũng cần vận dụng khả năng suy luận để tự hỏi tại sao trong số những người qua Pháp làm thông ngôn lại có thêm những Petrus Sang, Ba Tường, Hiếu, Trần Văn Luông, Simon Của, v..v... mà sử sách cũ, ngoại trừ tư liệu của cụ Phạm Phú Thứ, không hề chép đến? Và, cũng nên tự hỏi, chẳng lẽ Rieunier hay Aubaret “sai lầm” khi làm báo cáo xin thành lập phái đoàn thông ngôn qua Pháp năm 1863? Hoặc, nếu có cơ hội, nên dò hỏi xem quốc sử nhà Nguyễn có ghi chép gì về việc này hay chăng. Đó là sự thận trọng tối thiểu cần thiết của người trí thức để tránh mắc phải lỗi lầm hồ đồ.

         Vì tập đi sứ của Phạm Phú Thứ chưa được phiên dịch toàn bộ, chỉ thấy có tên Aubaret là người thường xuyên liên lạc với phái bộ Việt. Điều này có nghĩa, khi về tới Pháp, Rieunier được chính thức nghỉ phép, và phái đoàn thông dịch do Aubaret cầm đầu, với các phụ tá người Việt như Petrus Key, “Ba” Tường, v.. v..., giữ việc liên lạc giữa Bộ Ngoại Giao Pháp và sứ đoàn.

Tên Trương Vĩnh Ký còn xuất hiện trong nhật ký của cụ Phan Phú Thứ khi sứ đoàn được chính phủ Espania mời đến thăm Roma một tuần, từ ngày 1 tới ngày 7/12/1863: Ngày 2/12/1863, theo cụ Phan Phú Thứ, “Phái bộ đưa Trương Vĩnh Ký vào thăm thành Roma và gặp Giáo hoàng.” (Ibid., tr. 175) Đoạn văn trên của Phó sứ Thứ cũng cho thấy Petrus Key không thuộc phái bộ sứ đoàn Nguyễn. (Thực ra, khi từ Marseille qua Madrid, Aubaret chỉ mang theo Petrus Key và Ba Tuòng cùng hai thuộc hạ khác. Sứ đoàn Nguyễn phải rút lại còn 20 người để khỏi chật chội; Trần Xuân Toạn, 1921:279).

Cách nào đi nữa, cần khẳng định rằng “Những người An-nam-mít ở Nam Kỳ thuộc Pháp đi qua Pháp cùng với sứ đoàn của vua Tự Đức [Annamites de la Cochinchine francáise allant en France avec l’bassade du Roi Tu Duc],” trong phái đoàn Rieunier, gồm có nhất đẳng thông ngôn Petrus Key Trương Vĩnh Ký, Giáo sư trường thông ngôn Pháp; đệ nhị đẳng thông ngôn Petrus Sang; hai nho (lettré) Tôn Thọ “Ba” Tường (Phủ Tân Bình), và Hiếu (nho thuộc Bộ Tổng Tham mưu); hai học sinh trường Giám mục d’ran, Trần Văn Luông [Long], con Trần Tử Ca, và Simon Của. Ngoài ra, còn 3 người hầu, kể cả Pedro Trần Quang Diệu. Họ không thuộc sứ đoàn Phan Thanh Giản (Xem Vũ Ngự Chiêu, Các vua, tập I, tr. 161, 163-4, 186chú49; Chính Đạo, Hồ Chí Minh, tập I, tr. 68)

[Tiện đây, cũng cần đặt lại vấn đề thực chăng ông Phan Thanh Giản cầm đầu sứ đoàn của vua Minh Mạng qua Pháp năm 1839-1840? Theo Đại Nam Liệt Truyện, Chính Biên (truyện Phan Thanh Giản) cũng như Đại Nam Thực Lục, Chính Biên, phái đoàn này chỉ có hai quan Nguyễn là Tư vụ Trần Viết Xương và thư lại Tôn Thất Thường, cùng hai thông ngôn. Họ dùng tàu của triều đình qua Giang-lưu-ba [Djakarta] vào tháng 10 Kỷ Hợi, tức trong khoảng 6/11-5/12/1839, trên tàu Thụy Long của Tham tri Đào Trí Phú. Từ Djakarta, sứ đoàn dùng tàu Tây phương để qua Âu châu quan sát, ghi chép cẩn thận mọi sự mọi việc để về báo cáo, và mua hàng hóa.(ĐNTL,CB, II, 21:230-1) Thời gian này, Phan Thanh Giản ở trong nội địa Đại Nam, và không thể theo phái đoàn trên. Tài liệu các nhà truyền giáo mà tôi có cơ hội tham khảo thì chỉ ghi nhận là khi tới Paris vào cuối năm 1840, sứ đoàn Nguyễn còn 3 người.(Lettre Commune (Paris), 16/4/1841). Không thấy nêu tên thành viên sứ đoàn. [Xem thêm A. Delveaux, “L’Ambassade de Minh Mang a Louis Philippe, 1839 a 1841;” BAVH (10-12/1928), pp. 257-264]

Đào Tạo Thông Ngôn

          Từ Pháp trở về, Petrus Key vẫn tiếp tục nghề thông ngôn cho Soái phủ Pháp (vì tiền bạc, dĩ nhiên, nhưng cũng vì lập trường đồng hóa quyền lợi cá nhân với quyền lợi nước Pháp ở Đại Nam). Nhưng vai trò Petrus Key ngày một thăng tiến. Năm 1866, theo một tác giả, Petrus Key được cử làm Giám đốc trường thông ngôn (Collège des Interprètes). (Phạm Long Điền, “Những khám phá mới về Gia Định Báo;” Bách Khoa M [số 403] (1974), tr. 33-37; N [số. 404] (1974), tr. 23-30). Làm việc tại đây khoảng 2 năm, ngày 2/11/1868, Petrus Key xin từ chức vì đụng chạm với Giám đốc Sở Nội chính là Paulin Vial. (Ibid., tr. 34)

Trường Thông Ngôn này, tưởng nên thêm, nhằm đào tạo thông ngôn cho các địa phương. Ngoài việc giúp các đạo quân viễn chinh Pháp (như thông dịch, thu lượm tin tức tình báo, v.. v... ) họ còn có nhiệm vụ truyền bá chữ “quốc ngữ mới.” [Xem Phụ Bản 3]

Triều đình Huế cũng lựa chọn một số thiếu niên thông minh gửi vào Sài Gòn cho Petrus Key huấn luyện. Và đây là lần đầu tiên tên Petrus Key, đúng hơn, Trương Vĩnh Ký, được ghi chép trong Đại Nam Thực Lục, Chính Biên.

Nhà Báo

          Ngày 16/9/1869, XLTV Thống đốc Sài Gòn là Đề đốc Maurice G. H. Ohier (4/1868-12/1869) ký Nghị định số 298 bổ nhiệm Petrus Key  làm “Chánh tổng tài” [Chủ biên] Gia Định Báo.(Phạm Long Điền, “Gia Định Báo;” Bách Khoa M [số 403], 1974, tr. 34-5) Tuần báo này xuất bản năm 1865, phát không trong các làng mạc để phổ biến chính sách của Pháp.(Ibid., tr. 36; Courrier de Saigon, số 7, 5/4/1865) Báo xuất bản tới cuối năm 1909, và đình bản từ ngày 1/1/1910. Trong số những Chủ biên cuối cùng có Diệp Văn Cương (21/5/1908-18/9/1908).(Lê Văn Cẩn, “Góp ý với ông Phạm Long Điền về Gia định báo;” BK, số P, 1974, tr. 73-4) Thư viện Quốc Gia Pháp có một sưu tập khá đầy đủ tựa báo này, từ năm 1866. (Năm 2000, chỉ còn từ năm 1867)

Trong khi trông coi tờ Gia Định Báo, năm 1872, Petrus Key được Thống đốc Jules Dupré (4/1871-3/1874) thăng lên hàm tri huyện hạng nhất.(BK, N, tr. 20) ít lâu sau, khi Elucian Luro thành lập trường Tập sự Hành chánh thuộc địa [Collège des Stagiaires], Petrus Key được điều về đây dạy tiếng Việt và những môn liên hệ đến lịch sử, phong tục, địa lý cho các viên chức Pháp-Việt.

Năm 1888, Petrus Key (lúc này đổi tên thành Petrus J.B. Trương Vĩnh Ký) xuất bản một tờ học báo lấy tên Thông Loại Khóa Trình (Miscellanées ou Lectures instructives pour les élèves des écoles primaires, communales, cantonales et les familles).  Báo ra hàng tháng, từ tháng 1/1888 tới tháng 10/1889, được 18 số. (Nguyễn Văn Trung, 1993:169-205)

Chuyến Đi Bắc Kỳ Năm 1876 [Ất Hợi]

          Năm 1876, Petrus Key được soái phủ Sài Gòn cử ra Bắc thi hành một nhiệm vụ bí mật. Ngày 28/4/1876, Petrus Key viết một báo cáo khá dài cho Đô đốc [Charles Duperré, 12/1874-10/1877] qua trung gian Regnault de Premesnil [Chánh văn phòng của Duperré].” (Bouchot, pp. 34-41). Theo học giả Osborne, báo cáo này có thể tìm thấy trong Bảo tàng viện Petrus Key ở Sài Gòn. Năm 1881, Petrus Key cũng viết lại bằng tiếng Việt, cho in dưới tựa Voyage au Tonking en 1876 - Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi. Tuy nhiên, phần báo cáo chính trị bị cắt bỏ, mãi sau ngày Petrus Key chết mới được công bố. (Tựa sách này lưu trữ trong thư viện Mitterand, Paris).

Chuyến đi bí mật của Petrus Key này khiến có người kết án Petrus Key “làm gián điệp” cho Pháp. Nhưng có thể đây chỉ là một chuyến du khảo miền Bắc, sau khi triều Huế đã ký Hiệp ước Giáp Tuất (15/3/1874) nhượng đứt sáu tỉnh miền Nam cho Pháp. Không hiểu chuyến đi này liên hệ gì đến lời phản kháng mạnh mẽ của Giám mục Paul Puginier và giới giáo sĩ về việc mà họ gọi là sự phản bội của ông Paul Philastre hay dự án ép triều Nguyễn tu chính Hòa ước 1874 của Duperré hay chăng? (Xem Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối, I:244-8) Trong chuyến đi năm 1876, Petrus Key được tiếp xúc rất nhiều người. Thoạt tiên là Lãnh sự Hải Phòng, tức Y sĩ Hải quân Louis Turc, một cựu Đốc lý Sài Gòn. Rồi đến Tổng đốc Hải Yên Phạm Phú Thứ, người từng biết Petrus Key khi qua Pháp năm 1863-1864. Linh mục Trần Lục—Chánh xứ Phát Diệm, cánh tay bản xứ của Giám mục Puginier, người tuyển mộ cho Francis Garnier từ 12,000 tới 14,000 lính đánh thuê trong cuộc xâm chiếm Bắc Kỳ năm 1873, mà đa số là giáo dân Ki-tô (Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối, I:225-6)—cũng dẫn Petrus Key tới tận Thanh Hóa, Ninh Bình, Kẻ Sở. Thông điệp, hay lời khuyên của Petrus Key với các giới chức Việt là hãy hợp tác chân thành với người Pháp, đưa cả hai tay mà nắm lấy họ. Nguyên văn như sau:

Thưa quí ngài, tôi trả lời . . . . quí Ngài chỉ cần có lòng tin tưởng ở các đồng minh đáng kính của chúng ta [tức người Pháp] và nương tựa hết sức vào họ để mà tự đứng dậy, nhưng cần thẳng thắn, không một hậu ý, không có những mưu mẹo bí mật, đưa cả hai tay cho họ mà không chỉ đưa ra một tay, tay kia dấu lại.

 (Nguyên văn: “Messieurs, ai-je repliqué, . . . . vous nõavez quõà avoir confiance en vos illustres alliés [les Francáis] et à vous appuyer sincèrement sur eux pour vous relever, mais franchement, sans arrière-pensée, sans secret combinaison, leur donner les deux mains et non pas en livrer une et réserver lõautre;” Báo cáo ngày 28/4/1876, P. Truong Vinh Ky gửi Duperré. Giáo sư Phạm Thế Ngũ chỉ dịch lại một phần báo cáo trên,[Phạm Thế Ngữ, tr. 72] nên chỉ hiểu được “một nửa” quan điểm chính trị của Petrus Key. Nguyễn Văn Trấn cũng lược dịch phần nào; Trấn 1993, tr. 40-41).

          Petrus Key cũng nêu lên tình trạng Lương-Giáo nghi ngờ, thù hận lẫn nhau, và tiết lộ nhiều giáo mục bản xứ đã hành động quá đáng trong lúc trả thù, báo oán (tức vụ Văn thân nổi dạy và vụ nổi loạn của Hồ Văn Vạn cùng nhóm lính đánh thuê cũ của Garnier. Điều này chứng tỏ quan điểm tôn giáo của Petrus Key đã rộng rãi hơn 18 năm trước, hoặc các giáo mục giáo dân miền Bắc dưới trướng Puginier còn bảo thủ và quá khích hơn cả Petrus Key.

Đáng lưu ý và cần nhấn mạnh rằng Petrus Key, với phương vị một đặc sứ của Pháp, gốc nước Nam Kỳ thuộc Pháp, dùng những tiếng như “rebelles” [ngụy, tức giặc hay làm loạn] để diễn tả các tổ chức và cá nhân kháng Pháp ở miền Bắc. Và đây không phải là lần đầu hay cuối cùng. [Người học sử Việt không thể không nghĩ đến Lê Tắc với những tiếng như “bạn nghịch,” “phản,” hay “yêu đảng” trơng An Nam Chí Lược hơn 500 năm trước khi nói về Hai Bà Trưng, v.. v...]

Chẳng hiểu Duperré, lúc ấy đang nghỉ phép ở Paris, nhận được báo cáo của Petrus Key ngày nào. Chỉ biết ngày 1/6/1876, khi Duperré sắp lên đường trở lại Ầông Dương, Bộ trưởng Hải Quân & Thuộc Ầịa chỉ thị là không được can thiệp vào Bắc Kỳ và phải ngăn cản các giáo sĩ làm loạn hay khôi phục nhà Lê. (MAE (Paris), Documents Diplomatiques,  I, tr. 55-57; Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối, I:248)

Những ai còn hoài nghi về lập trường chính trị của Petrus Key không thể không đọc báo cáo này. Nó bộc lộ rõ ràng quyết tâm của Petrus Key: phục vụ Pháp, không một chút hậu ý. Lập trường này đã nhiều lần được Petrus Key viết thành văn. Thư gửi Paulin Vial ngày 3/10/1868 chỉ là một thí dụ ngoài báo cáo năm 1876 vừa lược dẫn. Cho đến lúc gần cuối đời, Petrus Key vẫn không thay đổi lập trường: ìng muốn dạy dỗ cho các thế hệ thanh thiếu niên Việt “đưa cả hai tay nắm lấy người Pháp mà đứng lên.”

“Ẩn sĩ” ở Huế (1886)

          Thời gian làm việc tại Viện Cơ Mật Huế năm 1886 có lẽ là giai đoạn vàng son nhất của Petrus Key.

Ýđịnh đưa Petrus Key ra Huế để lập một hạt nhân những người đồng hóa quyền lợi bản thân với quyền lợi Ầại Pháp đã được nghiên cứu ở Paris từ năm 1885, sau biến cố đêm mồng 4 rạng ngày 5/7/1885 ở Huế, tức Phụ chính Tôn Thất Thuyết tấn công quân Pháp, đưa ấu vương Hàm Nghi (1885-1888) đi kháng chiến. Ngày 28/10/1885, Bộ trưởng chiến tranh Pháp là Tướng Boulanger  đề cử Petrus Key với Tướng Roussel de Courcy để phụ giúp Ầồng Khánh (1885-1889)—người được Giám mục Caspar và Puginier ủng hộ lên làm vua để “phục hưng dòng chính thống” và biến Hàm Nghi thành một “chú bé chạy trốn lang thang”, hầu lấy đi uy thế của phong trào Cần Vương. Tuy nhiên, de Courcy không muốn sử dụng Petrus Key, người mà theo ông ta từng dính líu vào vụ giặc biển Tạ Văn Phụng ở Bắc Kỳ, và chủ trương Pháp nên rút bỏ Bắc Kỳ gạo, tập trung giữ vùng Bắc Kỳ biển trong hai năm 1879-1880 của Linh mục Peine [Pène?] Siéfert. (SHAT [Vincennes], 10H 21) Nhưng khi de Courcy xin hồi hương, và Paul Bert được cử làm Tổng Trú Sứ Đại Nam, cả Petrus Key lẫn Peine-Siéfert đều được trọng dụng. Ngày 12/4/1886, Bert cử Petrus Key vào làm việc trong Viện Cơ Mật Huế. Trong gần nửa năm tại Huế, “ẩn sĩ” Petrus Key và Linh mục Peine-Seifert là cặp bài trùng gây nên nhiều chống đối trong giới quan lại. Linh mục Nguyễn Hoàng [Hoằng], người lo việc thông ngôn khá lâu ở triều đình, bị đuổi ra Thanh Hóa, rồi chết ở đây.

Theo tài liệu quốc sử Nguyễn, tháng 3 Bính Tuất [4/4-3/5/1886], Đồng Khánh phong “ẩn sĩ” Petrus Key [lúc này đã lấy tên Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký] làm Hàn Lâm Thị giảng học sĩ.(ĐNTL,CB, 37:148) Hai tháng sau, Petrus Key được thêm chức Tham tá Cơ Mật Viện cùng với Thị giảng Nguyễn Trọng Tạo. Tháng 8 Bính Tuất [29/8-27/9/1886], Soái phủ Sài Gòn tăng cường thêm cho nhóm thông ngôn miền Nam Diệp Văn Cương và Trương Vĩnh Thế (có họ với Petrus Key). Đồng Khánh phong cho họ chức Hàn Lâm Viện kiểm thảo.( ĐNTL,CB, 37:196-7)

Nhiệm vụ chính của Petrus Key trong giai đoạn này là nắm gọn vua Đồng Khánh—dạy bảo vua phải biết đưa hai tay ra nắm lấy người Pháp, và lựa chọn vào Viện Cơ Mật những người đồng hóa quyền lợi bản thân với quyền lợi nước Pháp. Ngoài ra, Tổng trú sứ Bert muốn Petrus Key khuyên dụ Đồng Khánh ký một qui ước tách biệt Bắc Kỳ khỏi Huế, thành lập chức Kinh Lược Sứ Bắc Kỳ, có toàn quyền thay mặt triều đình xử lý mọi việc. (Dụ ngày 3/6/1886) Nguyễn Hữu Độ#273;ược cử vào chức vụ này. Đổi lại, Bert chính thức hủy bỏ Qui ước 30/7/1885, tức qui ước đặt phần lãnh thổ còn lại của Đại Nam dưới chế độ quân quản Pháp, và cho phép 12 tỉnh An-Nam được nhiều quyền tự trị hơn. ( ĐNTL,CB, 37:108; Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối, tập II. Xem thêm thư ngày 25/9/1886, Bert gửi Petrus Key; Trấn, 1993, tr. 83-4)). Việc sử dụng Hoàng Kế Viêm, một lão tướng trụ cột của nhà Nguyễn tại Bắc Kỳ trước năm 1883, để “an phủ” [chiêu hồi] các lực lượng Cần Vương là một thành quả khác của Petrus Key. Tuy nhiên, chủ trương đứng ngoài cuộc tranh chấp Giáo-Lương của Bert và Petrus Key không được sự tán thưởng của giới giáo sĩ. Giáo sĩ và giáo dân bất chấp lệnh “an phủ” của Bert, tiếp tục bắt giết các thủ lĩnh Cần Vương về hàng, kể cả thày dạy cũ của Ầồng Khánh là Trần Văn Dữ. Thư ngày 5/10/1886 mà Petrus Key gửi cho Bert phần nào phản ảnh sứ mệnh khó khăn của mình.(Xem thêm thư ngày 19/1/1887, Petrus Key gửi Noel Pardon; Nguyễn Văn Trấn, 1993, tr. 96-8; Osborne 1969:134-5) Dẫu vậy, Bert vẫn đề nghị Paris ban thưởng cho Petrus Key một tấm Đệgũ Đẳng Bắc đẩu Bội tinh, loại huân chương cao quí của nước Pháp mà rất  ít người, kể cả sĩ quan và viên chức Pháp, được phong tặng. (Thư ngày 25/9/1886, Bert gửi Petrus Key; Nguyễn Văn Trấn, 1993, tr. 83-4) Trong số rất hiếm người Việt được ân thưởng Bắc Ầẩu Bội Tinh còn có Huyện Sỹ, Trần Bá Lộc, Nguyễn Thân, Hoàng Cao Khải, Trần Lục, v.. v.... Không hề vào sinh ra tử, chỉ với số vốn liếng chữ Pháp và Latin hấp thụ được từ trường Collège général de Pinang và ngòi bút của mình, Petrus Key đã cấy xuống hạt mầm của kế hoạch tách hẳn Bắc Kỳ khỏi An-Nam mà đến năm 1897 người Pháp mới thực hiện được qua nhóm Nguyễn Thân-Ngô Ầình Khả.(Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối, II:542-3)

Cái chết đột ngột của Bert vào tháng 11/1886 chấm dứt vĩnh viễn vai trò chính trị của Petrus Key tại Huế. Nhưng giai đoạn ngắn ngủi mà Petrus Key làm “ẩn sĩ” ở kinh đô lưu lại những kỷ niệm chẳng mấy tốt đẹp. Sau này, ngày 10/4/1892, Phủ Phụ Chính của Thành Thái (1889-1907) gửi công văn cho Jean de Lanessan yêu cầu Toàn quyền Pháp đừng bao giờ gửi ra Trung Kỳ những nhân vật như Petrus Key, Diệp Văn Cương, thông phán Nguyễn Trọng Tạo hay ký lục Lê Duy Hinh, v.. v... (Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối, II:534, 593chú 43).

Mùa Xuân năm 1888, Petrus Key lại có dịp tiếp tay Pháp mở rộng biên giới Đông Dương. Tháng 4/1888, Petrus Key qua Bangkok để thi hành một sứ mệnh đặc biệt. Trong báo cáo vào tháng 5/1888, Petrus Key yêu cầu người Pháp khuyến khích triều Nguyễn tuyên bố các xứ Nam Chưởng, Vạn Tượng, v.. v... vốn là chư hầu của Đại Nam, ba năm cống hiến một lần, hầu chống lại đòi hỏi lãnh thổ của Xiêm La.(Bouchot, tr. 91-7; bản dịch “Những năm cuối cùng của cuộc đời Pétrus Ký” của Tân Văn Hồng; Nguyễn Thanh Liêm, op. cit., tr. 107-11) Cũng trong thời gian này, Toàn quyền Pháp cho lệnh triều Đồng Khánh lục lọi văn khố, tìm bất cứ tài liệu nào về chủ quyền của Ầại Nam trên đất Lào. Nhờ vậy, Lào được sát nhập vào Động Dương như “xứ” (pays) thứ năm. Tháng 7/1893, Pháp gửi chiến hạm ngược sông Chaophraya lên Bangkok, uy hiếp chính phủ Chulalongkorn (1868-1910). May mắn cho Chulalongkorn, vì cả Bri-tên và Pháp muốn duy trì Xiêm La (Syam) như một trái độn, nên năm 1896, hai bên ký Hiệp ước tôn trọng chủ quyền của Xiêm. Đổi lại, Xiêm La nhìn nhận biên giới hiện nay.

Tóm lại, thời gian ở Huế nói riêng, và suốt gần 40 năm phục vụ chế độ Bảo hộ Pháp, Petrus Key luôn luôn bày tỏ một lòng yêu nước nồng nàn. Nhưng là lòng yêu nước Pháp, tổ quốc mới của ông ta.

Mark_03.gif (833 bytes) Petrus Key và các vụ án lịch sử liên hệ

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........