curley_sw.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw.gif (1967 bytes)

.......... .
 
Petrus Key và Vụ án
Tống Thị Quyên-Hoàng tôn Đán

           Mới đây khi hiệu đính hai cuốn Việt Nam Niên Biểu, Tập II-A: Các tôn giáo và II-B: Các tổ chức chính trị (2002, đang in)  tôi có dịp duyệt xét lại vài chi tiết trong tập Cours d’ histoire annamite à l’ usage des écoles de la Basse Cochin-chine [Bài giảng sử ký An-nam-mít dùng cho các trường ở Nam Kỳ thấp] (2 tập, Sài Gòn: 1875-1877) của Petrus Key.

[Trọn bộ sách này hiện lưu giữ tại Thư viện Quốc Gia Pháp (Mitterand) ở quận XIII, Paris. Hơn 10 năm trước, tôi chỉ ghi chép những nét chính; năm 2001 nhờ Luật sư Trần Thanh Hiệp làm giúp phóng ảnh, nhưng sách đã quá cũ, nên Luật sư Hiệp đã ưu ái chép giúp lại những trang cần thiết, từ trang 257 tới 261, vừa đủ sử dụng cho phần này. Đầu năm 2002, cháu Vũ Thái Dũng tìm được bản sao không toàn vẹn của tập II từ Sài Gòn. Đọc kỹ lại những trang chót, tôi nghĩ tập này phải in năm 1879, không phải 1877 như đã ghi ở đầu sách]

Trong tập Cours d’ histoire annamite nói trên, Petrus Key thuật lại rằng theo lời đồn vua Minh Mạng “đi lại” với chị dâu góa (tức Tống Thị Quyên, vợ Hoàng tử Cảnh), khi chị có thai, bèn kết tội lăng chạ và ghép án tử hình, chết chung với hai đứa con trai [Hoàng tôn Đán tức Mỹ Đuòng, và Mỹ Thùy]. Lại còn phụ chú rằng vua cho chọn “tam ban triều điển”: tự tử bằng thuốc độc, thắt cổ, hoặc dao găm.

[Nguyên văn: Son frère Cảnh était mort, laissant deux fils; leur perte fut résolu. Minh Mang, dit-on, eut des relations avec la veuve de son père et la rendit enceinte. Quand la grossesse fut apparante, il lõa condamné à mort pour inceste, elle et ses deux fils, ses deux propres neveux. Il leur accorda cependant la faveur de choix du genre de mort.(1)

___

1. Cette faveur, appelé tam ban triều điển, consiste à envoyer au condamné priviligé trois engins de destruction: (1) trois mètres de soie rose pour s’ étrangler ou se prendre; (2) un verre de poison pour boire; (3) un sabre pour se couper la gorge. (II:259-60)]

Petrus Key nhận xét rằng đây là một “tội ác” vì Minh Mạng là người có bản chất “ác độc, lạnh lẽo, tối tăm và gian xảo” [nature méchante, froide, sombre et fausse].(II:260)

Mặc dù học giả Trần Trọng Kim đã bài bác tin đồn (dit-on) này (VNSL, II:187),  một số nhà truyền giáo vẫn sao chép lại, và dời ngày Hoàng tôn Đán bị giết từ 1824 tới 1835. (Xem, chẳng hạn, Phan Phát Huồn, Việt Nam Giáo Sử [1965], I:300-1). Năm 1993, ông “Bảy” Trấn cũng lập lại nguyên vẹn chi tiết “loạn luân” và “giết người bịt miệng” trong một biên khảo về Petrus Ký.(1993, tr. 51).

Trước hết, phải khẳng định: Theo Đại Nam Thực Lục, Chính Biên và Đại Nam Liệt Truyện, Chính Biên của Quốc sử quán triều Nguyễn chỉ có Tống Thị Quyên, vợ góa Hoàng tử Cảnh, bị dìm nước chết trong năm Giáp Thân (1824). Người thi hành bản án này là Tổng trấn Gia Định thành Lê Văn Duyệt (cũng người được các giáo sĩ và Petrus Key mô tả như chống lại vua Minh Mạng, ủng hộ Hoàng tôn Đán, những lời võ đoán trái ngược với sử nhà Nguyễn), mới từ thành Phiên An ra Huế dự thượng thọ của Hoàng Thái hậu. Hoàng tôn Đán [Mỹ Đường] bị phế làm thứ dân, dời nhà khỏi Hoàng thành từ tháng 12 Giáp Thân [19/1-17/2/1825], và cấm không được vào chầu. (ĐNTL,CB, II, 7:104-5; ĐNLT, CB q. 2 (truyện Anh Duệ Hoàng thái tử) & 23 (truyện Lê Văn Duyệt hạ) [1993], II:49, 396 [Việt ngữ]). Đán bị đặt trong tình trạng giám sát thường xuyên, và năm 1849 mới chết giữa lúc kinh đô bị bệnh thời khí. ( ĐNTL,CB, q. 2 [1993], II:52-4). Nói cách khác, Minh Mạng không “thủ tiêu” Đán như Petrus Key và các giáo sĩ tung tin đồn. Em Đán là Thái Bình Công Mỹ Thùy chết “bệnh” năm 1826 [tháng Bảy Bính Tuất, 4/8-1/9/1826], khi đang bị quân lính kiện. ( ĐNTL,CB, II, 8:76) Tháng Tám Bính Tuất [9/1826], Minh Mạng cho Lệ Chung, con Mỹ Đường, mới 6 tuổi, được tước Ưng Hòa hầu để giữ hương hỏa Thái tử Cảnh. ( ĐNTL, CB, II, 8:97)

Khi sơ thảo cuốn Các vua cuối nhà Nguyễn, tôi đã sử dụng tài liệu của các nhà truyền giáo. Nay xin viết rõ lại, và hy vọng độc giả chưa có phần “Đính chính” sửa chữa giúp ấn bản năm 1999 (tập I) như sau:

tr. 52, dòng 8-9: “Việc Minh Mạng giết chết mẹ ruột Đán là Tống Thị Quyên rồi  biếm Mỹ Đường làm thường dân vào năm 1824 . . . .”

tr. 57, dòng 17-19: “Bởi thế sau khi giết Tống thị (vợ Cảnh) và biếm Hoàng tôn Đán làm thường dân, ngày 12/2/1825, vua mật chỉ cho Tổng Đốc Quảng Nam:”

Vụ án Nguyễn Văn Thành (1758-1817)

          Nhân đây cũng bàn thêm việc liên quan giữa vụ án Nguyễn Văn Thành cùng cuộc tranh chấp ngôi vua giữa Hoàng tôn Đán (?-1849, cháu đích tôn Gia Long) và Hoàng tử Đảm (1791-1841, Hoàng tử thứ tư), tức vua Minh Mạng.

Petrus Key và các giáo sĩ chép rằng “Nguyễn Văn Thiềng” [Thành] “Phó vương (Vice Roi) ở Bắc Kỳ” bị Minh Mạng (1820-1841) giết vì một bức thơ giả mang dấu ấn của Thiềng. Lê Văn Duyệt “ngán ngẫm” trước cảnh này, xin vào Gia Định đánh giặc. (Cours d’ histoire annamite, 1877 [?], tome II, tr. 261; Trấn 1993, tr. 51-2).

Câu chuyện “cổ tích” mà Petrus Key chép bằng tiếng “Pha Lang Sa” để “kiếng” cho “học trò các trường đất Nam kì” trên (Xem thư ngày 25/2/1875 của P.J. Truong Vinh Ky, ở phần đầu tập I, Cours d’ histoire annamite; Nguyễn Văn Trấn, 1993, tr. 32), dĩ nhiên, khác xa với sử liệu. Cuộc thanh trừng phe ủng hộ Hoàng tôn Đán (như cha con Nguyễn Văn Thành) xảy ra dưới triều Gia Long (1802-1820). Lê Văn Duyệt, Phạm Đăng Hưng và Nguyễn Hữu Nghi thủ diễn vai trò quan trọng trong cuộc thanh trừng này. Ba năm sau, khi vua Gia Long từ trần, Đông Cung Thái tử Đảm lên nối ngôi, tức vua Minh Mạng (1820-1841). Hai người được Gia Long chọn để nhận di chiếu là Phạm Đăng Hưng (nhạc phụ của Thiệu Trị, 1841-1847) và Lê Văn Duyệt. Sau khi lên ngôi, để thưởng công cho Lê Văn Duyệt, Minh Mạng cử Tả quân Duyệt làm Tổng trấn Gia Định lần thứ hai từ tháng 5 Canh Thìn (11/6 - 9/7/1820).

          Petrus Key và các giáo sĩ, với thành kiến tiên thiên là các vua nhà Nguyễn thuộc loại “ác quỉ,” muốn hậu thế tin rằng Minh Mạng muốn tru diệt công thần, dòng dõi họ Lê và tất cả những người chống đối để  bảo vệ ngôi báu. Bởi thế, Petrus Key cho Lê Văn Duyệt “chứng kiến tận mắt” cảnh Minh Mạng bầy kế lấy trộm ấn “Phó vương (Vice Roi) Bắc Kỳ” của Chưởng Trung quân “Nguyễn Văn Thiềng” [Thành] rồi viết ra một thư giả nhân danh Thiềng và các con kêu gọi dân chúng làm loạn, hầu lấy cớ giết hại cả hai cha con “Thiềng.” Phần Lê Văn Duyệt, nhờ may mắn hơn, tìm thấy kẻ ăn trộm ấn của mình nên thoát chết, chỉ bị gửi vào Gia định thành để dẹp loạn. (Cours d’ histoire annamite, 1877 [?], II:260-1; Trấn 1993, tr. 51-2)

Trong hơn một trang “sử” nhằm chứng minh “bản chất gian ác” của vua Minh Mạng trên chỉ có một nửa sự kiện xảy ra, đó là việc Tả quân Duyệt bị mất trộm ấn năm 1816. Còn lại, hoàn toàn sai lạc.

Thứ nhất, khi xảy ra vụ án Nguyễn Văn Thành (kéo dài từ năm 1815 tới 1817), Minh Mạng chưa lên làm vua. (Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối, tập I, tr. 83n38)

Thứ hai, Nguyễn Văn Thành hay Lê Văn Duyệt chẳng bao giờ được tước “Vice Roi” [Phó vương] (ngay từ năm 1886, Paul Bert đã từng chất vấn Petrus Key về việc này). (Nguyễn Văn Trấn, 1993, tr. 72-3)

Thứ ba, Nguyễn Văn Thành, cựu Tổng trấn Bắc thành, đã rời Hà Nội từ năm 1810, sau khi mang quan tài mẹ về Huế chôn cất. Sau đó được giao việc biên soạn Bộ luật Gia Long, và rồi giữ chức Chưởng Trung quân, tức cầm đầu quân đội. Như thế, không thể có việc Nguyễn Văn Thành bị trộm ấn tín “Vice Roi” để đóng vào lá thư giả kêu gọi làm loạn nào đó.

Thứ tư, theo sử nhà Nguyễn, vụ án  Nguyễn Văn Thành khởi sự từ một bài thơ của con Nguyễn Văn Thành, tức Cử nhân Nguyễn Văn Thuyên (khóa 1813). Sau đó, đến việc Lê Duy Hoán khai rằng từng nhận được thơ Thuyên xúi làm loạn. Lê Văn Duyệt chứng kiến tận mắt vụ án này không phải trong cảnh đồng hội, đồng thuyền với Nguyễn Văn Thành, mà là người chủ chốt (cùng với Phạm Đăng Hưng và Nguyễn Hữu Nghi) buộc Nguyễn Văn Thành vào tội chết. [Xem phần sau]

Thứ năm, việc mất ấn Tả quân (mà không phải ấn “Vice Roi”) của Lê Văn Duyệt năm 1816 có liên quan đến vụ án Nguyễn Văn Thành. Người ăn cắp ấn, một tên Hựu nào đó, khai rằng Nguyễn Văn Thành xúi y làm bậy; Lê Văn Duyệt tâu lên Gia Long, nhưng vua bỏ qua vì không đủ chứng cớ. (ĐNTL,CB, I, 4:302)

Thứ sáu, sau khi kết thúc vụ án Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt được cử ra vùng Nghệ An-Hà Tĩnh dẹp giặc, không được trở lại Gia Định thành như Petrus Key viết. Chưởng hữu quân Nguyễn Văn Nhân vẫn giữ ấn Tổng trấn Gia Định. ( ĐNTL, CB, I, 4:391)

Thứ bảy, tháng 1/1820, khi vua Gia Long ốm nặng, Phạm Đăng Hưng và Lê Văn Duyệt được đón nhận di chiếu lập Thái tử Đảm lên ngôi, tức vua Minh Mạng. Lê Văn Duyệt còn được giao nắm ngũ quân thần sách để bảo đảm an ninh kinh thành. (ĐNTL, CB, I, 4:398)

Thứ tám, sau ngày Minh Mạng lên ngôi, Lê Văn Duyệt mới được cử làm Tổng trấn Gia Định lần thứ hai từ tháng 5 Canh Thìn [11/6-9/7/1820], với toàn quyền hành động để đương đầu với loạn Sư Kế ở Chân Lạp.

Đưa ra 8 lỗi lầm của Petrus Key trong hai trang thông sử (đúng hơn cổ tích) bằng tiếng Pháp của ông, chúng tôi không muốn “đạp một cánh cửa mở rộng để bước vào nhà.” Chẳng một người học sử nào dám tự hào mình không phạm lỗi lầm về kỹ thuật hoặc dữ kiện. Hơn nữa, hơn một trăm hai mươi sáu năm trước, Petrus Key không có khoảng cách thời gian vừa phải như chúng ta để sưu tra và so sánh các tư liệu. Petrus Key cũng không phải là một sử gia chuyên nghiệp (dù Petrus Key tự xưng là “historien fidèle et consciencieux”), và chỉ viết những bài giảng “sử” trên do nhu cầu giảng dạy tiếng Pháp và tuyên dương công ơn nước Pháp tại Nam Kỳ.

Sở dĩ phải lạm bàn về sự sai lầm của Petrus Key vì đây không phải là những sai lầm thuần kỹ thuật hoặc thiếu tư liệu (chỉ nội tập II đã có vài trăm lỗi kỹ thuật về ngày tháng, sử kiện), mà đôi chỗ đã sai lầm đầy chủ ý. Petrus Key chép việc “Minh Mạng” ám hại công thần hoặc nhà vua thông dâm với chị dâu và giết hại hai cháu ruột, chỉ nhắm mục đích chứng minh hoặc tố cáo bản chất gian ác (sa nature perverse) của ông vua thứ hai triều Nguyễn, người nổi danh là đàn áp Ki-tô giáo. (II:260)

Để tìm hiểu sự thù ghét giữa Minh Mạng và các nhà truyền giáo, cần lược duyệt lại giai đoạn từ khi nhà Tây Sơn (1776-1802) tiêu diệt chúa Nguyễn (1600-1776), làm chủ Đàng Trong.

          Từ năm 1777 hoặc 1780, sau khi hai chúa Nguyễn cuối cùng bị Tây Sơn giết hại ở Gia Định, Pierre Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc) đã quyết định ủng hộ Hoàng thân Nguyễn Chủng (Noãn tức ánh) chống lại nhà Tây Sơn. Mặc dù không ưa đạo Ki-tô, sau khi Pigneau de Béhaine chết (1799), Gia Long vẫn cho các giáo sĩ tự do hoạt động. Nhưng giáo sĩ Pháp chưa thỏa mãn. Ra công vận động, giúp tài lực (cho Nguyễn Chủng vay 270,000 đồng Mexico), nhân lực (tuyển mộ lính đánh thuê Tây phương, đặc biệt là Pháp), và khí giới cùng tàu chiến đưa Nguyễn Chủng lên ngôi, họ muốn vua Gia Long phải trả ơn bằng cách trọng đãi giáo dân Ki-tô. Nhưng vừa lên ngôi chưa đầy hai năm, ngày 4/3/1804 (tháng Giêng Giáp Tí, 11/2-11/3/1804), từ Thanh-Hoa, Gia Long ban chỉ dụ không được sửa chữa nhà thờ, chùa chiền v.. v.. nếu không được phép của các quan địa phương. Nếu vi phạm, xã trưởng phải bị đầy đi xứ xa, dân thì sung làm dịch phu, nhẹ thì đánh roi hay trượng, "để bớt tổn phí cho dân, mà giữ phong tục thuần hậu." (ĐNTLCB, I, 3:162-9) Vua cũng ra Dụ chê bai thuyết thiên đường, địa ngục, nước phép của Ki-tô giáo:

"Lại như đạo Gia tô là tôn giáo nước khác truyền vào nước ta, bịa đặt ra thuyết thiên đường địa ngục khiến kẻ ngu phu ngu phụ chạy vạy như điên, tiêm nhiễm thành quen, mê mà không biết. Từ nay về sau, dân các tổng xã nào có nhà thờ Gia tô đổ nát thì phải trình quan trấn mới được tu bổ, dựng nhà thờ mới thì đều cấm." (ĐNTL,CB, 3:168-9. Theo các giáo sĩ, vua cấm cả sửa chữa nhà thờ; Louvet, La Cochinchine religieuse, II:16-9; Huồn 1965, I:267-8).

          Thất vọng về Gia Long, các giáo sĩ nuôi tham vọng đầu tư vào con Thái tử Cảnh (đã chết vì bệnh đậu mùa năm 1801), tức Hoàng tôn Đán (Mỹ Đường), và công khai chống lại Hoàng tử Đảm (tức Hiệu), người được sự yểm trợ của phe nho sĩ bảo thủ trong triều (như Phạm Đăng Hưng, Thượng thư Bộ Lễ).

Trong số những người ủng hộ Hoàng tôn Đán có Nguyễn Văn Thành. Nguyễn Văn Thành gốc Thừa-thiên, sau tổ tiên rời vào Gia-định. Trước theo cha chống Tây Sơn ở Sông Cầu, rồi theo Nguyễn Chủng qua Xiêm La, giúp quân Xiêm đánh thắng Miến Điện. Năm 1802, đứng đầu sổ công thần, được phong chức Tổng trấn Bắc thành. Năm 1810, nhân mẹ chết, mang quan tài về Huế, được giao soạn lại luật pháp (tức Luật Gia Long, nhưng sau bị lấy tên ra), rồi nắm giữ binh lực (Chưởng Trung quân).

Quyền cao, chức trọng, Nguyễn Văn Thành không lo bảo vệ tính mạng, lại xen vào việc phế lập, nhiều lần xin vua lập Thái tử, và nhấn mạnh vào vấn đề chính thống, tức muốn lập dòng trưởng. Gia Long chưa có quyết định dứt khoát vì chính phi (mẹ Thái tử Cảnh) còn sống, và vua nghi ngờ Nguyễn Văn Thành có dụng tâm. Một lần vua giận nói:

Hắn muốn dựng vua nhỏ để dễ khống chế, ngày sau có thể chẹt họng, vỗ lưng chăng. Ta há tối tăm lầm lẫn, không biết đắn đo nên chẳng, vội nghe lời hắn mà không vì xã tắc chọn người sao?

Từ đó hễ vào chầu là Nguyễn Văn Thành chỉ xin dựng Thái tử. Vua nín lặng. Nguyễn Văn Thành biết vua không vừa ý, lòng sinh ngờ sợ.

Số phận của Nguyễn Văn Thành và nhóm phò Hoàng tôn Đán bắt đầu xuống dốc từ sau cái chết của Tống Hoàng hậu vào tháng Tháng Hai Giáp Tuất [20/2-20/3/1814]. Gia Long cho Hoàng tử Đảm làm chủ tế với danh vị con nuôi của Tống Hoàng hậu. Nguyễn Văn Thành cực lực phản đối, nêu lý do Hoàng tôn Đán (thuộc dòng trưởng) làm chủ tế mới phải đạo. Gia Long không đổi ý, nói con theo mệnh cha để tế mẹ là việc danh chính, ngôn thuận, có gì mà không nên. Nguyễn Văn Thành có ý không bằng lòng. (ĐNTL,CB, I, 4:213-4)

Tháng Sáu Ất Hợi [7/7/1815], Gia Long gọi Lê Văn Duyệt về kinh, tạm giao cho Trương Tấn Bửu quyền Tổng trấn Gia Định. (Tháng Giêng Bính Tý [29/1-27/2/1816], Tổng trấn Bắc thành là Nguyễn Huỳnh Đức chính thức thay Duyệt làm Tổng trấn Gia Định; ĐNTL,CB, I, 4:252, 270) Chuyến hồi kinh này của Lê Văn Duyệt có lẽ để đối phó với phe Nguyễn Văn Thành. (Điều này chứng tỏ Lê Văn Duyệt không cùng phe với Thành như các giáo sĩ đồn đại, và Petrus Key trung thành ghi vào tập bài giảng cổ tích sử của mình)

Nguyên có người hào khách cũ của con Nguyễn Văn Thành, tức Cử nhân Thuyên, là Nguyễn Trương Hiệu tố cáo với Thiêm sự Hình bộ Nguyễn Hữu Nghi rằng Thuyên chiêu mộ tân khách, âm mưu làm loạn. Theo Hiệu, Thuyên từng sai Hiệu mang thơ mời gọi bọn Nguyễn Văn Khuê, Nguyễn Đức Nhuận ở vùng Nghệ An, lời lẽ rất bội nghịch.

Thơ rằng:

Văn đạo Đi châu đa tuấn kiệt
[Nghe nói đất Đi châu nhiều tuấn kiệt]
Hư hoài trắc tịch dục cầu ti
[Ta để dành chiếu trống bên cạnh đợi chờ]
Vô tâm cửu bảo Kinh sơn phác
[Vô tâm ôm mãi ngọc Kinh sơn]
Thiện tướng phưong tri Ký bắc kỳ
[Tướng tài mới biết ngựa ký đất bắc]
U cốc hữu hương thiên lý viễn
[Hương thơm trong u cốc cũng lan ra ngàn phương]
Cao cương minh phượng cửu cao tri
[Phượng gáy trên gò cao vang chín chằm]
Thử hồi nhuợc đắc trung sơn tể
[Ví thử tìm được tay tể [tướng] trong hang núi]
Tá ngã kinh luân chuyển hóa ky.
[Giúp ta ra tay chuyển cơ trời]

Nghi bèn khuyên Hiệu mang bài thơ tố cáo với Lê Văn Duyệt. Vốn không ưa Nguyễn Văn Thành từ lâu, Lê Văn Duyệt mang bài thơ nạp lên vua Gia Long, nhưng vua chưa muốn tra cứu. Tay chân Lê Văn Duyệt bèn xúi Hiệu dùng bài thơ trên làm tiền Thuyên. Thuyên phải ký giấy nợ với Hiệu. Có lần Hiệu còn chặn đường Nguyễn Văn Thành đưa giấy nợ của Thuyên đòi tiền. Nguyễn Văn Thành bèn cho bắt cả Hiệu và Thuyên, giao sang phủ Quảng Đức tra hỏi, rồi đích thân trình bày sự việc lên Gia Long. Vua cho đình thần bàn nghị. Hiệu viện dẫn một môn khách khác của Thuyên là Đỗ Văn Chương làm chứng, nhưng Chương đã bỏ vào Gia Định. Tháng Chạp Ất Hợi [30/12/1815-28/1/1816], vua tạm tha Thuyên, và cho lệnh bắt Chương về Huế đối chất.(ĐNTL, CB, I, 4:267-9)  Tháng Hai Bính Tý [28/2-28/3/1816], Ký lục Quảng Trị là Nguyễn Duy Hòa dâng sớ hạch tội Nguyễn Văn Thành, nhưng Tham tri Hình bộ Võ Trinh bênh vực, nên vua tạm gác. (ĐNTL,CB I, 4:275-6) Dẫu vậy Gia Long bắt đầu chán ghét Nguyễn Văn Thành. Sau lễ Nam Giao, không cho vào chầu nữa. Hai người trong phe Nguyễn Văn Thành là Tham tri bộ Hình Võ Trinh và Chưởng cơ Tống Phước Ngoạn cũng bị hạ ngục vì tội  xúi người làm chứng gian rằng Hiệu vốn là tịch sĩ của Nguyễn Hữu Nghi, với ý bênh vực Thuyên. (ĐNTL,CB I, 4:277)

          Qua tháng Ba Bính Tý [29/3-26/4/1816], Gia Long quyết định lập Hoàng tử Đảm làm Thái tử. ( ĐNTL,CB I, 4:278-80) Tháng Tư Bính Tý [27/4/1816], Phạm Đăng Hưng hỏi cung Đỗ Văn Chương, Chương xác nhận lời khai của Hiệu, nhưng Thuyên chưa chịu nhận tội. Vua bèn giao Thuyên cho Lê Văn Duyệt tra hỏi, Thuyên mới chịu nhận. Nguyễn Văn Thành cũng dâng sớ xin chịu tội. Vua bèn hạ lệnh tống giam Thuyên vào ngục, nhưng chỉ thu ấn Chưởng Trung quân của Thành. Chưởng Hữu quân Nguyễn Văn Nhân tạm lãnh ấn Chưởng Trung quân, cho đến ngày Trương Tấn Bửu chính thức thay Thành. (ĐNTL,CB I, 4:283-4, 300)

Tháng Sáu Bính Tý [25/6/1816], sau khi Hoàng tử Đảm được cử làm Thái tử (ngày 5/7/1816; ĐNTL, CB, I, 4:288), triều đình bắt đầu luận tội hai cha con Nguyễn Văn Thành. (ĐNTL, CB, I, 4:292-3)

Tháng Mười Bính Tý [19/11-18/12/1816], bỗng xảy ra vụ Lê Văn Duyệt bị mất ấn Tả quân. Thủ phạm ăn cắp ấn tự nhận do Nguyễn Văn Thành xúi bẩy. Vua không tin. (ĐNTL, CB,  I, 4:302)

Tháng Một Bính Tý [19/12/1816-16/1/1817], Gia Long cho lệnh bắt Lê Duy Hoán vì tội mưu phản. Khi bị dẫn giải về Huế, quan chức Bộ Hình lấy cung thêm. Hoán khai rằng Thuyên từng gửi thư cho Hoán, xúi làm phản. (ĐNTL, CB, I, 4: 304-5, 319). Thoạt tiên Thuyên cố chối tội, nhưng Lê Văn Duyệt làm cho Thuyên phải nhận. Tháng Năm Đinh Sửu [15/6-13/7/1817], Gia Long tống giam Nguyễn Văn Thành và các con. Mặc dù quyết không nhận tội, Nguyễn Văn Thành uống thuốc độc tự tử, chỉ để lại một tờ biểu minh oan. Đọc xong tờ biểu, Gia Long òa khóc, dụ rằng: “Văn Thành từ lúc trẻ theo trẫm vất vả, có công lao to. Nay nhất đán đến nỗi chết, trẫm không bảo hộ được, ấy là trẫm kém đức.” (ĐNTL,CB,  I, 4:321) Rồi cho chôn cất tử tế. Thuyên và Lê Duy Hoán bị làm án chém. Hiệu được thưởng 500 quan tiền. (ĐNTL,CB,  I 4:321-2; ĐNLT, CB, q.21; QTCBTY 1971:92). Các con Nguyễn Văn Thành đều được tha. Riêng Nguyễn Văn Hàm sau theo Nguyễn Hựu Khôi làm loạn, chỉ huy lực lượng Ki-tô giáo ở Phiên An (Sài Gòn). Vì thế con cháu Nguyễn Văn Thành đều bị truy giết. Mãi tới năm 1848, Vũ Xuân Cẩn dâng sớ xin truy xét công trạng Nguyễn Văn Thành; nên Tự Đức (1848-1883) cho con là Loại làm chủ quân Cai đội. (ĐNTL,CB, IV, 27:76-7,119-20)

Tóm lại, những vụ án Nguyễn Văn Thành hay Tống Thị Quyên-Hoàng tôn Đán chỉ là cái cớ cho các giáo sĩ sử dụng để đả kích vua Minh Mạng, bất chấp sự thực. Từ năm 1816, sau khi Gia Long chọn Hoàng tử Đảm làm Thái tử, các giáo sĩ và giáo dân công khai chống lại quyết định này. Không những tung tin Gia Long giết chết Hoàng tử Cảnh (như lời chứng của Giám mục Francois Pellerin trước Ủy Ban Cochinchine ở Paris vào tháng 5/1857), họ còn cáo buộc Minh Mạng (Hoàng tử Đảm) đã “soán ngôi” của cháu. Cái chết của cha con Nguyễn Văn Thành năm 1817 được bịa đặt ra là xảy ra dưới triều Minh Mạng. Cuộc thảm sát Tống thị Quyên, vợ Cảnh, năm 1824 và biếm Mỹ Đường (Hoàng tôn Đán) thành thường dân vào đầu năm 1825 vì tội “thông gian với mẹ đẻ”—cùng cái chết của Mỹ Thùy, con thứ hai Thái tử Cảnh, vào tháng 8/1826 [tháng Bảy Bính Tuất]—lập tức trở thành thứ “bí ẩn cung đình” là Minh Mạng “đi lại” với chị dâu góa, rồi khi chị dâu mang thai, bèn “giết chị dâu và hai cháu” để che dấu tội loạn luân! Vì không có bằng chứng, lại lẫn lộn về ngày tháng, sự kiện, các giáo sĩ và Petrus Key chỉ việc thêm vào “theo lời đồn” (dit-on) là tự cảm thấy phủi sạch tay trách nhiệm!

          Trang bị bằng các Thánh lệnh đi xâm chiếm và cải đạo các vùng đất “mọi rợ” chưa nằm trong tay hay chưa được một quân vương Ki-tô nào tự nhận là sở hữu, các giáo sĩ Pháp nghĩ đến việc dùng võ lực lật đổ nhà Nguyễn. Năm 1833, nhân dịp Nguyễn Hựu (“Lê Văn”) Khôi nổi dạy ở miền Nam, Linh mục Joseph Marchand [Mã Song hay Du], vì lý do nào đó, cũng “có mặt” trong thành Phiên An, với khoảng 100 giáo dân Ki-tô, dưới sự chỉ huy của Nguyễn Văn Hàm (con Nguyễn văn Thành).

Khôi, theo Đại Nam Liệt Truyện, tên thật Bế Văn Cận, nguyên là con một thổ tù đất Cao Bằng. (Xin xem thêm ĐNLT, CB, truyện Nông Văn Vân, vì hình như có sự trùng hợp hai tên Bế Văn Cận). Khi mộ quân đánh dẹp ở Nghệ-an, Khôi được cho mang họ Nguyễn Hựu.  Năm 1820, theo Tổng đốc Duyệt vào Gia-định thành,  được trọng dụng. Tám năm sau, lên tới chức Phó vệ úy vệ Minh Nghĩa. Sau khi Tổng đốc Duyệt chết năm 1832, Tổng đốc An-Biên Nguyễn Văn Quế và Bố chính Bạch Văn Nguyên đàn hịch tội Khôi là đã lợi dụng binh quyền khai thác gỗ làm của tư. Ngày 6/7/1833 (18/5 Quí Tị) Khôi cùng đồng đảng trong các cơ binh Bắc thuận và Hồi lương nổi lên giết Bố chính Nguyên, chiếm thành Phiên-An, rồi giết luôn Tổng đốc Quế. Sau đó, đánh chiếm khắp 6 tỉnh miền Nam. Trước hết, nêu danh nghĩa phò Lê, rồi tuyên bố trả thù cho Lê Văn Duyệt. Giáo dân Ki-tô tham gia cuộc nổi dậy gửi đại diện qua gặp Giám mục Taberd, lúc ấy đang ẩn náu ở Chantabun (Xiêm La), yêu cầu vận động Xiêm và các nước Tây ẽu tiếp sức. Họ còn định giương cờ Constantine (có hình chữ thập) để biểu lộ tinh thần “thập tự quân (crusade)” của cuộc nổi dậy, nhưng Marchand không đồng ý. Quan quân nhà Nguyễn bắt được sứ đoàn này, với tang chứng rõ ràng.

Vì đã có mật ước với Khôi, đầu năm 1834 Xiêm La nêu danh nghĩa phò trợ Khôi, phái 5 đạo quân xâm phạm vùng Hà-tiên, Châu-đốc của Việt Nam, đồng thời tiến đánh Chân Lạp và Lào, theo thế trong công ngoại kích. Nhờ một số danh tướng như Nguyễn Xuân, Trương Minh Giảng, v.. v..., và nhất là Thái Công Triều, một phản tướng mới xin qui phục triều đình, quan quân Nguyễn đẩy lui được giặc Xiêm. Nhưng dù Khôi chết vì bệnh phù thủng năm 1834, mãi hơn một năm sau quân Nguyễn   mới tái chiếm được Phiên An ngày 8/9/1835 (16 tháng 7 Ất Mùi). Quan quân giết chết tại trận 559 người, kể cả ba con của Khôi. Trong số 1,278 người bị bắt có Nguyễn Văn Trắm, Marchand và Phó tế Nguyễn Văn Phúc [Phước], cai quản họ đạo Chợ Quán, cùng gần 100 giáo dân. Được hỏa tốc báo tin ngày 13/9, Minh Mạng cho lệnh “đào mả Khôi, đâm nát xương cốt rồi chia ném vào nhà cầu 6 tỉnh, thịt cắt thành từng miếng cho chó ăn (?), đầu lâu đóng hòm gửi về kinh cùng 6 trọng phạm [Marchand, Nguyễn Văn Trắm, Lê Bá Minh, Đỗ Văn Dự, Lưu Tín, và “Lê Văn” Viên, con Khôi, mới 7 tuổi].” Tất cả các phạm nhân trong thành Phiên An và tòng phạm, “không cứ già trẻ trai gái ở vài dặm ngoài thành đều chém ngay, rồi đào một hố to [ở Chí Hòa] vất thây lấp đất, chồng đá làm gò dựng bia khắc “nơi bọn nghịch tặc bị giết để tỏ lòng quốc pháp,” sau thường gọi là “Mả Ngụy.” Trên đường giải giao ra Huế, Trắm tìm được cách móc cổ tự tử. Marchand và bốn người khác bị kết án lăng trì [xẻo từng miếng thịt cho tới chết]. Minh Mạng cũng xuống lệnh thẳng tay giết hại giáo mục Ki-tô từ ngày Khôi nổi loạn và bắt được mật thư xin cầu viện nước Xiêm.

Muốn lợi dụng cuộc làm loạn của Khôi để loại bỏ thế lực “đuôi to khó vẫy” của Lê Văn Duyệt, (ĐNLT,CB, 21:137-8)  từ năm 1833, Minh Mạng đã đổi Khôi sang họ Lê để tiện việc trừng phạt như phá bỏ mộ bia Tả quân Duyệt, bắt giam cả con nuôi (Lê Văn Yên) và họ hàng Lê Văn Duyệt. Con cháu Đán (tức Mỹ Đường) lại bị xóa tên trong sổ tôn thất. Theo quốc sử nhà Nguyễn, mãi tới đầu đời Tự Đức (1848) Tả quân Lê Văn Duyệt mới được xóa bỏ mọi tội trạng. (ĐNLT,CB, q. 23 [Lê Văn Duyệt, hạ], (1993), 2:402-5; ĐNLT,CB, q. 45 [truyện các nghịch thần], (1993), 4:475-98; ĐNTL, CB, II, 2:213-6, 238-44, 266, 273, 278, 286-8, 317-8, 335-8, 396, 401; 13:16-8, 25-6, 107-15; 16:205, 158-63, 168, 265-6, 271-2, 322; và 17:46-56, 154-6).

Tài liệu các nhà truyền giáo trình bày khác với quốc sử nhà Nguyễn: Khôi nổi loạn ngày 18/5/1833 (sic); quân Nguyễn hạ thành Phiên An ngày 8/9/1835; Minh Mạng cho lệnh xử tử 1,940 người, kể cả 64 “giặc” Ki-tô, chôn chung vào một Mả Ngụy. Marchand bị đóng cũi giải về Huế cùng 4 người khác. Marchand bị giết ngày 30/11/1835; vì các tướng giặc bị bắt khai rằng Khôi định nổi lên để lập Hoàng tôn Đán làm vua, nên Minh Mạng “chắc chắn” giết chết Đán năm này. (Huồn 1965, I:299-300,311) Petrus Key thì ghi 1,137 người bị xử tử, chôn chung trong Mả Ngụy. (Cours d’ histoire, II:265-6) Thành Sài Gòn do Olivier dựng lên từ thập niên 1790 cũng bị xan thành bình địa. (Ibid., II:267)

Người đọc sử đời sau, hoặc người muốn nghiên cứu về sự nghiệp văn học của Petrus Key, không thể không tạm ngừng ở đoạn viết về Minh Mạng này cùng bản án Hoàng tôn Đán và Nguyễn Văn Thành để đặt câu hỏi: Tại sao?

Một trong những câu trả lời là Petrus Key không biết gì nhiều về lịch sử thời cận đại hay hiện đại. Dăm ba trang “sử” khác để dạy cho học trò miền Nam về các vua Thiệu Trị và Tự Đức chứng tỏ điều này. Thí dụ như Petrus Key thuật lại rằng Thiệu Trị lấy cả hai dì cháu nhà họ Phạm; cháu sinh ra “Hoàng Nhậm,” dì sinh ra “Hoàng Bảo;” sau khi Thiệu Trị chết, “Hoàng Nhậm” được lên ngôi, “Hoàng Bảo” nổi loạn, bị thắt cổ chết trong tù. Tự Đức thừa hưởng những cơn nóng giận của cha là Thiệu Trị, và bản chất tàn bạo của ông nội, tức Minh Mạng [héritier de la colère de Thieu Tri et dont le tempérament semble plus se rapprocher de celui de Minh Mang] (Ibid., II:272-3), v.. v... Chẳng cần đợi tới năm 2002 chúng ta mới biết các con vua Thiệu Trị đều mang tên đệm Hường hay Hồng mà không phải Hoàng. (Xem Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối nhà Nguyễn, 1883-1945, tập I, chương I & II) Vụ án Hường Bảo cũng không đơn giản như cách diễn tả “[Hường] Bảo nổi loạn, bị thắt cổ chết trong tù.” (Ibid., II:272) Nó liên hệ chân rết đến cuộc đương đầu sắt máu giữa các giáo sĩ và triều Nguyễn từ năm 1833. Quan trọng hơn, ít nhất trong thập niên đầu tiên, ông vua trẻ tuổi, tật bệnh Tự Đức hoàn toàn bị mẹ ruột, tức Thái hậu Từ Dụ (hay “cô Hằng gốc Gò Công” của Petrus Key [Ibid., II:272]), và các đại thần đầy quyền lực như nhóm Trương Đăng Quế, Nguyễn Tri Phương khống chế.

Đáng lưu ý là những chi tiết của Petrus Key về Tự Đức giống hệt lập luận các nhà truyền giáo, phần lớn dựa theo tin đồn do chính họ phao ra. Bởi thế, không thể không hoài nghi Petrus Key đã bị các Giáo sĩ Pháp chi phối nặng nề, hoặc nhồi sọ; hễ đả kích được Minh Mạng và các vua nhà Nguyễn là ra tay ngay (Giống như sự trao đổi những lời nhục mạ giữa hai phe Quốc Gia và Cộng Sản từ năm 1945 tới nay).

Nhưng cũng có thể Petrus Key chẳng hề bận tâm đến sự thực lịch sử, góp nhặt những tin đồn và dùng trí tưởng tượng của mình, hư cấu thành những truyện cổ tích bằng Pháp ngữ, nhằm phục vụ mục tiêu chính trị giai đoạn của Hội truyền giáo và Soái phủ Sài Gòn. Nên truyền đơn, khẩu hiệu được khoác cho lớp xiêm áo “histoire” [lịch sử].

Trong thư mở đầu bằng Việt ngữ gửi các học trò đất Nam Kỳ, đề ngày 25/2/1975 ở phần đầu tập I cuốn Cours d’ histoire annamite, Petrus Key viết (bằng chữ Việt mới):

Dùng tiếng Pha lang sa là tiếng đã rộng mà lại hay mà chép chuyện nước ta cho anh em coi cho quen thuộc tiếng ấy, trông rằng lấy cái tiếng anh em đang lo học mà thuật lại truyện anh em đã biết thì sẽ giúp anh em cho dễ thông ý tứ léo lắt và hiểu rõ cốt cách tiếng ấy hơn.

         Như thế, mục đích chính của Petrus Key tự nhận chỉ là “chép chuyện nước ta” cho các học sinh luyện thêm Pháp ngữ. Nhưng thực chăng học trò Nam Kỳ ngày ấy “biết” những loại “tin đồn” mà Petrus Key “dịch” qua tiếng Pháp bàn luận sơ lược ở đoạn trên? Thực chăng học trò đất Nam Kỳ của thập niên 1870 “biết” rằng lịch sử Việt chia làm ba thời đại: (1) Từ 2874 trước năm Jesus Christ ra đời tới năm Jesus sinh ra gọi là thời đại Thượng cổ; (2) từ năm sinh của Jesus Christ tới năm 966 là thời kỳ chuyển tiếp (période de transition); và (3) từ năm 968 tới nhà Nguyễn gọi là thời hiện đại (temps moderne) ? Cái năm số “0” hay số “1” này—tức năm mà nhiều người tin là năm sinh của Jesus Christ—chẳng hề dính nhập đến một biến cố quan trọng nào ở cổ Việt; và Jesus Christ hay các nước Tây phương cũng chưa hề biết về, nói chi có ảnh hưởng đến, những “xứ mọi rợ” không hề hiện hữu bên ngoài trái đất hình vuông tại Âu châu. (Cho tới đầu thế kỷ XV dân ẽu châu vẫn còn tin chuyện tiếng hát nhân ngư và vực thẳm đầy sương mù bên ngoài ranh giới trái đất hình vuông) Một giả thuyết để nghiên cứu thêm [working thesis] có thể là Petrus Key nuôi dụng tâm viết lại và phân chia lịch sử theo lịch sử truyền giáo Ki-tô Vatican, như một dấu mốc văn hóa của tân trào.

Một điểm độc đáo khác là Petrus Key không hề nhắc đến những cuộc kháng chiến của dân quân miền Nam trong cuộc xâm lăng của Pháp; mà chỉ ca ngợi các quan Tướng Pháp đã khiến dân Nam Kỳ thương yêu và kính trọng. Tội nghiệp cho hồn thiêng của những anh hùng dân tộc như Thiên Hộ Dương, Trương [Công] Định, Thủ khoa Huân, v.. v... Việc người Pháp chiếm đóng ba tỉnh miền Tây năm 1867 được biện minh là do các tỉnh này đã gây nên “những rắc rối thường trực và sâu xa” cho ba tỉnh miền Đông của Pháp. (Ibid., II:276) [Một độc giả vô danh nào đó hạ bút phê vào dưới đoạn văn trên như sau: “Hay quá!”]

          Để tạm kết thúc về mục tiêu viết “sử” của Petrus Key, xin trích thêm đoạn kết của cuốn Cours d’ histoire annamite:

Đề đốc Lafont lên thay Đề đốc Duperré ngày 16/10/1877. Giống như những người tiền nhiệm, ông đã tích cực áp dụng những biện pháp mà ông tin rằng đích đáng để bảo đảm hòa bình và thịnh vượng cho đất mới của Pháp. Ông rời chính quyền thuộc địa ngày 7/6/1879.

Ông [Lafont] chấm dứt một loạt các Thống đốc quân sự mà sự tận tâm, nghị lực và sự khôn khéo thận trọng đã cho phép bình định gần như toàn thể xứ này trong vòng 20 năm, đã khiến cho dân chúng của đất Nam Kỳ xưa thương yêu và kính trọng những nhà bảo hộ mới của họ, quốc gia mới của họ; và cuối cùng tạo điều kiện để thực hiện một việc làm đáng kể và lợi ích cho tiền đồ của xứ ta là sự thành lập chính phủ dân sự của ông Le Myre de Vilers, nhiệm chức từ ngày 7/6/1879.

[Nguyên văn: Le Contre-Amiral Lafont succeda au Contre-Amiral Duperré le 16 Octobre 1877. Comme ses prédécesseurs, il s’ occupa activement des mesures qu’ il croyait les plus propres à assurer la paix et la prospérité de la nouvelle terre francaise. Il a quitté le gouvernement de la colonie le 7 juin 1879.

Avec lui prend fin la série de gouverneurs militaires dont le dévouement, l’ énergie et la prudente habileté ont permis d’ arriver en vingt années à peine à la complète pacification du pays, à faire aimer et respecter aux habitants de l’ ancien pays de Nam-kỳ leurs nouveaux protecteurs, leur nouvelle patrie; à rendre possible enfin et capable d’ exercer une action considérable et bienfaisante sur les destinées du pays, le gouvernement civil, inauguré le 7 juin 1879 par M. Le Myre de Vilers. (Ibid., II:277-8)

Chỉ một đoạn kết này—có lẽ đã được thêm vào ở phút chót, hoặc ở lần tái bản năm 1879—tự nó nói lên quan điểm chính trị của Petrus Key.

Tóm lại, vì nhu cầu tài liệu huấn luyện các thông ngôn và cổ võ việc “bảo hộ” và “bình định” của Pháp, Cours d’ histoire annamite của Petrus Key không những thiếu phương pháp sưu tầm tài liệu, thiếu phương pháp viết sử, mà còn thiếu sự khách quan cần thiết. Thật khó thấy một dấu vết nhỏ của “science, conscience, modestie” như Nguyễn Văn Tố—người cùng Linh mục Léopold Cadière chịu trách nhiệm soạn thảo bộ Lịch sử đạo Thiên chúa ở Việt Nam năm 1944—đã ca ngợi.

Mark_03.gif (833 bytes) đọc tiếp : Kết từ

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........