curley_sw.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw.gif (1967 bytes)

.......... .
 

Kết từ:  

       Dù muốn dù không, Petrus Key đã thủ vai một tác nhân lịch sử, gắn liền với cuộc xâm lăng Việt Nam của Pháp. Khởi đầu sự nghiệp bằng nghề thông ngôn cho quân viễn chinh Pháp, 26 năm sau, Petrus Key xuất hiện tại Huế như một “ẩn sĩ” đặc phái viên tín cẩn của Tổng Trú sứ Bert, giữa lúc ngọn lửa Cần Vương (rebelles, theo lối diễn tả của Petrus Key) đang hừng hực từ Bình Thuận ra tới Hà Nội. Sau đó, phục vụ tại một số Hội đồng bản xứ Nam Kỳ.

Trong dòng lịch sử quốc dân, vì lý do nào đi nữa, Petrus Key và số thông ngôn đương thời—cùng những Trần Bá Lộc, Huỳnh Công Tấn, Trần Lục, Vũ Văn Báo, Hoàng Cao Khải, Nguyễn Thân, Cao Xuân Dục, v.. v...—sẽ được xếp hạng chung là những người hợp tác với Pháp từ buổi đầu. Cách này hay cách khác, họ đã trở thành và được người Pháp nhìn nhận như những khai quốc công thần của chế độ Bảo hộ Pháp.

Trường hợp Petrus Key, công trình sáng tác và trước tác khá đồ sộ, lại có cả sách bằng Pháp ngữ, nhưng chưa ai thực sự kiểm kê và lượng giá toàn bộ công trình của ông. Cần những nhà ngôn ngữ học chuyên nghiệp—không bị ràng buộc bởi mục tiêu chính trị giai đoạn hay lòng yêu ghét cá nhân, và đủ can đảm gạt bỏ thứ lý luận viển vông về những bản thảo không còn lưu truyền—làm việc trong một thời gian trên các tác phẩm còn lại của Petrus Key, mới đủ căn bản để lượng giá. Petrus Key, tôi nghĩ, chỉ là một thông ngôn giỏi trong thời ông, hơn một nhà ngôn ngữ học.

Riêng tác phẩm khá dày của Petrus Key về “bài giảng sử” bằng Pháp ngữ, khó thể gọi là một công trình sử học. Nó không có được giá trị của những cuốn thông sử như bộ Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca của Lê Ngô Cát mà Petrus Key sử dụng để viết từ thời Thượng cổ tới cuối nhà Lê, hay Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim. Đa số chi tiết đều là tin đồn, ngày tháng hỗn loạn. Khoảng thời gian từ nhà Tây Sơn đến vua Tự Đức—vì sử dụng truyền khẩu sử của các nhà truyền giáo Pháp và trên quan điểm hợp thức hóa tân trào—đầy rẫy sai lầm kỹ thuật cũng như sai lầm có tư tâm, bất chấp sự thực lịch sử. Nét độc đáo duy nhất là Petrus Key lấy năm sinh của Jesus Christ—đúng hơn, năm khởi đầu Tây lịch (thường gọi là dương lịch)—làm một dấu mốc phân chia thời đại của dòng lịch sử Việt. Sự phân chia này không những vô nghĩa, phi lý, chẳng dính nhập gì  với dòng  sử cổ Việt, mà còn hàm chứa tư tâm về tôn giáo hoặc thiết lập “tân trào” của Petrus Key. (Hy vọng rằng sẽ không có ai cung văn rằng Petrus Key đã biết sử dụng phương pháp “so sánh sử thế giới” [comparative world history] qua việc phân chia thời đại nói trên)

          Về những tựa sách khác, dù phẩm chất của khối tác phẩm này ra sao đi nữa, chúng trực hay gián tiếp là công cụ của kế hoạch xâm lăng văn hóa của Pháp và các nhà truyền giáo. (Là một công chức của chế độ Bảo hộ Pháp, Petrus Key được trả lương để soạn thảo chúng, hay được bảo trợ bằng cách mua sách phát không cho các trường học dùng làm tài liệu giảng dạy). Và khi biên soạn các sách trên, Petrus Key chỉ nhằm chủ đích “biến đổi và đồng hóa dân An-nam-mít” thành người Pháp, và nhồi sọ thanh thiếu niên Việt lòng biết ơn công khai hóa của Pháp.(Thư ngày 12/1/1882, Petrus Key gửi Hội đồng Quản hạt; Phiên họp năm 1882 của Conseil Colonial, 15/11/1882, tr. 14-5; Osborne 1969:137; Bùi Kha, “Trương Vĩnh Ký là ai?;” Giao Điểm, số 42 (Hè 2001), tr. 54-5)

Nhưng cũng cần nhấn mạnh, muốn đánh giá vai trò lịch sử của Petrus Key, phải đặt Petrus Key vào khoảng không thời mà ông ta đang sống, hơn chỉ sử dụng những khuôn thành kiến, phê bình cứng ngắc chính trị tính của thế hệ chúng ta như xấu và tốt, “ái quốc” hay “Việt gian.”

Đánh giá về vai trò văn hóa và giáo dục của Petrus Key, cũng cần thật công tâm, đừng ngại lời cáo buộc “cung văn” hay “đào mộ,” miễn hồ lý luận và sử dụng tài liệu một cách khoa học. Việc chữ quốc ngữ hiện nay được chấp nhận, không có nghĩa những người sáng chế ra nó, ở dạng thức rất đơn sơ, phải được tôn xưng để “uống nước nhớ nguồn.” Các giáo sĩ Portugal đã chỉ phát minh ra tiếng quốc ngữ hiện nay cho mục đích truyền giáo của họ. Cũng cần khẳng định thêm Alexandre de Rhodes không phải là người sáng chế ra chữ “quốc ngữ.” Trước Rhodes đã có ít nhất vài linh mục khác. Thêm nữa, những tác phẩm quốc ngữ đầu tiên của Petrus Key hay “Hùinh Tịnh” Paulus Của, v.. v... tự bản chất cũng chẳng khác gì những tác phẩm của nhóm Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, v.. v... sau này. Họ đã ăn lương chính phủ Bảo hộ Pháp để soạn thảo, phổ biến, ấn hành, hoặc hoàn tất chúng với mục đích thương mại (bán cho chính phủ Bảo hộ Pháp). Nên cũng thật dễ hiểu khi Petrus Key và nhiều người đương thời đứng trên quan điểm của người Pháp mà nói về “sự bình định xứ Nam Kỳ,” “những nhà bảo hộ mới,” hay “quốc gia mới” (nước Pháp). Nhưng quả thực có vẻ khó nghe khi Petrus Key tảng lờ cuộc kháng chiến chống Pháp hay gọi những lãnh tụ kháng chiến là “rebelles” [phiến loạn] trong các báo cáo bằng Pháp ngữ. Giống như Lê Tắc nhiều thế kỷ trước từng liệt kê các anh hùng dân tộc như Trưng Trắc, Triệu ẩu, Lý Bí (Bôn) v.. v... vào hàng ngũ “Bạn nghịch” [những kẻ phản nghịch].

[“Trắc oán, dữ muội Trưng Nhị phản, công lược lục thập ngũ thành, tự lập vi vương, Mã Viện trảm chi;” “Cửu Chân, Quân Ninh huyện nữ tử, thiếu bất giá, nhũ trường tam xích, trí ư bối ngoại, trước kim hạt xỉ lý, thừa tượng đấu dữ địch chiến, cư sơn trung, tụ đảng vi đạo, Giao châu thứ sử Lục Duệ tru chi;” “Bí phản, Tư bôn Quảng châu. Bí tiếm hiệu, trí quan kiến Vạn Xuân đài cư chi;” Lê Tắc, An Nam Chí Lược, bản dịch Trần Kính Hòa (Huế: Viện Đại học Huế, 1961), tr. 240-1]

Khoảng 50, 60 năm sau, một đạo hữu của Petrus Key là Ngô Đình Thục, xuất thân từ một gia đình trung gian bản xứ đi sau Petrus Key tại miền Trung, cũng lập lại tiếng “rebelles” này để chỉ phong trào Cần Vương của cụ Phan Đình Phùng và khoe thành tích hãn mã cho chế độ Pháp của cha mình là Ngô Đình Khả, chánh thông ngôn của Tòa Khâm sứ Huế. (Chính Đạo, VNNB, I-A: 1939-1946 [Houston: Văn Hóa, 1996], tr. 200)

          Nói cho cùng lý, Petrus Key và bao người đồng thời khác chỉ là sản phẩm của chế độ thực dân Âu châu nói chung, và trực hoặc gián tiếp là nạn nhân của chính sách thực dân Ki-tô/vật bản của Pháp. Chính vì thế mà mới có những trăn trở cuối đời Petrus Key về “công và tội,” khi thức ngộ được rằng dẫu có “đưa cả hai tay ra mà nắm lấy người Pháp” thì mình vẫn chỉ một thứ “người bản xứ được khai hóa” để phục vụ quyền lợi Pháp và Hội truyền giáo.

Bài học “người bản xứ được khai hóa,” “văn minh hóa” hay “Pháp hóa” này quốc dân Việt sẽ còn phải suy gẫm suốt thế kỷ XXI, nếu không phải lâu hơn.

Houston, tháng 11/2000-1/2002

Mark_03.gif (833 bytes) Phụ bản “Góp phần nghiên cứu về Petrus Key”

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........