curley_sw_03.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard curley_sw_03.gif (1967 bytes)

.......... .
 

d. Đèn xanh:

      Tại Sài Gòn, ngày 2/10, Trung tá "Lulu" Conein lại "vô tình" gặp mặt Đôn ở Tân Sơn Nhất. Hai người hẹn gặp nhau ở Nha Trang. Tối đó, Đôn cho Conein biết Big Minh muốn gặp Conein, và dàn xếp để hai người gặp nhau tại Bộ Tổng Tham Mưu Mưu ngày Thứ Bảy, 5/10, dưới danh nghĩa bàn về kế hoạch dời doanh trại LLĐB. Đôn cũng tiết lộ các Tướng đang chuẩn bị đưa đề nghị cho Ngô Đình Diệm để đưa quân nhân vào chính phủ. Tôn Thất Đính cũng đã ngả theo phe đảo chính.(FRUS, 1961-1963, IV:354-5)

      Đúng ngày 5/10—sau khi một tăng sĩ tự thiêu tại khu chợ Bến Thành—Conein đến gặp Big Minh trong trại Lê Văn Duyệt hơn một tiếng đồng hồ. “Big” Minh khẳng định không có tham vọng chính trị cá nhân, nhưng cảm thấy phải lật đổ ông Diệm bằng không miền Nam sẽ bại trận. Rồi đưa ra 3 giải pháp: (1) Duy trì Diệm, nhưng giết Nhu và Cẩn; (2) Bao vây Sài Gòn bằng một số đơn vị, kể cả Sư đoàn 5; hoặc, (3) Dùng vũ lực tấn công 5,500 quân trung thành của Diệm, rồi chiếm Sài Gòn.(VNNB, I-C: 1955-1963, tr. 364) Tướng Minh cũng nhấn mạnh không cần Mỹ yểm trợ, chỉ cần Mỹ không cản trở. Theo ông Minh, ba nhân vật nguy hiểm nhất của chế độ là hai anh em ông Nhu-Cẩn, và Ngô Trọng Hiếu. Bộ trưởng Công dân vụ Hiếu là một cán bộ CS, và vẫn còn liên lạc với CS. Ông Minh muốn ám sát 3 người này. Vì đã được lệnh của Lodge là không hứa hẹn gì, Conein chỉ nói sẽ báo cáo lên thượng cấp.(Gravel, II:767-8; FRUS, 1961-1963, IV:365-7, 367-8) Tuy nhiên, cả Lodge và Colby, Chánh Sở CIA Đông Nam á, không chấp thuận.

      Đại sứ Cabot-Lodge không mấy tin tưởng vì các Tướng đã một lần bỏ dở kế hoạch đảo chính ngày 1/9, nhưng vẫn “ngoảnh mặt làm ngơ” cho các Tướng Minh, Kim, Khiêm và Đôn ra tay. Lodge đề nghị với Oat-shinh-tân là nếu các Tướng tiếp xúc Conein trở lại, Conein sẽ được phép tuyên bố rằng chính phủ Mỹ không có ý định ngăn cản đảo chính, sẵn sàng nghiên cứu kế hoạch hành động, và sẽ tiếp tục ủng hộ chế độ mới. Đồng thời, Lodge xin giao trả Trưởng lưới CIA Sài Gòn là Richardson, người bị các Tướng nghi ngờ là thân anh em ông Diệm-Nhu. Theo William Colby, Lodge nghi  Richardson, và muốn cảnh cáo Diệm-Nhu, vì Nhu có giao tình chặt chẽ với Richardson. (Colby 1989, tr. 148-9) Hilsman cho rằng đây là một hành động cảnh cáo anh em ông Diệm-Nhu, không do thù hằn cá nhân.

      Ngày Thứ Bảy, 5/10, Kennedy đồng ý đề nghị giảm viện trợ cho chính phủ Diệm. Cắt bỏ tiền trợ cấp nhập cảng hàng hoá, và nhất là tiền duy trì Lực Lượng Đặc Biệt của Lê Quang Tung, cánh tay bạo lực của ông Nhu. Kennedy cho lệnh Lodge không được năng động khuyến khích đảo chính, mà chỉ giữ liên hệ bí mật để kiểm soát và sẵn sàng [nếu cần]. Cố vấn ANQG Bundy bèn gửi công điện (CAP 63560) cho Lodge, chỉ thị rõ ràng là không được tự ý khuyến khích đảo chính, nhưng được quyền giữ liên lạc với những người có khả năng thay thế lãnh đạo hiện nay. Nỗ lực này phải hoàn toàn được bảo mật, có thể chối bỏ được và tách biệt hẳn với những phân tích chính trị thông thường của Tòa Đại sứ. Đại sứ sẽ ra khẩu lệnh cho XLTV Trưởng sở CIA và giao cho viên chức này toàn quyền tiếp xúc. Mọi báo cáo về Oat-shinh-tân tuyệt đối phải qua hệ thống CIA. (Bundy gửi Lodge, 5/10/1963; US-Vietnam Relations, 1945-1967, Bk 12, tr. 574; FRUS, 1961-1963, IV:379)

      Thứ Hai, 7/10, tân Quốc Hội Việt Nam nhóm họp. Diệm đọc diễn văn khai mạc, không nhắc gì đến biến cố đang xảy ra, chỉ nhắc đến thành công trong dĩ vãng. Khen ngợi kết quả việc làm của Lệ Xuân tại Hội nghị Yugoslavia.

Nhưng những đột biến khiến bang giao Mỹ-Việt thêm căng thẳng. Lodge báo cáo về Oat-shinh-tân rằng Ngô Đình Nhu, trong bài phỏng vấn trên tờ Espresso của Italia, sẽ xuất bản ngày 10/10, tuyên bố miền Nam có thể sống còn dù có Mỹ yểm trợ hay không. Nhu chỉ cần các đơn vị trực thăng và tiền, không muốn binh sĩ Mỹ vì lính Mỹ không có khả năng đánh chiến tranh du kích. Ngay LLĐB do Kennedy thành lập cũng chẳng có giá trị gì. Nhu muốn Mỹ đối xử với Việt Nam như Yugoslavia, viện trợ tiền nhưng không can thiệp vào nội bộ. Diệm và Nhu chống lại việc đưa quân chiến đấu Mỹ vào miền Nam kể cả trong giai đoạn nghiêm trọng nhất trong mùa Đông 1961-1962. Cuộc chiến không thể thắng được với người Mỹ, vì người Mỹ cản trở sự chuyển biến cách mạng của xã hội, một điều kiện tiên quyết của chiến thắng. “Nếu người Mỹ cắt viện trợ, chưa hẳn đã là điều xấu.” Nếu cha vợ Nhu là Chương về Sài Gòn, Nhu nói, “Tôi sẽ cắt đầu y. Tôi sẽ treo cổ y giữa công viên và để xác y lủng lẳng ở đó. Vợ tôi sẽ thắt nút giây vì bà ta tự hào là người Việt Nam, và bà ta là một người yêu nước tốt.”(FRUS, 1961-1963, IV:385-6) ít ngày qua, Ngô Trọng Hiếu cũng tuyên bố “Chúng tôi không cần người Mỹ, trên cả phương diện kinh tế.”

      Phân tích diễn văn của Diệm, Lodge nghĩ rằng không thể loại bỏ vợ chồng Nhu một cách êm ả. Lodge cũng sợ rằng Diệm và Nhu không có cùng một mục tiêu như người Mỹ. Nhu có thể yêu cầu Mỹ triệt thoái. Nếu vậy, sẽ có đảo chính.(FRUS, 1961-1963, IV:385-6)

      Ngày 7/10 này, nhân viên CIA lại gặp Minh để hỏi thêm chi tiết về việc đảo chính.(IV:395n5) Hai ngày sau, Chủ Nhật 9/10, chính phủ Mỹ đồng ý không ngăn cản đảo chính, nếu chế độ mới hữu hiệu hơn trong nỗ lực chiến tranh. Nhưng Big Minh cần có kế hoạch chi tiết chứng tỏ có nhiều cơ hội thành công.(CĐ CAP 74228; FRUS, 1961-1963, IV:393. Pentagon Papers, Gravel Edition đề nhầm là ngày 6/10, vol II, tr. 769).

      Tại Sài Gòn, từ đêm 7/10, Công An, Mật vụ lại xục xạo bắt giữ 130 sinh viên, học sinh. Một số người chỉ mới được phóng thích trước đó ít ngày, sau khi chế độ bỏ Thiết quân luật (16/9/1963). Trong số những người đối lập bị bắt có Đàm Sĩ Hiến, Phó Tổng Liên đoàn Lao Công; Đại úy Đinh Thạch Bích, tùy viên của Thiếu tướng Văn Thành Cao; anh [em?] của Trung tá Bùi Kiện Tín, y sĩ riêng của Diệm.

      Không khí Sài Gòn thêm trầm trọng. Theo tình báo Mỹ, ba phụ nữ cũng bị bắt cóc từ một nhà thờ. Dù ba thiếu phụ trên không bị tra tấn, tại các nhà tù Mật vụ của Nhu tra tấn các nghi can bằng cách đánh đập hay dí điện vào bộ phận sinh dục. (Báo cáo ngày 9/10, Lodge gửi Rusk; FRUS, 1961-1963, IV:392)  Lại có tin Nhu dự định tổ chức học sinh biểu tình trước tòa Đại sứ và sử dụng 100 nhân viên tấn công Tòa Đại sứ ám sát Lodge, nhân viên sứ quán, và đốt Tòa Đại sứ. Theo tin này, Nhu sợ rằng không “nắm” được Lodge, muốn loại bỏ Lodge. Hôm sau, Lodge điện về Oat-shinh-tân, nói từ ngày nhận nhiệm sở, cứ khoảng 10 ngày là lại có tin sẽ bị ám sát. Nếu Lodge bị ám sát, chắc chắn do bàn tay của anh em ông Diệm-Nhu, và yêu cầu phải lật đổ ngay chính phủ Diệm.. (CĐ ngày 10/10/1963, Lodge gửi BNG; FRUS, 1961-1963, IV:394-5, 395n3) Tại Oat-shinh-tân, khoảng 11G10 ngày 10/10, khi điện thoại cho Harriman, McCone cho rằng phản ứng của Lodge có vẻ “hysterical” [hoảng hốt quá mức].

      Ngày 10/10, Conein trở lại trại Lê Văn Duyệt gặp ông Minh, thông báo chính phủ Mỹ sẽ tạm ngưng trợ cấp vài chương trình kinh tế, và cắt viện trợ cho Lực Lượng Đặc Biệt của Lê Quang Tung, nếu lực lượng này chưa đặt dưới quyền chỉ huy của Bộ Tổng Tham Mưu. Tuy nhiên, Conein nhấn mạnh Mỹ không khuyến khích mà cũng không bẻ gãy đảo chính.

      Một tuần sau, 17/10, Tướng Richard G. Stilwell, Trưởng Khối Hành Quân (J-3) của MACV, thông báo với Nguyễn Đình Thuần việc cắt viện trợ cho LLĐB. Hai ngày sau nữa, 19/10, Harkins viết thư cho Diệm, thông báo ngân khoản duy trì LLĐB bị cắt. Ngày Thứ Hai, 21/10, Stilwell báo cho Lê Quang Tung biết phải nhận lệnh từ Bộ TTM; bằng không sẽ không trả lương. Tung giận dữ đòi giải tán các đơn vị Biệt kích Dân sự, nhưng Stilwell cho biết đó là chính sách của chính phủ Mỹ. Tung đành tuân hành.

      Ngày 19/10 này,   Lodge báo cáo về Oat-shinh-tân rằng chế độ Diệm vẫn chưa chịu nhượng bộ trước áp lực kinh tế và LLĐB. Đại học Huế đã được mở cửa trở lại, nhưng chỉ có khoảng 60-70% sinh viên đến lớp. Đại học Sài Gòn vẫn đóng cửa. Về vấn đề Phật Giáo, anh em Diệm-Nhu coi như đã giải quyết xong; phóng thích khoảng hơn 100 Phật tử ở Huế, nhưng vẫn giam những tăng sĩ lãnh đạo. Các chùa đã giải tỏa, nhưng Phật tử không dám đến dự lễ. Không có dấu hiệu nào chế độ sẽ nhanh chóng rút lại Nghị Định số 10. Lùng bắt ban đêm vẫn tiếp tục. Nhân viên Tòa Đại sứ tiếp tục bị gây khó khăn hay bắt giữ. Chế độ vẫn mở chiến dịch tuyên truyền chống Mỹ.(FRUS, 1961-1963, IV:409-13)

      Những biện pháp tuyên bố sẽ rút quân, ngưng viện trợ kinh tế và tạm ngưng trả lương LLĐB cho tới khi đặt dưới quyền điều động của Bộ Tổng Tham Mưu của Mỹ khiến nhóm Tướng Minh hiểu rằng quả thực người Mỹ không cản trở đảo chính. Họ liền bắt tay vào việc. Số người xin tham gia cũng ngày một đông, kể cả Tướng Tôn Thất Đính.

      Tuy nhiên, vì sống đã quá lâu dưới sự kềm tỏa của an ninh, mật vụ, các Tướng không hoàn toàn tin tưởng ở nhau. Kim và Đôn không tin Khiêm. Đính cũng luôn luôn bị nghi ngờ. Các Tướng đảo chính đã gài người quanh Đính, và được mật lệnh giết Đính ngay nếu có ý khác. Hai người duy nhất không được móc nối là Tướng Huỳnh Văn Cao và Đại tá Hồ Tôn Quyền, Tư lệnh Hải Quân.

      Ngày 20/10, vì một lý do nào đó Trung tá Nguyễn Khương bỗng tiết lộ với một sĩ quan Mỹ là đang âm mưu đảo chính. Nhóm này gồm 4 tướng và ít nhất 6 cấp tá tham dự. Trong số các tướng có Dương Văn Minh, Lê Văn Nghiêm, Lê Văn Kim, Đại tá Nguyễn Văn Thiệu, Phạm Văn Đổng và Khương.(IV:419-20) Tiết lộ bất ngờ này khiến Tướng Harkins cực kỳ giận dữ. Harkins vốn chủ trương ủng hộ ông Diệm, nên ngày 22/10 nhân dịp cùng tham dự một dạ tiệc ở Tòa Đại sứ Bri-tên, Harkins khuyên André Đôn nên chú tâm vào hành quân diệt Cộng hơn đảo chính.(Our Endless War, tr. 98)

      Nguyên nhóm Tướng Minh dự trù sẽ ra tay trong tuần lễ Quốc Khánh (26/10/1963), khi các đơn vị về thủ đô dự lễ diễn hành. Vì Cabot-Lodge dấu không cho Tướng Harkins biết chi tiết, nên mới xảy ra việc Harkins cảnh cáo Đôn ngày 22/10. Hôm sau, 23/10, cũng tại một dạ tiệc của Tòa Đại sứ Bri-tên, André Đôn báo cho Conein biết phải tạm đình hoãn kế hoạch ra tay, và yêu cầu Mỹ minh xác lập trường.(Ibid., tr. 98; CĐ số 1896, ngày 23/10/1963; JFKL, National Security Files, Vietnam Country, Series CIA Reports) Ngay trong ngày này, Lodge giải thích cho Harkins biết về lệnh bí mật từ Kennedy là không ngăn chặn đảo chính. Harkins bèn gặp Đôn, xin lỗi, nhưng khẳng định các cố vấn sẽ không dính líu gì đến đảo chính. (FRUS, 1961-1963, IV:Tài liệu 213, 214) Ngày 24/10, khi gặp lại Conein, Đôn nói đã gặp Harkins, nhưng vì Nhu đã có chuẩn bị, nên chỉ ra tay trước ngày 2/11. Tối đó,  Đôn lại nói với Conein là các Tướng đảo chính chỉ chịu cho một mình Lodge coi kế hoạch chi tiết 48 giờ trước khi khởi sự.

Tại Oat-shinh-tân, biến cố Trung tá Khương khiến Cố vấn ANQG Bundy không an tâm. Ngày 24/10, Bundy gửi điện văn cho Lodge và Harkins, bày tỏ nỗi lo ngại rằng Nhu đang dùng Đôn để gài bãy Mỹ, và yêu cầu thay Conein bằng một trung gian khác. (FRUS, 1961-1963, IV:Tài liệu 211) Nhưng Lodge yêu cầu Bundy cho tiến hành đảo chính. Vấn đề thay Conein khó khăn vì Conein đã quen Đôn từ 18 năm qua, và Đôn chỉ tin tưởng Conein. Phần Lodge, để tránh rắc rối, từ chối gặp Đôn. Lodge tin rằng không sợ Nhu gài bẫy, vì liên lạc giữa Conein và Đôn chưa đủ khẳng định sự dính líu của Mỹ vào âm mưu đảo chính. Lodge sẽ giữ thái độ không ngăn cản cuộc đảo chính, nhưng biết rõ mọi chi tiết diễn biến. Theo Lodge, đảo chính là phương tiện duy nhất để dân VN thay chính quyền. Lời hứa sẽ theo đuổi một chính sách không kỳ thị tôn giáo của Đôn đáng khen ngợi, và ý muốn không biến Nam Việt Nam thành một "chư hầu" (vassal) của nước Mỹ cũng rất đáng ủng hộ. Dù thể chế dân chủ còn qúa mới mẻ với Việt Nam, các Tướng đã đi quá xa trong việc chuẩn bị. Theo Lodge ví thử chính phủ mới có vấp ngã vì thiếu kinh nghiệm vẫn còn hơn chế độ hiện tại.(FRUS, 1961-1963, IV, tài liệu 216; In Retrospect, tr. 80)

      Ngày 25/10, Cố vấn ANQG Bundy vẫn còn ngần ngại về việc uy tín Mỹ nếu đảo chính thất bại, nhưng tái khẳng định mối quan tâm nhất của Mỹ là không muốn bị cáo buộc là liên hệ đến đảo chính. (Ibid., IV, tài liệu 217)

      Ngày 28/10, Tướng Đôn nói với Conein là hôm sau, 29/10, sẽ ra Quân Khu I và II để liên lạc Đỗ Cao Trí và Nguyễn Khánh, qua hình thức gắn huy chương. Tôn Thất Đính, theo Đôn, không hề tham dự vào đảo chính. Đính đang bị Nhu nghi ngờ vì những cuộc cãi vã trong thời gian làm Tổng trấn Sài-gòn. Hiện Đính bị bao vây bởi những người muốn đảo chính, và họ được lệnh hạ sát Đính nếu Đính có lòng dạ khác. Về các đơn vị tham dự đảo chính, Đôn nói không phụ trách việc này. Lê Văn Kim lo mọi kế hoạch chính trị, trong khi kế hoạch quân sự nằm trong tay những người khác. (Lodge nghĩ rằng có thể trong tay Dương Văn Minh. Thực ra, Trần Thiện Khiêm lo liệu)

      Chiều ngày Thứ Ba, 29/10 [sáng ngày 30/10/1963 VN], trong phiên họp đặc biệt tại Bạch Cung về Việt Nam, Kennedy vẫn chưa tán thành đảo chính; nhưng cho Lodge toàn quyền quyết định. Kennedy còn cho lệnh Lodge về Oat-shinh-tân tham khảo. (FRUS, 1961-1963, IV, tài liệu 234, 235)

      Dĩ nhiên, anh em ông Diệm cũng đoán biết các Tướng đang âm mưu đảo chính. Việc ngưng viện trợ kinh tế và áp lực phải đặt LLĐB dưới quyền Bộ Tổng Tham Mưu là những dấu hiệu quá rõ ràng. Nhưng anh em ông Diệm hầu như bất lực. Việc hủy bỏ Thiết quân luật ngày 16/9 chẳng giúp chế độ tăng thêm uy tín. Chính sách đàn áp tôn giáo ngày một bị chỉ trích bởi ngay cá nhân Kennedy. Liên Hiệp Quốc đã cử một phái đoàn qua điều tra. Người bạn Đồng Minh Pháp tưởng chừng đáng tin cậy trong ảo vọng hiệp thương, thống nhất, trung lập ngày một lạnh nhạt, nếu không phải bất lực (hoặc không muốn giúp). Những người thân thuộc xa lánh dần hay bị gạt bỏ. Những Trần Kim Tuyến, Võ Văn Hải, Nguyễn Đình Thuần, v.. v... bị đưa ra ngoại quốc hay rình mò chặt chẽ. Ngay đến cháu rể ông Diệm-Nhu là Trần Trung Dung cũng ngừng ủng hộ chế độ. Khi được nhân viên CIA tiếp xúc ngày 25/10, ông Dung thú nhận biết rõ về các Tướng mưu đảo chính do Big Minh, Đôn và Kim cầm đầu. Nhưng theo ông Dung, mặc dù chế độ cần thay đổi, các Tướng không đủ khả năng cai trị. Ngoại trừ Big Minh, Kim và Phạm Xuân Chiểu, các Tướng "chẳng là gì khác hơn những Trung sĩ do Pháp huấn luyện trong binh phục Tướng lãnh."  Ông Dung đề nghị Nguyễn Ngọc Thơ làm Tổng thống, Phan Huy Quát, Thủ tướng. Bộ trưởng có thể mời Trần Văn Lý (Nội vụ), Phan Quang Đán, Trần Văn Tuyên, Phan Khắc Sửu. Trong số những người lưu vong nên mời Nguyễn Ngọc Bích (Kỹ sư, người Nam), Nguyễn Hữu Châu, Nguyễn Tôn Hoàn. Hai nhân vật khác, Hoàng Cơ Thụy và Phan Huy Cơ, là "những kẻ vô dụng." Ông Dung cũng công khai đả kích chế độ Diệm và Lệ Xuân. (FRUS, 1961-1963, IV, tài liệu 229)

      Người duy nhất lên tiếng bảo vệ ông Nhu là Bửu Hội. Ngày 2/10, khi được Ngoại trưởng Rusk tiếp kiến, Bửu Hội ra sức bênh vực Nhu. Theo Bửu Hội,  Nhu tối thiết cho chính phủ, còn Lệ Xuân có thể loại bỏ, và Giáo hoàng sẽ thay Tổng Giám Mục Thục.

Ngay đến Cao Văn Viên, Liên đoàn trưởng Nhảy Dù, cũng tâm sự với cố vấn Mỹ là Nhu phải ra đi. Vũ khí duy nhất còn lại của anh em ông Diệm-Nhu chỉ còn tờ  Times of Vietnam, các cơ quan mật vụ và một số đơn vị của Lữ Đoàn Phòng vệ Tổng thống phủ.

      Tại Sài Gòn, ngày Thứ Bảy 19/10, Times of Vietnam đăng bài phỏng vấn Ngô Đình Nhu thực hiện hai ngày trước, Thứ Năm, 17/10. Theo Nhu, dân chúng Việt Nam đã mất tin tưởng ở chính phủ Mỹ. Một số tăng sĩ bị bắt khai rằng “nửa tá” nhân viên tình báo Mỹ và những người làm việc cho các cơ quan dân sự Mỹ đã xúi họ nổi dạy và làm đảo chính. Nhu không rõ các nhân viên CIA trên có nhận lệnh thượng cấp hay chăng, nhưng trước ngày cuộc tranh đấu Phật giáo bùng nổ, Nhu làm việc chặt chẽ với cơ quan CIA trong các kế hoạch như ấp chiến lược. Nhu cho rằng Mỹ muốn biến Nhu thành dê tế thần trong vụ Phật giáo này. Mỹ không thể cắt viện trợ đột ngột như hiện nay, mà nên theo giai đoạn, vì Việt Nam không dự định nhận viện trợ mãi mãi. Vì viện trợ bị cắt, Nhu phải làm giống những gì Cộng Sản đã làm. Nhu muốn chương trình viện trợ cho Việt Nam sẽ giống như kế hoạch lend-lease (ứng trước, trả lại tiền sau) để bảo vệ tư cách và khuyến khích ý thức trách nhiệm về việc trả nợ. Về ủy Ban Điều Tra LHQ, Nhu nói không muốn giặt chăn bẩn trước dư luận về việc CIA xúi dục Phật Giáo chống chính phủ, trừ trường hợp chính phủ Mỹ muốn “giết chúng tôi” qua ủy Ban này. (Ibid., IV:415-8)

      Dĩ nhiên, còn hai phát ngôn viên lưu động khác ở Roma và Mỹ. Nhưng uy tín Thục đã xuống bùn đen. Lệ Xuân thì trở thành một mục tiêu châm biếm và khiêu khích của báo chí Mỹ. Ngày 7/10, Lệ Xuân đã tới Mỹ “giải độc”—đúng hơn là trải độc thêm vào dư luận Mỹ. Chanh chua lập lại lời miệt thị những vụ tự thiêu là "nướng thịt sư," và đề nghị sẽ biếu không xăng cùng hộp quẹt nếu các phóng viên muốn bắt chước họ tự thiêu. (Colby 1989, tr. 149) Chống đối, sỉ nhục, riễu cợt xảy ra bất cứ nơi nào. Cựu Đại sứ Trần Văn Chương, dù từng bị ông Nhu đe dọa sẽ treo cổ ở bùng binh Sài Gòn, nhưng đang nuôi tham vọng nắm được chức Thủ tướng và muốn loại bỏ nhà Ngô, theo sát chân con gái để đả kích đứa con “lăng loàn.”

      Mỗi ngày, báo chí Mỹ đều có bản tin về Lệ Xuân. Hầu như hết đề tài, Lệ Xuân bắt đầu đả kích cả những cố vấn của Kennedy là “pinks.” Ngày 21/10, Lodge phải đề nghị tiếp tục ngưng viện trợ nhập cảng cho tới khi chuyến “giải độc” của Lệ Xuân chấm dứt.

      Điều gây nhiều nghi vấn nhất là mưu toan làm đảo chính của Albert Phạm Ngọc Thảo, nhân vật thân tín của chế độ. Mặc dù tin tình báo về việc nhóm ông Thảo/Lang dự định đảo chính vào ngày 24/10 không đúng sự thực, hoặc bị hoãn bỏ nửa chừng, nó khiến cơ quan tình báo Mỹ cũng như ngay chính các Tướng không khỏi lo ngại.

      Ngày 26/10, CIA Mỹ được tin Phạm Ngọc Thảo và Trần Kim Tuyến đang âm mưu đảo chính. Theo Colby, Thảo, Tuyến cùng các lãnh tụ Ki-tô muốn thay thế Diệm, vì Diệm đã hết "Thiên Mệnh Liên Bang Mỹ". (Colby 1989:150) Ngày 28/10, Đôn nói với Conein Thảo là người của Thục và Nhu, bị Đại tá Đỗ Mậu, Giám đốc ANQĐ, nghi ngờ.

      Ngày 29/10,   Lodge báo cáo về diễn tiến kế hoạch đảo chính: âm mưu đảo chính của nhóm Phạm Ngọc Thảo và những người khác tạo bất lợi cho kế hoạch của các Tướng. Mỹ không dính líu vào cuộc đảo chính, chỉ không ngăn chặn nó. Dù đảo chính thành công hay thất bại, Mỹ phải sẵn sàng gánh chịu lời phê bình. (FRUS, 1961-1963, IV, tài liệu 226)

e. Ước muốn làm hòa của ông Diệm:

      Khi tất cả những thủ thuật “blackmail” đã dở ra hết đều thất bại, ông Diệm bèn đổi sang thái độ hòa hoãn, hầu cứu vãn tình thế. Ngày 24/10, ông Diệm chính thức mời vợ chồng Lodge lên Đà-lạt nghỉ ngày Chủ Nhật, 27/10. Oat-shinh-tân đồng ý. Ngày 25/10, Ball chỉ thị cho Lodge nên thảo luận về vấn đề hành quân, ấp chiến lược, phóng thích Phật tử và sinh viên tranh đấu, những lời tuyên bố chống Mỹ của các viên chức như Nhu, v.. v... (FRUS, 1961-1963, IV, tài liệu 218)

      Nhưng chuyến nghỉ cuối tuần tại Đà Lạt chẳng thay đổi được những cảm nhận của Lodge về con người “dễ thương, tốt,” "nhưng bị cắt đứt với hiện tại, sống trong quá khứ, không có cảm xúc gì về dân chúng và hết sức cứng đầu." (FRUS, 1961-1963, IV:442) Ông Diệm chỉ nín lặng khi Lodge yêu cầu ông Diệm cho phép ủy Ban Điều Tra Liên Hiệp Quốc được tiếp xúc với Thượng tọa Trí Quang, phóng thích tù chính trị, hay thái độ hung hăng của vợ Nhu khi giải độc ở Mỹ (lập lại lời cáo buộc nướng thịt sư, tự hào rằng ông Diệm không được đám đông ủng hộ, phải nhờ vả vào vợ chồng mình). Cuối cùng Lodge phải hỏi:

      Ông Tổng thống, bất cứ một đề nghị đơn giản nào của tôi ông cũng bác bỏ. Có một việc nào ông nghĩ, trong khả năng ông có thể làm, để gây thiện cảm với dư luận Mỹ?

Ông Diệm lại chỉ nhìn Lodge, không biết đối đáp ra sao. Và Lodge đi đến quyết định là không thể làm việc với Diệm được nữa, loại người mà Lodge đánh giá như “dối trá và tội phạm” [liars and criminals].(FRUS, 1961-1963, IV, tài liệu 221; Gravel, II:219; Colby 1989:149)

      Trong khi đó, tại Sài Gòn, tăng thứ bảy tự thiêu đòi bình quyền tôn giáo. Nhận hiểu tình hình đã nghiêm trọng, ngày 28/10, ông Diệm sai Bộ trưởng Nguyễn Đình Thuần nhân dịp tham dự bữa ăn trưa tại Viện Nguyên tử, Đà-Lạt, hỏi thẳng Lodge là cần phải làm gì để vui lòng Mỹ. Lodge nói cần phóng thích tù chính trị (kể cả Phật giáo), mở cửa các trường học, rút lại Dụ số 10 về các hội đoàn, đừng che dấu ủy ban Điều tra của LHQ, hầu đặt VNCH trong dư luận tốt đẹp hơn của thế giới. Lodge còn nhấn mạnh rằng Mỹ không muốn bị đánh giá như đang ủng hộ một chế độ độc tài; nếu ông Diệm không thay đổi, thái độ hiện nay của Mỹ cũng sẽ không thay đổi. (FRUS, 1961-1963, IV:441-2)

      Tuy nhiên, mãi tới sáng ngày 1/11, ông Diệm mới nỗ lực dàn xếp để được gặp riêng Lodge tại Dinh Gia Long sau buổi tiếp kiến Đề đốc Harry Felt, Tư lệnh Thái Bình Dương. Trong buổi tâm sự kéo dài khoảng 20 phút này, ông Diệm than thở rằng nhân viên CIA cấp thấp đầu độc không khí bằng cách loan tin đảo chính. Một trong các nhân viên này, Hodges, mới đây nói với Bộ Tham Mưu rằng chính phủ đang tổ chức một cuộc biểu tình trước Tòa đại sứ; nếu vậy, hạm đội số 7 sẽ đổ bộ. Diệm nói rằng kẻ thù sẽ lợi dụng những tin đồn đó. Ngày 23/10, tìm thấy trên hai tử thi Việt Cộng kế hoạch đánh chiếm Sài-gòn nếu có đảo chính. Mỹ hoàn toàn sai lầm khi ngưng viện trợ cho LLĐB. Chính Bộ TTM đã trực tiếp điều động LLĐB tấn công các chùa ngày 21/8/1963, sau khi các Tướng cao cấp đã trực tiếp nói với Diệm việc này cần thiết. (FRUS, 1961-1963, IV, tr. 515)

      Về vấn đề Phật Giáo, theo ông Diệm:

(1) Các nhà sư—do các nhân viên Mỹ xúi dục—đã gặp Ủy Ban Điều Tra LHQ và thú nhận rằng họ bị Mỹ "thuốc" [intoxication]. Một sư tự khai đã ngụy tạo tài liệu; một sư khác thú nhận chính mình đã tung tin sẽ có đảo chính, và tiết lộ một số tên nhân viên Mỹ. Ủy ban Điều tra LHQ muốn có tên những người Mỹ này, nhưng Ngô Đình Nhu không tiết lộ. VNCH không muốn giặt chăn bẩn trước công chúng.

(2) Một số sinh viên, học sinh làm việc với Cộng Sản dự định ném lựu đạn và chất nổ vào phái đoàn LHQ. Vì vậy Diệm phải đóng cửa các đại học. Nhưng từ từ các trường sẽ mở cửa trở lại sau khi phái đoàn LHQ rời nước.

(3) LLĐB đã đặt dưới quyền điều động của Bộ TTM.

(4) Về việc cải tổ chính phủ, biết đưa ai vào? Bất cứ lúc nào Diệm đề cập đến vấn đề này, chẳng ai đưa ra được những tên xứng đáng. Hơn nữa, còn vấn đề thời điểm rất quan trọng. Diệm dự định sẽ cải tổ chính phủ khi hợp thời [at the proper time].

(5) Về trường hợp Ngô Đình Nhu, ông Diệm yêu cầu Lodge hãy hỏi William Colby và cựu Đại sứ Nolting về em trai mình. Nhu không ưa quyền hành, nhưng cởi mở và luôn luôn có những lời khuyên tốt cho bất cứ ai muốn hỏi ý kiến. Mỗi khi gặp khó khăn, Nhu luôn luôn tìm ra một giải pháp. Colby từng nói với Diệm rằng không nên để Nhu sống trong tháp ngà, mà phải xuất đầu lộ diện nhiều hơn. Nolting cũng đồng ý. Vì áp lực của họ mà Nhu đã xuất đầu lộ diện trước công chúng. Nhưng dân chúng lại cho rằng Nhu muốn tranh đoạt quyền hành, và tiếng xấu lại bắt đầu.

Khi Lodge đứng dạy cáo từ, ông Diệm nói:

Làm ơn nói với Tổng thống Kennedy rằng tôi là một đồng minh tốt và thẳng thắn [good and frank ally]. Tôi muốn bộc trực và giải quyết các vấn nạn bây giờ hơn là nói về chúng sau khi chúng ta đã mất tất cả. (Câu này giống như đề cập đến cuộc đảo chính có thể xảy ra). Nói với Tổng thống Kennedy rằng tôi nghiêm túc ghi nhận những đề nghị của ông ta và muốn thực hiện chúng nhưng chỉ còn vấn đề thời điểm (timing)."

      Tóm lại, ông Diệm xuống giọng cam đoan sẽ làm bất cứ những gì chính phủ Mỹ muốn. (Ibid., tr. 380-1; FRUS, 1961-1963, IV, 516-517) Nhưng quá trễ. Đại sứ Lodge đã có quyết định. Và các Tướng đang chuẩn bị ra tay bắt giữ tất cả những người bị nghi là trung thành với ông Diệm trong một phiên họp đặc biệt ở Bộ Tổng Tham Mưu. Nên Lodge chỉ nói với ông Diệm, không dấu vẻ mỉa mai, rằng những lời đồn về việc ám sát Lodge không làm cho lòng ngưỡng mộ và tình bạn với ông Diệm hay Việt Nam bị ảnh hưởng. (FRUS, 1961-1963, IV, 516-517)

      [Có tác giả trách ông Lodge đã không gửi về Oat-shinh-tân theo lối hỏa tốc [flash] mà lại gửi theo mức bình thường khiến ông Diệm phải chết. Một người có óc suy lý trung bình thôi cũng không thể không tự hỏi cách nào Lodge dám thả mồi (kế hoạch đảo chính đã trù liệu từ hơnn hai tháng trước] để bắt lấy cái bóng [lời hứa của ông Diệm]—những lời hứa mà ít khi anh em ông Diệm-Nhu giữ lời với Mỹ; vì thế ông Lodge từng đánh giá anh em ông Diệm-Nhu là những người dối trá và tội phạm. Hơn nữa, cuộc đảo chính chỉ còn khoảng hơn một tiếng đồng hồ nữa sẽ khởi sự, cả danh dự cá nhân Lodge và nước Mỹ đang bị đặt lên chiếu bạc. Ngoài ra, với vị thế một lãnh tụ nổi danh, ông Lodge khó thay đổi cái quyết định “không thể làm việc được” với họ Ngô nữa].

      Thời gian này, tưởng nên ghi nhận, Tướng Harkins vẫn không muốn đảo chính. Ngày Thứ Tư, 30/10, Harkins gửi cho Oat-shinh-tân 3 công điện, giận dữ phản đối thái độ của Lodge khi dấu kín ông ta mọi sự. Harkins không muốn "thay ngựa" quá mau. Vì vậy, kế hoạch đảo chính ông Diệm bị tạm thời đình hoãn; nhưng sau đó lại tiến hành.

Đại sứ Lodge cũng tạm đình hoãn chuyến về Mỹ vào ngày Thứ Năm, 31/10, để tham khảo mà Kennedy đã cho lệnh để theo dõi diễn biến cuộc đảo chính.

c. Có người cáo buộc ông Minh và các Tướng làm đảo chính vì tiền.

Vợ chồng ông Nhu và cơ quan mật vụ của chế độ  tung ra loại tin này từ mùa Hè 1963. Tờ Times of Vietnam ở Sài Gòn là dụng cụ tuyên truyền công khai. Ngày 2/9/1963, chẳng hạn, Times of   Vietnam tung tin CIA đã bỏ ra từ 10 tới 24 triệu Mỹ kim để tổ chức đảo chính, nhưng bị thất bại. Năm ngày sau, khi vừa đặt chân tới Roma, Tổng Giám mục Thục cũng dùng lập luận trên, cáo buộc CIA đã sử dụng tới 20 triệu Mỹ kim để mua chuộc các nhóm phản loạn làm đảo chính. (Ông Thục còn đi xa hơn nữa, tuyên bố rằng các tăng Phật giáo đã bị giết bằng búa mà không phải tự thiêu—những lời tuyên bố khiến tân Giáo hoàng Paul VI (1963-1978) đột ngột bãi bỏ buổi triều kiến dự định vào ngày 9/9/1963; FRUS, 1961-1963, IV:Tài liệu 77).

      Theo Tướng Đôn, ngày 28/10, Trung tá Conein đề nghị yểm trợ tiền và vũ khí, nhưng Đôn từ chối. (Endless War, tr. 98-9). Theo một tài liệu Thượng viện Mỹ, Conein giao cho các Tướng lãnh 42,000 Mỹ kim [khoảng hơn 3 triệu đồng Việt Nam], sáng ngày 1/11/1963. (Select Committee to Study Government Operations, Alleged Assassination Plots Involving Foreign Leaders [Rept. 94-465, Senate, 94th Congress, 1st Session], tr. 222)

      Thực ra, số tiền 42,000 Mỹ kim này quá nhỏ và hình như chỉ để mua chuộc vài ba Tướng thân cận của ông Diệm. (VNNB, I-C: 1955-1963, tr. 347-8, 374)

      Tóm lại, cuộc đảo chính 1/11/1963 do Tướng Minh cùng một số chiến hữu chủ trương. Tuy nhiên, ông Minh chỉ có thể ra tay khi người Mỹ không còn ngăn cản, hoặc rút lại sự bảo vệ chế độ. Chẳng hiểu vì không biết sự thực, hay biết mà vẫn cố tình bẻ cong lịch sử, một số người bênh vực chế độ Ngô Đình Diệm mạnh miệng cáo buộc Tướng Minh và những người tham dự cuộc đảo chính (hay cách mạng, nếu muốn) là đã nhận lệnh “quan thày Mỹ” để lật đổ ông Diệm.

D. Sự hợp hiến của Đệ Nhất VNCH:

      Vài người, như để chứng tỏ khả năng luật pháp của mình, còn đi xa hơn nữa, kết tội ông Minh “xóa bỏ chế độ hợp hiến Đệ nhất VNCH.”

Thực ra miền Nam Việt Nam, hay Việt Nam Cộng Hòa, chẳng bao giờ là một chế độ hợp hiến. Hiệp định Geneva ngày 20-21/7/1954 qui định rằng hai phe lâm chiến (tức Việt Minh và Pháp/Quốc Gia Việt Nam) tạm thời tập trung tại hai miền Bắc và Nam của vĩ tuyến 17 (sông Bến Hải); chờ ngày Tổng tuyển cử sẽ được tổ chức trong vòng 2 năm để chọn lựa thể chế chính trị cho cả hai miền. Phe Quốc Gia Việt Nam của Bảo Đại cực lực chống đối, nhưng bất lực, chỉ ghi vào hồ sơ ký kết Hiệp định là phản đối. May mắn thay, chính phủ Eisenhower cũng không chấp nhận Hiệp định Geneva, và muốn biến miền Nam Việt Nam thành một “nước” biệt lập với miền Bắc. Mục đích của người Mỹ là muốn tạo nên một tiền đồn chống Cộng, trong cuộc chiến tranh lạnh Mỹ-Nga; theo kiểu Bắc-Nam Hàn, hay Đông-Tây Germany. Nói cách khác, sự “hợp hiến” của các chế độ miền Nam chỉ thuần là sản phẩm của cuộc chiến tranh lạnh Mỹ-Nga. Hoặc, sự hợp hiến của chế độ miền Nam hoàn toàn sống ký sinh trên viện trợ Mỹ. Ngày nào chính phủ Mỹ còn ủng hộ và viện trợ, ngày ấy VNCH còn hợp hiến.

Thoạt tiên, cả Pháp lẫn Bảo Đại đều đồng ý giải pháp “hai Việt Nam.” Bri-tên, một trong hai nước đồng Chủ tịch Hội nghị Geneva, cũng xuôi theo. Nhưng anh em ông Diệm-Nhu lại nuôi tham vọng tập trung quyền lực trong tay, loại bỏ các giáo phái và các tổ chức chính trị độc lập. Bước đầu để nhất thống quyền lực này là loại bỏ Tướng Nguyễn Văn Hinh, cùng những thành phần thân Pháp, hầu nắm gọn quân đội. Do sự can thiệp của Mỹ, cả Pháp lẫn Bảo Đại đồng ý.

      Bước kế tiếp, ông Diệm muốn thu nắm quyền chỉ huy Cảnh sát-Công an, và loại bỏ tổ chức Bình Xuyên của Lê Văn “Bảy” Viễn. Đồng thời, chuẩn bị loại bỏ cả giáo phái Hòa Hảo ở miền Tây. Chính phủ Pháp không hài lòng, yêu cầu Oat-shinh-tân phải thực hiện lời hứa thay thế ông Diệm.  Đặc sứ Mỹ Collins đồng ý với Pháp; nhưng Eisenhower chưa muốn thay ngựa. Khi Quốc trưởng Bảo Đại muốn cách chức ông Diệm, anh em ông Diệm bèn tổ chức cuộc “trưng cầu dân ý” ngụy tạo ngày 23/10/1955, rồi tự xưng làm Tổng thống nền Đệ Nhất Cộng Hòa (1955-1963).

Nói cách khác, ông Diệm cũng chỉ cướp ngôi của Bảo Đại, nhờ sự yểm trợ của Mỹ; sự yểm trợ mà Bảo Đại đã cay đắng oán trách là “mù lòa.” Quốc Hội mà ông Diệm triệu tập chỉ một trò chơi dân chủ trá hình, qui tụ những thành phần thích bẩm, xin, gọi ông Diệm bằng “Cụ” xưng “con.” Bản Hiến pháp 1956, gồm những điều mà viên chức Mỹ đánh giá như “pháp luật tiểu thuyết” (kiểu “bắt giữ bất hợp pháp” hay “nhân quyền”), và ngay chính chế độ VNCH (hậu thân của Quốc Gia Việt Nam) chẳng có một chút giá trị công pháp quốc tế nào nếu không có sự yểm trợ của siêu cường Mỹ. Một khi người Mỹ rút lại sự yểm trợ, chế độ Diệm chẳng còn cách nào tồn tại, về pháp lý cũng như trên thực tế.  

arrow.gif (848 bytes) Phân đoạn III: E. Tại sao có cuộc tranh đấu của Phật giáo?

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: hopthu@giaodiem.net

. ..........