curley_sw_03.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard curley_sw_03.gif (1967 bytes)

.......... .
 

2. Cuộc đảo chính ngày 1/11/1963:

       Sau khi các Tướng tạm ngừng đảo chính,  người Mỹ chẳng có lựa chọn nào khác hơn tiếp tục liên hệ với chính phủ Diệm. Một mặt, Oat-shinh-tân thực hiện kế hoạch “áp lực và thuyết phục” [Pressures and Pursuasion Track].(Hilsman, To Move A Nation, tr. 508) để loại anh em ông Diệm. Mặt khác, Cabot-Lodge vẫn mở cửa cho một giải pháp đảo chính.

a. Thục và Lệ Xuân ra đi:

      Ngay trong ngày 31/8, Cabot-Lodge điện về Oat-shinh-tân, yêu cầu chuyển sang áp lực ông Diệm thay đổi nhân sự và chính sách Phật Giáo qua phương thức “áp lực và thuyết phục.” Về nhân sự, cần ông Thục và bà Lệ Xuân rời nước; ông Nhu sẽ lo kế hoạch ấp Chiến lược; và lập thêm chức Thủ tướng, giao cho ông Nguyễn Đình Thuần phụ trách. Về chính sách, cần phóng thích sinh viên, học sinh, tăng sĩ và Phật tử, hủy bỏ Luật số 10, các chùa chiền phải được giải tỏa và trùng tu, và chính phủ tỏ thái độ hòa hoãn với Phật Giáo. Lodge yêu cầu đích thân Kennedy tuyên bố những điều kiện trên tại Oat-shinh-tân.(FRUS, 1961-1963, IV:66-7) Lodge cũng thêm rằng có tin Nhu đang bí mật tiếp xúc với Cộng Sản qua trung gian hai đại sứ Pháp và Poland [Ba Lan], vì hai chính phủ này muốn một giải pháp trung lập giữa Bắc và Nam Việt Nam. (Maneli đã tiết lộ với CIA việc tiếp xúc với ông Nhu; rồi ngày 30/8, Đại sứ Lalouette cũng xác nhận với Lodge về việc Nhu móc nối với Cộng Sản). Để tạo áp lực tâm lý, từ nay, Lodge không nói chuyện với anh em ông Diệm-Nhu nữa nếu chưa tham khảo Bộ Ngoại Giao. Chính phủ Việt Nam, theo Lodge, đã hành xử như “những kẻ dối trá và tội phạm” [has acted both as liars and criminals].

      Trong buổi họp tại Bộ Ngoại Giao sáng Chủ Nhật, 31/8 (khoảng nửa đêm cùng ngày tại Sài Gòn), Phó Tổng thống Johnson và các cố vấn của Kennedy không đi đến quyết định rõ ràng nào. Đa số muốn cho ông Diệm cơ hội chót, tức vẫn giữ ông Diệm, chỉ đưa ông Thục, và bà Lệ Xuân rời nước; riêng ông Nhu sẽ chỉ còn lo kế hoạch ấp Chiến lược.(FRUS, 1961-1963, IV:69-74, 80-1) Oat-shinh-tân chỉ thị Lodge tiếp xúc lại với ông Diệm, và Kennedy sẽ dùng buổi họp báo ngày 2/9 tại Mỹ để áp lực (như Lodge đã đề nghị). Nếu không thể dùng đường lối ngoại giao và chính trị để thuyết phục, Mỹ sẽ tạm ngưng viện trợ. Ngoại trưởng Rusk còn cho lệnh Lodge, nếu cần, bảo thẳng ông Diệm phải chứng tỏ cho người Mỹ thấy rằng chính phủ Kennedy “không thể đòi hỏi quốc dân Mỹ bị giết để yểm trợ Bà Nhu trong khát vọng nướng thịt sư.”(Ibid., IV:76-9)

      Ông Nhu dường như bất chấp áp lực của Mỹ. Ngày 1/9, các báo thủ đô chạy tin lớn trên trang nhất lời tuyên bố ngày 29/8 của Tổng thống Pháp de Gaulle—đề nghị hai miền Bắc và Nam tham dự một hội nghị hoà bình, thống nhất, và trung lập hoá miền Nam.(CLV, SV, 91:156) Thực ra, de Gaulle chỉ lập lại những gì đã từng nói với Kennedy trong chuyến thăm Pháp từ 31/5 tới 2/6/1961. Nhưng ở thời điểm liên hệ Mỹ-Việt đang căng thẳng này, đề nghị của de Gaulle mang một ý nghĩa đặc biệt. Nói theo Bộ trưởng Văn hóa Trương Công Cừu, chính phủ Diệm “hiểu rõ mọi hàm ý của Paris.” Ông Nhu cũng đã cho Bản tin Việt Tấn Xã ngày 30/8 đăng trên trang nhất trọn bài diễn văn của de Gaulle.

      Thật khó đoán de Gaulle có hàm ý gì. (Thời gian này, Trần Văn Hữu cũng chủ trương trung lập, và có liên hệ với Bộ Ngoại Giao Pháp. Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam cũng cổ võ trung lập.) Chỉ biết lời tuyên bố trên gây sôi nổi dư luận Mỹ. Ngày 30/8, New York Herald Tribune nhận định rằng de Gaulle muốn yểm trợ Diệm, gây ảnh hưởng ở Việt Nam. Tờ  New York Times cho rằng de Gaulle bày tỏ sự bất mãn với chính sách Mỹ. Tờ Washington Post nghĩ de Gaulle muốn Pháp sẽ thay thế Mỹ. Phía sau hậu trường, ngày 30/8 [31/8 tại Việt Nam], Đại sứ Pháp Hervé Alphand giải thích với Ngoại trưởng Rusk rằng giải pháp trung lập có thể thực hiện được vì hiện nay Mao Trạch Đông muốn chiến tranh, trong khi Hồ Chí Minh muốn hòa bình, và Hồ vốn chống Trung Hoa. Rusk không đồng ý, coi nền trung lập giả hiệu ở Việt Nam là điều nguy hiểm nhất, sẽ tạo nên những khó khăn cho các nước lân bang, kể cả Indonesia. Alphand hứa sẽ tuyên bố với báo chí rằng Pháp không có ý định dàn xếp với Diệm hay bành trướng ảnh hưởng và làm hại Mỹ. Rusk đề nghị Alphand giải thích rằng lời tuyên bố của de Gaulle phản ảnh quan điểm dài hạn của Pháp. Alphand cũng hết sức bệnh vực ông Diệm. Theo Alphand, mặc dù Diệm không được ưa thích, nhưng chưa tìm được ai thay. Rusk xác nhận không chống ông Diệm mà khó khăn chính là Nhu. Rồi hỏi ý Alphand về việc cho Nhu qua Pháp; Alphand đáp không hiểu Nhu có chịu qua Pháp nghỉ hưu hay chăng. (FRUS, 1961-1963, IV:59-61)

      Tại Sài Gòn, Đại sứ Lalouette cũng muốn hòa giải giữa ông Diệm và Cabot-Lodge. Nhân dịp Lodge đến thăm xã giao, ngày 31/8, Đại sứ Pháp ca ngợi ông Diệm là quốc trưởng có khả năng nhất ở Đông Nam á; nhưng không là một nhà chính trị, không biết ăn nói, không biết cách gây thiện cảm với báo chí, v.. v... Phần Nhu rất thông minh, phụ giúp Diệm đắc lực. Theo Lalouette, ông Diệm có thể chiến thắng CS. Hiện trạng tại Việt Nam là do giới truyền thông tạo nên. Báo chí đã tạo nên sự xúc động quá mức ở hải ngoại hơn trong nước. Trong thời Pháp thuộc, nhiều sư tự thiêu nhưng chẳng gây nên phản ứng gì trong dân chúng. Tình hình đã êm dịu dần. Phật tử được phóng thích, Luật số 10 sẽ bị rút lại. Các chùa sẽ được sửa chữa do chính phủ chịu phí tổn. Một lễ sẽ được tổ chức tại chùa Xá Lợi. Lệ Xuân sắp rời nước trong vài tháng để thăm India và Mỹ. Lalouette thêm rằng các viên chức Việt muốn được nói chuyện với Lodge, nhưng Lodge đứng xa, nên họ lùi lại. Rồi Lalouette đi thẳng vào vấn đề, hỏi: “Cần làm gì để hài lòng Mỹ?” Lodge đáp: “Loại bỏ vợ chồng Nhu.” Lalouette nghĩ rằng chuyện này không được, và đề nghị đưa một ai đó lên làm Thủ tướng, giảm bớt trách nhiệm của Nhu. Vẫn theo Lalouette, trong một hai năm nữa, chiến tranh du kích sẽ tàn đi. Việt Cộng đang thất vọng, và tinh thần xuống rất thấp ở miền Bắc. Khi cuộc chiến tranh du kích chấm dứt, sẽ có thể giao thương, gạo miền Nam, than miền Bắc. Sau đó sẽ đi đến thống nhất. Khi Lodge từ biệt, Lalouette nói: Hãy trấn an dư luận Mỹ và đừng đảo chính. (FRUS, 1961-1963, IV:58-9)

      Lời khuyên của Lalouette khó thay đổi định kiến của Lodge với chế độ Diệm, những người mà Lodge đánh giá như “dối trá và tội phạm.” Chiều Thứ Hai, 1/9, Cabot-Lodge áp lực ông Nhu phải thực hiện ngay lời hứa với Đại sứ Nolting từ ngày 10/8: Đó là bắt Tổng Giám Mục Thục rời nước và Lệ Xuân ra đi. Phần ông Nhu cũng đồng ý rút lên Đà Lạt.(VNNB, I-C: 1955-1963, tr. 288, 325-6, 336-7, 339-41)

Ông Nhu chưa chịu buông xuôi, quyết đổ thêm dầu vào lửa. Sáng ngày 2/9, ông Nhu tiếp Maneli ngay tại Dinh Gia Long. Trưa đó, tờ Times of  Vietnam đi một bản tin nẩy lửa, 8 cột, với tựa "CIA Financing Planned Coup d' état" [CIA tài trợ kế hoạch đảo chính], lên án Mỹ và CIA đã âm mưu tổ chức cuộc đảo chính vào ngày 28/8 nhưng không bị Nhu bẻ gãy. Theo báo này, từ tháng 1/1963, các chuyên viên đảo chính Mỹ—từng thành công ở Turkey, Guatemala, Đại Hàn, nhưng thất bại ở Iran và Cuba—lũ lượt kéo tới Việt Nam. Mỹ đã   tiêu từ 10 tới 24 triệu MK  để thực hiện đảo chính, và quĩ mật này Quốc hội Mỹ không hề hay biết. Kế hoạch đảo chính thoạt tiên dự trù vào ngày 28/8, nhưng phải ngưng lại vì Việt Nam đã ra tay trước, thiết quân luật từ ngày 21/8.  Các ký giả quốc tế ở Manila đã được “tin mật” rằng Diệm sẽ dừng lại ở Manila vào ngày 29/8, trên đường lưu vong. Giờ mưu định đảo chính là 11 giờ tối ngày 28/8, nhưng sau đó phải hoãn lại vì chính phủ Việt Nam biết rõ mọi chi tiết, và cương quyết chống đến cùng, cho dẫu phải tử chiến trên đường phố Sài-gòn. Tổng thống de Gaulle, vẫn theo báo này, tỏ ra rất bất mãn (indignant) vì một cuộc đảo chính tương tự không dễ dàng thành công, chỉ làm lợi cho Cộng Sản. Với cuộc tranh đấu của Phật Giáo, tờ báo Mỹ ngữ của ông Nhu thách đố các tu sĩ tiếp tục tự thiêu. (CĐ số 747, ngày 2/9/1963, Sài-gòn gửi Paris; CLV, SV, 17:51)

      Sự khiêu khích mới này khiến Cabot-Lodge khó tha thứ cho ông Nhu. Nhưng người Mỹ thường tự hào họ là người của hành động [doers]; và, chẳng mấy quan tâm đến những lời sỉ vả, nhục mạ thô tục mà người Á Đông ưa thích (kiểu Mao Trạch Đông cho quân lính xếp hàng dài theo biên giới Nga, đồng loạt tụt quần trận, chổng mông về phía phòng tuyến Nga).

      Bởi thế, Cabot-Lodge đẩy mạnh hơn kế hoạch “chuyển tiếp” của mình. Để tạo thêm áp lực, Lodge khai thác tối đa hành động ve vãn Cộng Sản của ông Nhu, với sự tiếp tay của Pháp.

      Như đã lược nhắc, từ đầu năm 1963, nếu không phải sớm hơn, ông Nhu đã tìm cách tiếp xúc Cộng Sản (kể cả Phạm Hùng, đặc phái viên miền Bắc). Môi giới của ông Nhu là Đại sứ Lalouette và có thể ngay chính Giáo hoàng John XXIII (1958-1963). Nhân vật Maneli, Đại diện Ba Lan (Poland) trong Ủy Ban Quốc tế Kiểm soát Đình Chiến (ICC), chỉ là mặt nổi phụ thuộc, để ông Nhu dằn mặt người Mỹ về khả năng “ve vãn Cộng Sản” của mình. Nhưng đây lại là bằng chứng hiển nhiên duy nhất Lodge có trong tay về sự “phản bội” [chiến lược chống Cộng] của ông Nhu.

      [Sau khi gặp ông Nhu ngày 25/8, Maneli thú nhận với Sở CIA Sài-gòn rằng Đại sứ Pháp làm trung gian cho Nhu tiếp xúc Phạm Văn Đồng. (Ngày 30/8, nhân viên CIA tiết lộ tin trên). Cabot-Lodge bèn nhờ một người bạn tiếp xúc với Maneli để khai thác thêm tin tức. Theo nhân vật còn dấu tên này, từ nhiều tháng trước, Nhu đã chủ trương trung lập hóa và thống nhất Việt Nam. Maneli  yêu cầu một người [chưa rõ tên] làm trung gian để gặp Nhu, nói Maneli sẵn sàng làm chim xanh giữa Nhu với Đồng. Nhu đồng ý cho vợ đi dự Hội nghị Dân biểu Quốc tế để giữ sĩ diện. Trong khi đó, Nhu tuyên bố với các Tướng rằng đừng sợ Mỹ cắt viện trợ, vì nếu thế, sẽ có những nguồn tài trợ khác. Nhu cũng có thể liên lạc với Hà-nội, yêu cầu giảm bớt cường độ chiến tranh, trong khi thương thuyết một thỏa ước vĩnh viễn.

      Mật báo viên trên thêm rằng Nhu muốn thương thuyết với Mỹ. Nếu Cố vấn chính trị Trueheart của Tòa Đại sứ gặp Nhu, có thể có giải pháp.] (FRUS, 1961-1963, IV:89-90)

Bởi thế, sau khi ông Nhu tiếp Maneli ngay tại Dinh Gia Long vào sáng ngày 2/9 để nhờ bàn việc hiệp thương, thống nhất với Phạm Văn Đồng, Lodge báo ngay về Oat-shinh-tân xin lệnh. (FRUS, 1961-1963, IV:84-5) Chiều ngày 2/9 đó, Lodge đích thân vào Dinh Gia Long gặp ông Nhu. Để tăng cường áp lực, Lodge mang theo cả Đại sứ Italia d’Orlandi và Khâm sứ Vatican d’Asta, vì hai người này là nhân chứng trong các âm mưu “ve vãn Cộng Sản” của ông Nhu (mà theo hình luật đương thời như Sắc Luật 47 ngày 21/8/1956 và 10/59 ngày 6/5/1959), sẽ bị kết án từ chung thân khổ sai tới tử hình). (VNNB, I-C: 1955-1963, tr. 340-1, 102, 151).

      Khó thể chối cãi việc ve vãn Cộng Sản, và trước đề nghị của Mỹ, Nhu đồng ý sẽ từ chức, rút lên Đà-lạt sau khi bãi bỏ Thiết quân luật, tức sau khi số nhân viên Mỹ tổ chức đảo chính đã rời Việt Nam. Nhu cũng muốn đài phát thanh Mỹ ở Việt Nam ngừng đả kích chính phủ; và tuyên bố từ nay người Mỹ nào vào Việt Nam cũng cần chiếu khán [visas]. Lệ Xuân sẽ rời Sài-Gòn ngày 17/9 để dự Hội nghị các Dân biểu tại Yugoslavia. Thục sẽ rời nước trong một tương lai gần. Nhu cũng đồng ý chính phủ sẽ có một Thủ tướng. Về kinh viện, Nhu muốn được vay dài hạn, với lãi xuất thấp, hơn là viện trợ. Như thế người Mỹ tránh được trách nhiệm về những gì người Việt làm.

      Nhu nói không thể rời nước vì lý do tiếp xúc với Việt Cọng; những cán bộ VC này đã rất chán nản và muốn ngừng hoạt động (?). Sáu tháng trước, một Đại tá VC muốn đào ngũ với 3 tiểu đoàn, nhưng Nhu   khuyên ông ta ở lại biên giới Lào chờ cơ hội thuận tiện.  Một Tướng VC ở Miên cũng muốn gặp Nhu. Không những VC đang thất vọng mà còn cảm thấy đang bị Bắc Việt lợi dụng. Nhu tiên đoán trong tương lai BV phải tiếp tế bằng không quân. Tiếp vận đường biển đã bị ngăn cản, và đường bộ cũng hầu như bất khả.(sic) Nếu tiếp tế bằng phi cơ, sẽ bị phòng không bắn hạ.

      Về cuộc gặp gỡ Maneli, Nhu nói Maneli đã yêu cầu Nhu chú ý đến tuyên bố của de Gaulle [ngày 29/8] và Hồ Chí Minh [ngày 29/5], rồi hỏi Nhu muốn chuyển lời gì cho Phạm Văn Đồng. Nhu trả lời “Chẳng có gì cả.”

Nhu cũng nói Trung Cộng đề nghị bán 2 phi cơ U-40.

      Theo đúng lớp lang dự trù, tại Mỹ, trong buổi phỏng vấn truyền hình với Walter Cronkite trên đài CBS ngày 2/9, Kennedy tuyên bố chính phủ Diệm đã "xa rời quần chúng," cần thu phục lại sự yểm trợ của mọi người, và thay đổi về chính sách cùng nhân sự. Cuộc chiến Việt Nam là của chính người Việt, Mỹ chỉ có thể tiếp sức. Diệm không thể chiến thắng nếu tình trạng hiện tại không thay đổi. Việc đàn áp Phật tử, Kennedy tiếp, rất không khôn ngoan. Không thể chiến thắng bằng đường lối này. Kennedy hy vọng chính phủ [Diệm] phải thấy rõ rằng họ cần thực hiện những bước để lôi kéo lại sự yểm trợ của đám đông trong cuộc chiến tối thiết này. Được hỏi liệu chính phủ [Diệm] còn thời gian để lấy lại sự ủng hộ của đám đông, Kennedy nói nếu thay đổi chính sách, và có lẽ với thay đổi nhân sự, vẫn có thể lôi kéo được sự ủng hộ của quần chúng. Nếu chính phủ [Diệm] không thay đổi, cơ hội để chiến thắng không được tốt. Về bài diễn văn của de Gaulle, Kennedy tuyên bố không hiểu de Gaulle muốn gì. Tuy nhiên, cần lắng nghe những gì de Gaulle tuyên bố vì de Gaulle không phải là kẻ thù của Mỹ. Kennedy cũng khen ngợi Cabot-Lodge đã đặt quyền lợi quốc gia Mỹ lên trên sự nghiệp chính trị khi nhận chức Đại sứ ở Việt Nam. (FRUS, 1961-1963, IV:tài liệu 50)

      Trưa hôm sau, 3/9, Kennedy phê chuẩn công điện chỉ thị cho Lodge gặp lại Diệm. Đồng thời cho phép Lodge và Harkins, nếu các Tướng tiếp xúc trở lại, cần khẳng định Mỹ không thay đổi lập trường.(FRUS, 1961-1963, IV:100-3) Tối đó [10G35 ngày 4/9 VN], McNamara, Rusk và Bundy vội chỉ thị Lodge nối lại liên lạc trực tiếp với Diệm mà không cần qua trung gian Nhu, vì mặc cả với Nhu chẳng khác nào nhìn nhận sự thăng tiến của Nhu. Trong buổi gặp Diệm lần đầu, Lodge phải giải thích về ý định của Kennedy qua bài diễn văn trên CBS: Kennedy rất mong chiến thắng và hy vọng rằng chính phủ VNCH hiểu được tầm quan trọng của sự thay đổi nhân sự. Lodge cần chứng tỏ sự bất bình của Mỹ về vấn đề đàn áp Phật giáo, vì sẽ làm hại nỗ lực chiến thắng CS. Mỹ không muốn lật đổ chính phủ, nhưng sẽ tìm cách cải thiện nó. Sau khi Lodge gặp Diệm, Harkins sẽ lại gặp Diệm và Thuần như thường lệ để lo việc chiến tranh. (FRUS, 1961-1963, IV:104-6)

      Như để trả lời Kennedy và Lodge, ngày 4/9 Nhu sai Đính họp báo lần thứ hai. “Anh hùng quốc gia” Đính giải thích về danh từ "aventurier internationaux" bị vấp mắc trong tuần trước, và khẳng định tất cả các tướng lãnh Việt coi Ngô Đình Nhu như lãnh tụ, và tất cả đều tin cậy Nhu sẽ mang đến chiến thắng CS. (Báo cáo ngày 5/9/1963, Lalouette gửi Couve de Murville; CLV, 17:7; Đính 1998, tr. 418-20)

      Trong khi đó, khi Lalouette vào gặp, ông Diệm nói tình hình nghiêm trọng vì các sư trẻ cực đoan đã thay thế những nhà sư lớn tuổi, khả kính cũ. (CLV, SV, d. 18) Nhu thì tiết lộ với Lalouette là có thể dàn xếp với Việt Cọng để chấm dứt chiến tranh, và để thực hiện việc này, Nhu sẽ yêu cầu Mỹ triệt thoái một số quân. Thuật lại với Lodge chuyện này xong, Lalouette nhấn mạnh rằng không thể thay Diệm-Nhu, và Mỹ phải hợp tác với họ. (FRUS, 1961-1963, IV:111) Bởi thế, ngày 4/9, Lodge xin phép được giải quyết mọi việc với Nhu trước khi gặp Diệm. Rusk đồng ý.(FRUS, 1961-1963, IV:111)

      Việc này chưa xong, việc khác đã xảy ra. Ngày Thứ Năm, 5/9, nhân viên ngoại giao Tây Germany trao cho sứ quán Mỹ bài phỏng vấn Lệ Xuân trên báo Der Spiegel. Theo Lệ Xuân, Lodge đang âm mưu loại bỏ hoặc ám sát Lệ Xuân. Tổng thống Diệm quá yếu, cần sự yểm trợ của Lệ Xuân. Những khó khăn hiện nay là do báo chí bịa đặt và sự can thiệp của Mỹ. (Lệ Xuân nhìn nhận với một nhân viên Mỹ là đã viết phần lớn bài phỏng vấn này; FRUS, 1961-1963, IV:Tài liệu 68)

      Tối 5/9 [09G42 ngày 6/9 VN], Hilsman cho Lodge một vũ khí áp lực mới: Tiểu ban Viễn Đông của ổy Ban Ngoại Giao Thượng viện tỏ ý nghi hoặc về khả năng lãnh đạo của Diệm-Nhu, và sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam. Tiểu ủy ban muốn có một giải pháp cho cuộc khủng hoảng hiện tại   để có thể duy trì viện trợ. Thượng viện Mỹ nghĩ rằng dân chúng Mỹ không muốn yểm trợ một chính phủ đàn áp dân chúng và các tổ chức tôn giáo. Tiếp tục yểm trợ một chế độ như thế đi ngược lại nguyên tắc căn bản dân chủ. Các vấn đề khiến Thượng viện lưu tâm nhất là đường lối nguy hại của Diệm-Nhu, những nguy hiểm Mỹ bị đồng hóa với những chế độ đàn áp dân chúng tại Việt Nam và các nơi khác, những bài tường thuật trên báo chí về việc Nhu móc nối với Cộng Sản, sự thất bại của Mỹ khi không thể thay thế Diệm-Nhu, sự vắng thiếu định hướng của Mỹ. (FRUS, 1961-1963, IV:113) Ngay sau khi được công điện của Hilsman, Lodge trao cho đại sứ Italia và đại diện Vatican đọc, nhờ họ gặp Nhu, bảo thẳng Nhu rằng vợ chồng Nhu phải rời Sài Gòn trong 6 tháng. (Ibid.)

      Sáng ngày 6/9, trong khi chờ d’Orlandi và d’Asta chuyển lời của mình, Cabot-Lodge sai nhân viên CIA vào gặp Nhu. ìng Nhu tuyên bố chẳng dính líu gì đến bài báo trên Times of Vietnam ngày 2/9; và ông Diệm không ưa Trần Văn Khiêm, nên không hề có việc cho Khiêm tái lập Sở Nghiên Cứu (Mật vụ). Đồng thời, Nhu chỉ trích một số nhân viên Mỹ cấp thấp tung tin chống chính phủ. Được hỏi về việc liên lạc với Hà-nội, Nhu nói Đại sứ Italia d'Orlandi và đại diện India tại Ủy Ban Quốc tế Kiểm Soát Đình Chiến, Goburdhun, đã yêu cầu Nhu gặp Maneli. Maneli khuyên Nhu nên lợi dụng những lời tuyên bố của de Gaulle và Hồ Chí Minh để thương thuyết với Hà-nội, và tự nhận đại diện cho Phạm Văn Đồng. Đề nghị miền Nam bán gạo và bia cho miền Bắc, đổi lấy than đá. Tuy nhiên, Nhu chối việc thương thuyết với Hà-nội, nói chỉ tiếp xúc Việt Cọng ở miền Nam. Nhu cũng hoàn toàn chống lại trung lập.

      Về cuộc khủng hoảng Phật giáo, Nhu cho rằng mình bị biến thành dê tế thần. Từ sau ngày 21/8, Nhu vẫn theo đuổi chính sách hòa hoãn. Nhu cũng tuyên bố không chống Mỹ. Nhân viên CIA không tin lời Nhu, cho rằng Nhu dối trá. (FRUS, 1961-1963, IV, Tài liệu 69)

      Tối đó, 6/9, d'Orlandi và d'Asta gặp Nhu, chuyển chỉ thị ngày 5/9 của Hilsman là vợ chồng Nhu phải ra đi. Nhu bị xúc động mãnh liệt, nói muốn thảo luận với Lodge. Hai đại diện của Lodge trả lời rằng không còn gì để “mặc cả.” Nhu chỉ có một lựa chọn: Rời khỏi Việt Nam trong 6 tháng. Tùy Nhu muốn nhận hay chối từ. (FRUS, 1961-1963, IV, Tài liệu 63)

Ông Nhu mất hẳn bình tĩnh, tuyên bố:

Tôi là con ngựa thắng cuộc. Họ phải bắt độ (bet) trên tôi. Tại sao họ muốn chấm dứt tôi? Tôi không muốn chỉ làm cố vấn cho Tổng thống Diệm, mà cho  cả Cabot-Lodge. Tôi có thể rời Việt Nam một tháng, nhưng chuyện gì xảy ra cho 100 ấp chiến lược. Tôi đã biết chuyện gì xảy ra trong giới nhà binh. Nếu tôi rời nước, họ sẽ cướp chính quyền. Bọn cóc nhái [grenouillards] của CIA và USIS sẽ phá hoại nỗ lực chiến tranh.

Nhu nói thêm Lệ Xuân sẽ rời nước ngày 9/9 để nghỉ hè ở ẽu Châu trong hai hay ba tháng. Nhu không rời nước, chỉ từ chức, không dính líu gì đến ấp chiến lược nữa. Một thời gian sau, sẽ xuất ngoại ba bốn tháng.  Khi từ chức Nhu sẽ nói thẳng ra là bị đuổi đi [kicked out]. (Ibid., Tài liệu 72)

      Tại Oat-shinh-tân, HĐ/ANQG họp liên tiếp trong ngày 6/9 [chiều và khuya ngày 6/9 tại Việt Nam] về chính sách đối với chế độ Diệm. Ai nấy đều đồng ý vợ chồng Nhu phải ra đi. Kennedy cũng muốn Lodge liên lạc trực tiếp với ông Diệm, không nên quá tin tưởng ở các trung gian. Để có nhiều yếu tố hơn trước khi quyết định số phận chế độ Diệm—tức duy trì ông Diệm hay thay bằng một lãnh đạo mới, như Nguyễn Ngọc Thơ, Dương Văn Minh, v.. v...—Kennedy gửi Tướng Victor Krulak và Joseph Mendenhall qua Việt Nam để nghiên cứu tình hình tại chỗ từ ngày 6 tới 9/9/1963. (FRUS, 1961-1963, IV:117-20)

      Chiều đó [8G42 ngày 7/9 tại VN], Rusk chỉ thị Lodge mở lại liên lạc với ông Diệm, yêu cầu giải quyết ngay các vấn đề khẩn thiết như bãi bỏ Thiết quân luật, phóng thích Phật tử và học sinh, sinh viên, bỏ kiểm duyệt báo chí, giải tỏa các chùa chiền, v.. v... Thời gian là yếu tố cực kỳ quan trọng. Rusk cũng yêu cầu Lodge nên cố tránh một cuộc đương đầu hay giao tối hậu thư, mà phải giải thích cho ông Diệm biết nước Mỹ đang hoạch định chính sách mới, trong khi chịu nhiều áp lực của báo chí, dư luận và Quốc Hội. (FRUS, 1961-1963, IV:128-9) Tuy nhiên, Lodge chưa gặp ngay ông Diệm mà có ý chờ ông Nhu thực hiện những gì đã hứa.

      Hôm sau, 7/9, do áp lực của Khâm sứ d’Asta và Cabot-Lodge, Tổng Giám Mục Thục lên đường qua Roma cùng Giám mục Picquet. Có lẽ chẳng vui vẻ gì, ông Thục tuyên bố ở Roma rằng CIA Mỹ đang bỏ ra 20 triệu Mỹ Kim để âm mưu đảo chính vào ngày 21/9 sắp tới. Thục còn khẳng định các sư không tự thiêu mà bị giết bằng búa. Chẳng hiểu vì những lời tuyên bố này, hay một lý do nào đó, Giáo Hoàng Paul VI hủy bỏ buổi triều kiến dự trù, mà cũng chẳng đề cập gì đến việc thăng cấp Hồng Y. Vì mãi cuối tháng đó Công đồng Vatican II mới tái nhóm, ngày 11/9, ông Thục bay qua New York để vận động cho Lệ Xuân vào Mỹ “giải độc”—đòi hỏi “công lý,” như ông Diệm nói với Lodge; nhưng dưới mắt Cố vấn An Ninh Quốc Gia McGeorge Bundy là một hành động biểu lộ “sự điên rồ tập thể của một gia đình cai trị” [collective madness in a ruling family] chưa hề thấy sau thời các Nga hoàng. (FRUS, 1961-1963, IV:175) Hồng y Spellman không chịu tiếp, nên chính phủ Mỹ phải can thiệp cho Spellman gặp mặt ông Thục.

      Bà Lệ Xuân cũng rời Sài Gòn ngày 9/9 như ông Nhu đã hứa, để tham dự Đại hội nghị sĩ quốc tế Yugoslavia và “giải độc.” Vì sứ mệnh nặng nề, Lệ Xuân mang theo một đoàn tùy tùng, kể cả con gái là Lệ Thủy và một nữ bí thư. Nhưng ai nấy đều đoán biết tham vọng chính trị của Lệ Xuân bắt đầu đi vào đoạn kết. Những lời nhục mạ Phật giáo cùng cuộc tranh đấu bình quyền tôn giáo, xen kẽ với những lời đả kích cá nhân Kennedy cùng viên chức Mỹ [“pinks”] của “Rồng Cái” trong những tuần lễ kế tiếp chỉ mang lại sự bẽ bàng cá nhân và lòng khinh miệt, giận dữ với họ Ngô. Phật tử trên thế giới và tình báo Mỹ cùng cha mẹ ruột Lệ Xuân sẽ dạy bảo “Rồng Cái” thế nào là mặt trái của quyền lực—tức nỗi cay đắng, bẽ bàng của những con sô cẩu [chó rơm] của Lão tử khi cuộc cúng tế đã qua.

      [Thời gian này, Mỹ bỗng mất một lá bài chính trị nuôi dưỡng bấy lâu. Tối Thứ Bảy, 7/9, Bộ trưởng Thuần gặp Rufus Phillips (nhân viên cao cấp USOM), tiết lộ ông Nhu đang nắm hết quyền lực trong nước. Thuần muốn từ chức, nhưng không dám vì sợ Nhu giết—ông Nhu nghi rằng Thuần đã bị Mỹ mua.(FRUS, 1961-1963, IV:Tài liệu 76) Hôm sau, khi Trueheart đến thăm, Thuần lập lại những điều đã nói với Phillips và tỏ ý không tin các Tướng dám hành động. [Theo ông Thuần, Trần Thiện Khiêm trung thành với ông Diệm, nhưng có thể đang làm việc với Phạm Ngọc Thảo]. Thuần rất lo ngại cho tính mạng mình vì trên danh sách thủ tiêu của Trần Văn Khiêm có tên Thuần. Trong tổ chức của Khiêm có cả Đại tá Phước, tỉnh trưởng Vĩnh-long. Thuần đặc biệt quan tâm đến việc Đại sứ Italia, d' Orlandi, tuyên bố rằng Thuần sẽ làm Thủ tướng. "Bộ ông ta muốn tôi bị giết sao," Thuần than thở. Theo Thuần, Nhu đang muốn tiêu diệt Thuần, nói với ông Diệm rằng Thuần là nhân viên của Mỹ; bởi thế Diệm thay đổi thái độ với Thuần. LLĐB đã tung truyền đơn nói Thuần và Bộ trưởng Tư pháp Bùi Văn Lương lĩnh của Mỹ hàng trăm ngàn Mỹ kim. Thuần đã mang truyền đơn này vào than phiền với Diệm. Nhu cũng tung tin đang được Lodge yểm trợ, và sẽ trở thành cố vấn chính trị của Lodge. (FRUS, 1961-1963, IV:Tài liệu 75) Trueheart nghĩ rằng Thuần đã bỏ hết mọi hy vọng, chỉ lo toan cho tính mạng sống và sự an toàn của gia đình. Lá bài Nguyễn Đình Thuần cũng chấm dứt từ đó.]

      Chính sách “áp lực và thuyết phục” của Mỹ vẫn tiếp tục.  Ngày 8/9, David E. Bell, Giám đốc chương trình viện trợ Mỹ, tuyên bố trong một buổi trực tiếp truyền hình rằng Quốc Hội Mỹ sẽ cắt viện trợ nếu Diệm không thay đổi chính sách. Trong khi đó Thượng Nghị sĩ Frank Church và một số người khác chuẩn bị nạp các dự thảo luật đòi cắt viện trợ cho Việt Nam.

b. áp lực Nhu rời nước:

      Ngày 9/9, sau khi Lệ Xuân ra đi, Lodge mới gặp ông Diệm lần thứ hai sau ngày nhậm chức. Hai người thảo luận nhiều vấn đề, đặc biệt là Lệ Xuân và Thục. (Lệ Xuân từng đe dọa sẽ đưa vấn đề ra trước LHQ, và Nhu muốn yêu cầu Quốc Hội Mỹ điều tra chính sách của Kennedy. Thục thì tuyên bố Mỹ đã trả 20 triệu MK để lật đổ chế độ Diệm). Khi Lodge nói cần thay đổi nhân sự, như Nhu phải đi xa, ít nhất đến cuối năm 1963, ông Diệm hỏi ngược lại tại sao Nhu phải đi khi cần người trông coi ấp chiến lược.

      Về vấn đề Phật giáo và những người bị bắt giữ, ông Diệm nói hiện chỉ còn giữ 70 tù nhân tham dự biểu tình. Ông Diệm cũng nói đại diện Việt Nam tại LHQ sẽ chứng minh nhiều ngôi chùa đã biến thành "nhà chứa" [bordellos], cảnh sát tìm thấy quần áo lót đàn bà, hình ảnh khiêu dâm, một nhà sư đã phá trinh tới 13 thiếu nữ. Chính phủ chỉ tảo thanh vài ba chục chùa trên tổng số 4,700 chùa. Tại chùa Xá Lợi, những thành phần khiêu khích đã ném đồ vật lên đầu khách đi đường, nên phải có thái độ. Học sinh, sinh viên bãi khoá vì chúng là Cộng sản. Khi Lodge đọc cho ông Diệm một bản tin của Reuters, dẫn lời tuyên bố của Tổng Giám Mục Thục rằng các tăng sĩ không tự tử mà họ đã bị giết bằng búa, ông Diệm chỉ im lặng. Trong báo cáo về Oat-shinh-tân, Lodge nhận xét ông Diệm nặng mang tinh thần Trung cổ.(FRUS, 1961-1963, IV:Tài liệu 77)

[Ngày Thứ Năm, 5/9, khi trả lời thư ngày 31/8/1963 của Tổng thư ký LHQ U Thant, ông Diệm cho rằng không hề có việc đàn áp Phật giáo tại Việt Nam. Những cáo buộc trên thuần là “sản phẩm tưởng tượng của thực dân.” Các nước Phi và á châu đã bị “đầu độc bởi âm mưu quốc tế của phương Đông hoặc phương Tây chống lại VNCH.” Diệm cũng khẳng định đã tìm ra một giải pháp cho vấn đề Phật giáo. (American Foreign Policy: Current Documents, 1963, pp. 869-70; FRUS, 1961-1963, IV:112)

      Ngày này, phái đoàn Krulak và Mendenhall vừa hoàn tất chuyến tham quan (khoảng 24 giờ) Việt Nam. Họ được Lodge trình bày tóm lược buổi đối thoại với ông Diệm, và ý định muốn bắt ông Nhu rời nước càng sớm càng tốt.

      Trong phiên họp ngày 10/9 tại Bạch Cung, hai bản báo cáo của Krulak và Mendenhall khiến Kennedy và các cố vấn nhức đầu. Hai báo cáo này khác nhau như ngày với đêm, bộc lộ rõ đường ranh phân chia trong giới cố vấn thân cận của Kennedy. Tướng Krulak cho rằng cuộc chiến vẫn tiến triển tốt đẹp, và cuộc khủng hoảng chính trị hiện tại không ảnh hưởng gì đến quân nhân hay vùng nông thôn. Mendenhall kết luận rằng không thể thắng với anh em ông Diệm-Nhu, và người Việt bắt đầu thiếu lòng tin cả chính phủ Mỹ. Nhiều người tại Huế và Sài-gòn nói Cộng Sản còn [tốt] hơn cả chế độ Diệm. Nhiều người Việt không dám nói chuyện với Mỹ kiều, lo sợ bị bắt giam. Tại sáu tỉnh miền Trung Mendenhall  đi qua, các sĩ quan cao cấp yểm trợ ông Diệm, nhưng sĩ quan cấp dưới bất mãn. Các cấp tỉnh trưởng, quận trưởng còn trung thành, nhưng mọi công chức cấp dưới chống đối. Tình hình quân sự có vẻ suy thoái trong tháng 8/1963. (FRUS, 1961-1963, IV:144-5)

      Kennedy phải chua chát hỏi Krulak và Mendenhall rằng thực chăng hai người cùng thăm một xứ. Sau khi nghe thêm thuyết trình của Rufus C. Phillips và John Mecklin mới từ Sài Gòn về, Kennedy tạm thời chưa có quyết định rõ ràng về ông Diệm, dù số phận ông Nhu đã được định đoạt.

[Mecklin đề nghị nếu muốn làm đảo chính, cần chuẩn bị trước để đưa quân chiến đấu vào miền Nam, vì các chính phủ kế tiếp có thể suy yếu hơn Diệm. Phillips không đồng ý, vì sức mạnh của Nhu đã được phóng đại quá mức, trong khi đánh giá thấp những người chống đối. Nhu khiến người ta sợ và trọng, nhưng không  trung thành. Hơn nữa, dùng lời không đủ thuyết phục họ Ngô. Không cần phải cắt hẳn viện trợ mà cắt những chương trình nào đó có hậu quả tâm lý nhắm vào Tung và Nhu. Phải sẵn sàng đương đầu những khó khăn do Nhu gây ra, và trút trách nhiệm sự thoái hóa trong cuộc chiến chống Cộng, nếu xảy ra, lên đầu Nhu. Không nên nghi ngờ các Tướng. Các Tướng chưa làm đảo chính vì họ không có lính trong tay, chưa có kế hoạch và chưa tin tưởng ở sự yểm trợ của Mỹ. Có thể dùng quân Mỹ trong trường hợp khẩn cấp như bảo vệ thân nhân Mỹ, nhưng dùng quân Mỹ để đánh VC là một lầm lẫn nghiêm trọng; IV:249-51]

      Ngày 11/9/1963, ông Nhu lại thả thêm một quả bom khiêu khích Cabot-Lodge: Times of Vietnam loan tin bọn phiêu lưu quốc tế sắp chuẩn bị vòng thứ 2. Trong khi đó, Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình của giáo phận Sài Gòn ra thư luân lưu nói về thông điệp ngày 26/8/1963 của Paul VI (Paulius P.P. VI):  Người giáo dân lương thiện phải trung thành với chế độ đang cầm quyền, bất kể sự chính thống của chế độ.(CLV 46:292-7)

      Chẳng hiểu có bị ảnh hưởng bởi hai biến cố trên hay không, lúc 14G00 ngày 11/9, Lodge gửi công điện yêu cầu có biện pháp mạnh với chính phủ Diệm. Đã đến lúc phải dùng biện pháp trừng phạt [effective sanctions] hữu hiệu để lật đổ Diệm và thành lập chính phủ mới; và yêu cầu nghiên cứu gấp việc ngưng viện trợ, di tản thân nhân viên chức Mỹ để tránh rắc rối.

      Là một cựu chiến binh Thế chiến thứ hai, Lodge cho rằng các sĩ quan trẻ không báo cáo hết sự thực về ảnh hưởng của biến cố Phật giáo đối với quân đội—họ không muốn làm thượng cấp phật ý. Đa số sĩ quan trẻ đều xuất thân từ thành phố, nói chung là có học, không thể dửng dưng nhìn hay nồng nhiệt ủng hộ chính phủ bắt giữ cha, chú, anh chị em họ. Ngay các binh sĩ cũng vậy. Mức độ đàn áp học sinh, sinh viên rất thô bạo. Có thể vài ba cán bộ Cộng Sản đã xâm nhập, nhưng sinh viên, học sinh  không phải là Cộng Sản. Tin đồn mới nhất là các công chức cũng sắp xuống đường. Và chắc chắn các đoàn biểu tình sẽ chúi mũi dùi vào Mỹ nếu Mỹ không có thái độ. Con thuyền quốc gia miền Nam đang chìm đắm, và để cứu vãn tình thế, bất cứ biện pháp trừng phạt nào có thể sử dụng phải được thực thi, như tạm ngưng viện trợ. Nếu muốn loại bỏ [get rid of] Nhu, nên lấy việc ngưng viện trợ để đạt mục tiêu này. Lodge cũng đề nghị phải lôi cuốn [induce] những người muốn cầm quyền, như Big Minh; và chấm dứt ngay tình trạng “chờ đợi” vì thành phần ưu tú trong xã hội sẽ hết ý chí nếu chưa bị chế độ thủ tiêu. (FRUS, 1961-1963, IV:171-4)

      Ngay chiều 11/9 [rạng sáng 12/9 tại Việt Nam] Kennedy triệu tập một phiên họp tại Bạch Cung để thảo luận về công điện của Lodge. Đa số ủng hộ việc cô lập Nhu. Tuy nhiên, Kennedy chưa có quyết định rõ ràng về việc thay đổi chính phủ cùng những biện pháp răn đe như ngưng viện trợ, di tản Mỹ kiều. Bộ Ngoại Giao Mỹ cho Lodge biết quyết định trên, nhưng giải thích thêm rằng đang chuẩn bị kế hoạch di tản thân nhân viên chức Mỹ, cô lập Nhu dần dần kể cả việc cung cấp viện trợ trực tiếp cho các địa phương và đơn vị.

      Rusk còn chỉ thị Lodge gặp Diệm trình bày về thái độ của Quốc Hội Mỹ và nhất là những lời phát biểu của Lệ Xuân. Tại Belgrade, Lệ Xuân tuyên bố rằng Kennedy là một chính khách, nên thường hòa phục dư luận. Theo Lệ Xuân, nếu những dư luận đó không đúng, giải pháp đứng đắn nhất không phải là đầu hàng mà phải nói lên sự thực. Lời tuyên bố này khiến Kennedy muốn tìm cách bắt Lệ Xuân im lặng.(IV: 195-6) Hôm sau, 13/9, Lodge đề nghị chẳng cần gặp Diệm thường xuyên khi không có đề nghị mới. Đồng thời xin nghiên cứu phản ứng trong trường hợp Ngô Đình Nhu yêu cầu Mỹ rút khỏi Nam Việt Nam như Lalouette và Thompson đã tiết lộ.(IV:205-6) Ngày 14/9, Lodge vẫn chưa muốn gặp Diệm về Lệ Xuân vì, theo Lodge, khi gặp nhau ngày 9/9, Diệm nói Lệ Xuân sẽ họp báo ở New York để đòi công lý, và có vẻ ủng hộ Lệ Xuân.

      Ngày 12/9,  Lodge cũng viết thư riêng cho Rusk, yêu cầu chuyển thẳng cho Kennedy, xin Lansdale thay Richardson. Theo Lodge, người Việt vẫn nghĩ rằng Richardson thân thiết với Nhu, dù thực tế Richardson là một viên chức Mỹ xuất sắc, tận tụy. (IV:205)  Nhưng ngày 24/9, Lodge cho Rusk biết McCone không đồng ý.

      Ngày 12/9, McCone cũng đưa ra một kế hoạch, theo đó tiếp tục yểm trợ Phó TT Thơ để đạt một thỏa ước với Phật giáo, bãi bỏ thiết quân luật, cách chức Ngô Trọng Hiếu, thay Nhu bằng một ủy ban tư vấn gồm những người như Trần Quốc Bửu, Trương Vĩnh Lễ, Trần Ngọc Liễn. Đặt LLĐB dưới sự chỉ huy của Bộ TTM.

      Trong khi đó, ngày 12/9, Harkins báo cáo Cộng Sản đã xâm nhập vào phong trào tranh đấu Phật Giáo. Và bây giờ, tới sinh viên. Harkins cũng tin rằng đang thắng trận. (IV:194-5) Ngay chiều đó [6G00 ngày 13/9 VN], HĐ/ANQG thảo luận về công điện của Harkins. McCone khẳng định cơ quan CIA không có tin tức nào về việc này. (IV:199) McNamara muốn Harkins báo cáo chi tiết rõ ràng hơn. (Ibid) Harriman, Thứ trưởng Ngoại giao đặc trách chính trị vụ, cũng viết thư cho Lodge, yêu cầu phê bình về công điện của Harkins. (IV:209)

      Ngày Thứ Bảy, 14/9, Oat-shinh-tân chỉ thị cho Lodge tạm thời đình hoãn tiền viện trợ kinh tế $18.6 triệu MK cho Nam Việt Nam.

Ngày 16/9, Lodge biện minh về việc dùng áp lực viện trợ như sau: Mỗi ngày người Mỹ chi tiêu 1.5 triệu Mỹ kim ở Việt Nam. Lodge muốn rằng viện trợ đó không tự động được giao cho Việt Nam, bất kể thái độ của Việt Nam đối với Lodge, người đại diện Tổng thống Mỹ tại địa phương. Lodge muốn anh em ông Diệm phải hiểu rằng mỗi lần gặp Lodge, anh em họ Ngô phải mang mặc cảm xin ân huệ của Lodge. Với ông Diệm, thuyết phục vô giá trị, vì đưa ra ý kiến gì, ông Diệm lập tức bị ông Nhu tẩy não. (IV:215-6)

      Ngày 15/9, Rusk cho lệnh Lodge phải tạm ngưng đảo chính trước khi Oat-shinh-tân có quyết định rõ ràng. (IV:212)

Cơ quan CIA cũng trình lên Kennedy một báo cáo về “Vấn đề Nhu” [Problem of Nhu]. Theo trưởng phòng sưu tầm và nghiên cứu CIA, Nhu giữ vai trò quan trọng trong việc thực thi cuộc chiến chống Cộng; nhưng từ ngày 8/5, Nhu khiến cuộc tranh đấu của Phật giáo bùng nổ lớn, và có khả năng tạo nên một cuộc khủng hoảng chính phủ. Nhu là vật cản trở bất cứ giải pháp nào vì Nhu có ảnh hưởng lớn trên ông Diệm, Nhu nắm Mật vụ và Lực lượng Đặc biệt, Nhu chống Mỹ, liên hệ với Cộng Sản Bắc Việt, và dân chúng muốn Nhu phải ra đi. Ngay các Tướng Harkins và Krulak cũng muốn thấy Nhu ra đi. Theo Krulak nhiều sĩ quan cao cấp sẽ ngả theo Hà Nội nếu Nhu lên cầm quyền.

      Nhu đã loại bỏ dần những nhân vật ảnh hưởng quanh Diệm, như Nguyễn Đình Thuần, Võ Văn Hải, v. v.. Vì thế Diệm tin rằng cuộc tranh đấu của Phật giáo do VC xen vào. Điều này khiến Diệm bị mất giá trị dưới mắt những người như Ngoại trưởng Vũ Văn Mẫu, Tướng Lê Văn Kim, v.. v...

Nhu có tinh thần chống Mỹ, cáo buộc Mỹ là thực dân, phong kiến, đang muốn biến Nam Việt Nam thành chư hầu. Nhu tung tin một số viên chức Mỹ nằm trên danh sách sẽ bị thủ tiêu. Nhu nói rằng Mỹ phải giảm áp lực vì đang đe dọa nền độc lập của Nam VN. Nhu liên tục nói dối với Lodge và chánh sở CIA Sài-gòn về vai trò của mình trong cuộc tấn công chùa chiền.

Nhu thường nói nếu Mỹ cắt viện trợ sẽ có nguồn viện trợ khác. Nếu không có viện trợ, Nhu sẽ tìm cách thương thuyết với Hà-nội. Tin Nhu bắt đầu thương thuyết với Hà-nội lan truyền rộng rãi, khiến tinh thần binh sĩ hoang mang. Nhu tin rằng chỉ có Nhu mới cứu được Việt Nam. Cả Thuần và Hải đều nói Nhu nghiện thuốc phiện từ hai năm qua.

Tướng Harkins tin rằng nếu Nhu ra đi, tình hình Việt Nam sẽ sáng sủa hơn. Tướng Krulak tường thuật rằng các sĩ quan sẽ hân hoan thấy Nhu ra đi. Liên đoàn trưởng Nhảy Dù [Cao Văn Viên] rất muốn thấy Nhu ra đi. Đại tá Hoàng Văn Lạc nói Nhu không thể tồn tại quá 24 giờ nếu Mỹ tuyên bố ngưng yểm trợ. Trần Quốc Bửu cũng nghĩ rằng Nhu phải ra đi. Theo Võ Văn Hải,  Diệm khó thể phục hồi được lòng tin của dân chúng nếu Nhu còn ở trong nước.

      Trưởng Sở Sưu Tầm đồng ý với Tòa Đại sứ Sài-gòn rằng Nhu không được ưa thích, bị ghét bỏ, sợ hãi và không được tin cậy trong mọi giai tầng công chức, quân đội, trí thức thành phố. Sự thù ghét Nhu bấy lâu ngày một gia tăng khiến người ta chỉ trích chế độ đàn áp. Hughes cũng đồng ý với MACV rằng Nhu có thể thương thuyết với Hà-nội và đại đa số quân đội không chấp nhận Nhu. (FRUS, 1961-1963, IV:212-5)

      Trong khi đó, phe đảo chính cũng bắt đầu nối lại liên lạc. Ngày Thứ Hai, 16/9, Trần Thiện Khiêm mời một nhân viên CIA tới gặp, tuyên bố vẫn tiếp tục dự định đảo chính. Theo Khiêm, các Tướng nóng lòng hơn khi thấy thêm nhiều chứng cớ về việc Nhu móc nối Cộng Sản. Tuần lễ thứ hai của tháng 9, các Tướng đòi Diệm nhường cho 4 ghế Bộ trưởng Quốc Phòng, Nội Vụ, Chiến tranh Chính trị, và Giáo dục. Các Tướng đề nghị Big Minh, André Đôn hay Raymond Khánh làm Bộ trưởng Quốc Phòng (hy vọng là André Đôn sẽ được nhận), Tôn Thất Đính nắm Bộ Nội vụ (để Diệm dễ chấp nhận), Trần Tử Oai hay Lê Văn Kim nắm Bộ Chiến tranh Tâm lý, và Trần Văn Minh (nhỏ) hay Phạm Xuân Chiểu nắm bộ Giáo Dục. Ông Diệm tuyên bố sẽ cứu xét, nhưng chưa quyết định, chờ tới sau ngày bầu cử Quốc Hội [27/9/1963]. Khiêm còn tiết lộ Nhu nói với một số Tướng (như Big Minh, Lê Văn Nghiêm) về những cuộc tiếp xúc với Maneli. Theo Nhu, Maneli đã mang tới đề nghị của Phạm Văn Đồng về việc hiệp thương giữa Bắc và Nam; và Nhu đang nghiên cứu đề nghị trên, sẽ thông báo cho các Tướng biết thêm những bước kế tiếp. Nhu còn nói Lalouette từng đề nghị tương tự.

      Ba Tướng chủ mưu đảo chính là Minh, Khiêm và Khánh. Các Tướng Kim, Chiểu và những người khác chỉ được tham khảo, nhưng không thiết lập kế hoạch. Cho tới hiện tại, kế hoạch của họ chưa bị lộ. Phần Tôn Thất Đính đã được Nhu chỉ thị chĩa súng vào Conein để dọa Conein. Đính tuyên bố đã được Mỹ cho 20 triệu đồng để làm đảo chính, nhưng Đính từ chối, và báo cáo với Nhu. [Hồi ký Tướng Đính không nói đến việc này] Khiêm cũng khẳng định các Tướng không theo Nhu nếu Nhu ngả theo Bắc Việt hay muốn trung lập. ( FRUS, 1961-1963, IV:239-40)

      Hai ngày sau, Thứ Tư 18/9, một sĩ quan Mỹ đến gặp Tướng Minh tại trại Lê Văn Duyệt. Ông Minh tuyên bố VC tiếp tục đoạt tiên cơ, kiểm soát nhiều dân chúng hơn chính phủ. 80 phần trăm dân chúng không hiểu nên theo chính phủ hay VC. Diệm-Nhu tiếp tục bắt giữ đối lập, học sinh, Phật tử, các nhà giam chật ních. Hai doanh trại trong căn cứ Lê Văn Duyệt đầy tù nhân. Học sinh, sinh viên đang ngả theo VC. Tham nhũng, hối mại quyền thế tràn lan. Hầu hết tỉnh trưởng và quận trưởng là đảng viên Cần Lao, họ bắt dân phải hối lộ khi nhận được viện trợ Mỹ. Tiền này chuyển vào quĩ đảng Cần Lao. Tổng Giám Mục Thục nhúng tay vào “bất cứ việc gì ngoại trừ việc đạo.” Trái tim của binh sĩ không dồn vào chiến tranh, Tướng Minh nhấn mạnh. Các sĩ quan trung cấp đều trông đợi đảo chính. (FRUS, 1961-1963, IV:272-3; VNNB, I-C: 1955-1963, tr. 353-5).

      Được hỏi ý kiến về nhận xét của Tướng Minh, Harkins không đồng ý. Theo Harkins, Big Minh đã bị nghi ngờ từ năm 1960, và không được nắm binh quyền. Minh không làm gì cho nỗ lực chiến tranh mà chỉ than phiền, và tìm cách đảo chính. Những lời nhận xét của Minh khó thể kiểm chứng. (FRUS, 1961-1963, IV:274-5, tài liệu 139)

Như để chứng tỏ thiện chí, ngày Thứ Hai, 16/9, Diệm hủy bỏ lệnh thiết quân luật.

      Trong khi đó, tại Oat-shinh-tân, ngày Thứ Ba, 17/9, HĐ/ANQG Mỹ quyết áp lực Diệm phải tuân theo chính sách của Mỹ. (Phillips chống lại việc đưa quân Mỹ vào Việt Nam để thực hiện đảo chính). Kennedy chỉ thị cho Lodge là đã chấp thuận một kế hoạch tổng quát để thực hiện những cải cách về nhân sự và chính sách tại Nam Việt Nam, nhưng chưa thấy cơ hội tốt để loại bỏ chính quyền hiện tại. Dẫu vậy, Kennedy đồng ý cho Lodge quyền được tạm ngưng giao viện trợ để tăng cường áp lực khi thương thuyết, miễn hồ không cắt hoàn toàn viện trợ. Đồng thời, Oat-shinh-tân tham khảo Lodge về 13 điểm cần làm ngay, như tạo tinh thần hòa giải, phóng thích Phật tử và sinh viên học sinh, kiểm duyệt báo chí, việc sử dụng Lực lượng Đặc Biệt. Ngoài ra, tìm cách đưa vợ chồng Nhu khỏi nước, thí dụ như đi nghỉ dài hạn khoảng 6 tháng. Kennedy còn thông báo sẽ gửi McNamara và Taylor qua Việt Nam để thị sát tình hình. Kennedy nhấn mạnh rằng cần ý kiến của Lodge trước khi những sách lược trên được thực thi. (CAP 63516 ngày 17/9; FRUS, 1961-1963, IV:252-4) Lodge phản đối việc cử phái đoàn McNamara và Taylor, sợ rằng dư luận nghĩ Mỹ tiếp tục yểm trợ Diệm. (Ibid., IV:255) Nhưng thực ra, có lẽ vì McNamara và Taylor là hai người chống lại kế hoạch thay anh em ông Diệm-Nhu mà nhóm Harriman và Forrestal cùng Bộ Ngoại Giao chủ trương. (Ibid., IV:251, 256) Hôm sau, 18/9, Rusk cho Lodge biết chuyến đi của McNamara cần thiết để các chuyên viên quân sự nhận định tình hình tại chỗ. (Ibid., IV:Tài liệu 128)

      Tối 18/9, ông Nhu dàn xếp mời vợ chồng Cabot-Lodge dự dạ tiệc, cùng Goburdhun (đại diện India trong UBKSQT), và XLTV Ngoại trưởng Cừu. Ông Nhu lập lại nhiều lần rằng các Phật tử đã bị giết mà không phải tự tử. Ngoại trưởng Cừu cùng một luận điệu. Khi ông Nhu đề cập đến vấn đề dự thảo Nghị quyết của TNS Church, Lodge nói đã có thêm 4 Nghị sĩ bảo trợ dự thảo này. Nhu vừa nói nói sẽ có hành động “vì sĩ diện của Kennedy,” thì bị Lodge ngắt lời, nói vấn đề không phải là sĩ diện của Kennedy mà là khả năng chung của Mỹ và VNCH để thực thi chính sách chống Cộng. Từ tháng 5/1963, điều gây nguy hiểm cho chính sách chống Cộng ấy là dư luận xấu, khiến tạo nên những mối nghi ngờ như thực chăng chính sách ấy xứng đáng để yểm trợ. Rồi Lodge đề nghị Nhu nên rời nước một thời gian, ít nữa cho tới tháng 12, sau khi việc chuẩn chi [cho tài khóa] đã hoàn tất. Ông Nhu cố biện bạch rằng nếu ra đi, không ai trông coi Thanh Niên Cộng Hòa, một lực lượng cần thiết cho chiến thắng. Khi chia tay, Lodge lập lại nhiều lần là muốn Nhu trả lời càng sớm càng tốt. Theo Lodge, Nhu là “một tâm hồn lạc lõng, một con người bị ma ám, kẹt giữa cái vòng quái ác. Những Cơn Giận Dữ đang săn đuổi ông ta.” (Ibid., IV, Tài liệu 129)

      Trưa hôm sau, 19/9, Times of  Vietnam lại tố cáo những kẻ muốn giao số mệnh Việt Nam vào bàn tay CIA. Theo báo này, những thành phần chủ trương đảo chính gồm nhân viên USIS (Sở Thông tin Mỹ), đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA), viên chức trẻ trong Tòa Đại sứ Mỹ và cơ quan USOM (Kinh tế). Tuy nhiên phe quân sự chống lại. Các nhóm thân đảo chính muốn sử dụng VNQDĐ và Đại Việt của Nguyễn Tôn Hoàn. Trong khi đó, Ủy ban Tương trợ Phật giáo tìm cách móc nối với các giáo dân Ki-tô ở Huế. Những cuộc vận động này do Thích Trí Quang, đang tị nạn tại tòa Đại sứ Mỹ và có liên hệ với Cộng Sản, cùng sự yểm trợ của những tên "phiêu lưu ngoại quốc." Không khí thủ đô VNCH trong ngày 19/9 cực kỳ nghiêm trọng. Có tin đồn Nhu ra đi, Tướng Đính bị thất sủng, và sẽ có đảo chính.

      Ngày 19/9 này, Đại sứ Italia d’ Orlandi mật báo rằng Thuần tuyên bố chiến trường ngày một bất lợi và Thuần muốn rời nước. Báo cáo tin trên về Oat-shinh-tân, Lodge nhận xét: Tình hình ngày thêm tồi tệ ở Sài Gòn. Bây giờ chúng ta có cả chứng từ của Bộ trưởng Quốc phòng và vị Tướng số 1—không phải là sản phẩm của xưởng sản xuất tin đồn.” (FRUS, 1961-1963, IV:261n5) Lodge còn báo cáo trực tiếp lên Kennedy rằng anh em ông Diệm-Nhu đang băn khoăn dò đoán thái độ Mỹ, nên Lodge tiếp tục giữ thái độ xa cách, lạnh nhạt, đồng thời nghiên cứu những biện pháp “răn đe” [sanctions], nhưng chỉ sử dụng khi đã chắc chắn có kế hoạch đảo chính. Đại cương có thể tạm ngưng viện trợ về kỹ thuật và giao thông. Mục đích chính là tập cho viên chức Việt thói quen phải xin Lodge viện trợ, nhờ thế có thể thực hiện được những việc nhỏ. [Ngày 25/9, Ball đề nghị tạm ngưng chương trình PL 480. (Ibid., IV:290-1)]

      Về dự thảo ngày 17/9 của Kennedy, theo Lodge, Diệm không muốn chứng tỏ tinh thần hòa hoãn. Diệm muốn khủng bố [terrorize] Phật tử và sinh viên, học sinh. Chắc chắn Diệm không chịu trả LLĐB về Bộ Tổng Tham Mưu, vì như vậy khác nào tự trói hai tay. Về thay đổi chính phủ, thực ra dân chúng chỉ oán ghét họ Ngô. Bộ trưởng thì chỉ có Trương Công Cừu là “gia nô” [the most shameless sycophant I have ever seen]. Lodge cũng nhắc đến nhận xét của Tướng Minh ngày 18/9, và đề nghị xin được tiếp tục thúc dục Dương Văn Minh nếu Minh muốn đảo chính. (Ibid., IV: Tài liệu 130, 131)

c. Phái đoàn McNamara-Taylor:

      Ngày 17/9, Kennedy quyết định gửi Bộ trưởng Quốc Phòng McNamara cùng Tướng Taylor, Cố vấn quân sự, qua thăm Việt Nam để tường trình thêm. Bốn ngày sau, Kennedy gặp riêng McNamara để thảo luận, rồi ngày 23/9, Kennedy chính thức ký chỉ thị chi tiết những điểm cần tìm hiểu. Kennedy còn thêm rằng phái đoàn phải gặp Diệm hai lần; đòi hỏi cải tổ; nhưng đừng đe dọa cắt viện trợ vì sẽ không hữu hiệu. (Ibid., IV:280-2) Ngày này, McNamara và Taylor lên đường ngay.

      McNamara, tưởng nên lập lại, không muốn thay đổi chế độ Diệm. Taylor cĩng vậy. Nhưng chuyến viếng thăm Nam Việt Nam vào hạ tuần tháng 9, đầu tháng 10/1963 của McNamara và Tướng Taylor đóng chặt hơn những chiếc đinh trên nắp quan tài Đệ Nhất Cộng Hòa.

      Ngày 25/9/1963, như để chào đón phái đoàn McNamara-Taylor báo Times of Vietnam đả kích lời phát biểu đòi cắt giảm viện trợ của Nghị sĩ Church và một số dân biểu khác. Theo báo này khoản tiền viện trợ cần cắt là 1,440,000 Mỹ Kim chi dụng cho các nhân viên CIA và 360,000 phụ chi khác để chuẩn bị đảo chính. (CLV, SV, d. 14)

      Chưa có tài liệu nào chứng tỏ McNamara có được đọc bài báo trên hay không, và phản ứng ra sao.

Một trong những người đầu tiên McNamara gặp ở Sài Gòn là học giả “Smith” [P. J. Honey].  Giáo sư Honey nói tiếng Việt thành thạo, từng qua Việt Nam năm 1953 và 1960, lúc ấy là giảng viên Trường Nghiên cứu Đông Phương và Phi Châu ở London. Theo Honey, khi tới Việt Nam vài tuần trước, ông ta nghĩ rằng người Mỹ có thể tìm cách làm việc chung với anh em ông Diệm. Nhưng Honey đã lầm. Vài năm qua, ông Diệm đã già nua và chậm chạp quá mức. Lời chỉ trích chế độ trở thành công khai, từ giới quân đội tới dân sự. Việc ông Diệm đánh phá Phật Giáo làm cho dân chúng sửng sốt. Tất cả những yếu tố trên khiến Honey nghĩ rằng không còn cách nào khiến chế độ cởi mở hay thay đổi quan điểm của ông Diệm. Đã đến lúc nước Mỹ phải quyết định liệu có thể thắng được với chế độ Diệm hay chăng; riêng Honey cảm thấy câu trả lời là không.(Ibid., IV:293-5; In Retrospect, tr. 74) Theo William P. Bundy, người theo McNamara qua Việt Nam, lời chứng của Honey ảnh hưởng lớn trên McNamara. (Ibid., IV:293n2)

      Tại Sài Gòn, ngày Thứ Sáu, 27/9, Richardson nói với McNamara rằng  khủng hoảng Phật giáo kết tinh những bất bình ngủ yên bấy lâu. Việc bắt giữ tập thể học sinh, sinh viên (kể cả con em công chức, quân nhân) là điều xấu. Việc lùng bắt trong đêm khiến dân chúng ghét chế độ hơn. Nguyễn Đình Thuần đã hai lần từ chối chức Tổng thư ký Hội đồng chính phủ; dù Diệm nói trên thực tế Thuần sẽ hành xử như Thủ tướng. Vì vậy Thuần đang bị canh chừng—gia đình họ Ngô coi Thuần như người của Mỹ. Thuần thấy không ai có đạo đức giống Diệm, nhưng nếu họ Ngô tiếp tục cầm quyền sẽ dẫn đến “đại họa” [disaster]. Muốn cứu đất nước cần áp lực Diệm cải tổ, với điều kiện tiên quyết Nhu phải ra đi. Nhu khởi xướng cuộc tấn đánh các chùa. Đừng đánh giá bằng quan sát phiến diện, dân chúng đang tức giận. Hồ Tấn Quyền cũng không thể thuyết phục được chính cha mình về giá trị của chính phủ. Dân chúng ghét Lệ Xuân và em Lệ Xuân (Khiêm). Nếu Nhu định lên thay Diệm, chắc chắn sẽ có chiến tranh. Công An, Mật Vụ không những chỉ bắt giữ mà còn bắt cóc dân chúng, ngày cũng như đêm, chẳng khác gì Kadar ở Hungary. Quản nhiệm tờ Tự Do, tờ báo bị nghi thân Mỹ, cũng đã bị bắt. Các Bộ trưởng đều ứ đến cổ, muốn từ chức, nhưng sợ hậu quả. Trong nhà cựu Ngoại trưởng Mẫu có tới 36 nhân viên an ninh khi ông Mẫu sắp rời nước. Thuần có tên trong danh sách bị ám sát của Khiêm—một tên điên và ẩn ức tình dục. Bộ trưởng Kinh tế, một tín đồ Ki-tô cuồng tín, nói đêm qua mất ngủ vì những lời tuyên bố chống Mỹ của Nhu. Chỉ có CS hưởng lợi. (FRUS, 1961-1963, IV:301-3)

      Trong thời gian ở Việt Nam, McNamara cũng được dịp chứng kiến cuộc bầu cử Quốc Hội nhiệm kỳ thứ ba (1963-1967). Một trong những ứng cử viên độc lập là Nguyễn Trân bị loại. Không một ứng cử viên đối lập nào được tranh cử. Cũng may, mãi tới ngày 7/10 mới công bố kết quả, bằng không McNamara sẽ thấy được rõ hơn nền “dân chủ” ở miền Nam: Trong số 123 người mới đắc cử, có 60 dân biểu đương nhiệm (25 người cũ thất cử). 96 người được chính quyền ủng hộ đắc cử: 55 người thuộc Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia (CMQG), 19 phụ nữ mà tất cả đều thuộc Phong Trào Liên Đới Phụ Nữ (LĐPN). Phạm Văn Thùng và Trần Sanh Bửu bị hai người Việt gốc Hoa đả bại. Đây là hai Dân biểu gốc Hoa đầu tiên. Theo chính phủ Diệm, 92.82% cử tri đi bầu. (IV: Tài liệu 155) Hai vợ chồng ông Nhu đều đắc cử trên 99 phần trăm dân số tại hai tỉnh mà Cộng Sản đã kiểm soát hầu hết vùng nông thôn.

      27/9: CIA báo cáo rằng anh em họ Ngô không còn biết lý lẽ nữa [no longer “rational.”](IV:298)

Buổi thảo luận với ông Diệm tại Dinh Gia Long chiều ngày Chủ Nhật, 29/9, có lẽ là thùng nước đá lạnh đổ lên thiện cảm của McNamara và Taylor nói riêng, chính phủ Kennedy nói chung. McNamara cố xen vào những lời độc thoại của ông Diệm về thành quả tốt đẹp của chế độ mình, nói thẳng rằng những biện pháp đàn áp Phật tử gây trở ngại cho nỗ lực chiến tranh. McNamara cũng đề cập đến những lời tuyên bố "vô trách nhiệm" của Lệ Xuân, như gọi quân nhân Mỹ là những tên lính đánh thuê bé nhỏ [little soldiers of fortune]. Ông Diệm, dĩ nhiên, hết sức bào chữa cho Lệ Xuân, cũng như việc bắt giữ sinh viên, học sinh và tấn công các chùa đêm 20 rạng 21/8. Lệ Xuân, theo ông Diệm, đã bị đả kích tàn nhẫn mấy tháng qua và có quyền tự vệ, dù đôi khi quá đáng. Sinh viên học sinh đã bị những tay gây rối xúi dục, sau khi bị bắt đã hối cải đồng thanh ca tụng chế độ. Về việc đàn áp Phật giáo, McNamara “lạnh cóng” khi nghe ông Diệm nói rằng “lỗi lầm” của ông trong vụ Phật giáo là “đã quá tử tế [too kind] với Phật giáo.” (McNamara, In Retrospect, tr. 76) Ông Diệm còn khoe đã giúp đỡ Phật giáo, số chùa tăng gấp đôi dưới chế độ Diệm. Rồi lập lại những gì báo chí thân chính đã viết: các chùa chiền trở thành chốn hành lạc tập thể, bất cứ ai cũng có thể trở thành tăng ni nếu cạo đầu và mặc áo màu vàng; một trong ba nhà sư tị nạn tại USOM là cựu cảnh sát viên đã bị cách chức vì thiếu khả năng, sống lang thang cho tới hai ba tháng trước rồi tự xưng là tăng và xin tị nạn. (FRUS, 1961-1963, IV:Tài liệu 158; Gravel, II:216). McNamara hiểu rằng ông Diệm không chịu nhân nhượng điều gì, và hình như nghĩ rằng cứ giải thích với người khác về những vấn đề tại Việt Nam là mọi chuyện được giải quyết. (McNamara, In Retrospect, tr. 75-7; FRUS, 1961-1963, IV:321)

[Sau khi đổ vào miền Nam hơn 2 tỉ Mỹ kim suốt 9 năm dài để duy trì chế độ họ Ngô, các quan chức Mỹ đang đối diện chứng nhức đầu quen thuộc của Toàn quyền Pierre Pasquier ba chục năm trước: Anh em họ Ngô tìm mọi cách bảo vệ quyền lợi của gia đình mình bằng mọi giá, bất kể thủ đoạn. (Xem Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối nhà Nguyễn, Tập III)].

      McNamara và Taylor cũng tìm cách gặp nhóm Tướng Minh. Từ ngày 26/9, Trần Thiện Khiêm đã gặp nhân viên CIA để duy trì đường dây liên lạc. Theo Khiêm, cuộc tiếp xúc này do lệnh của “Big” Minh. Khiêm nói thêm rằng cũng biết phe dân sự đang âm mưu đảo chính, và Diệm đã cử Trần Kim Tuyến làm đại diện ở Cộng Hòa Ả Rập. (FRUS, 1961-1963, IV:Tài liệu 149.(IV:291-292)

Buổi tối ngày 29/9, Tướng Taylor và McNamara “tình cờ” gặp Tướng Minh tại sân quần vợt tại Câu Lạc Bộ Sĩ Quan, và muốn gợi chuyện vào lúc nghỉ giữa hiệp. Big Minh chỉ trao đổi những câu xã giao, và hẹn gặp Taylor bất cứ lúc nào tại văn phòng. (Swords and Plowshares, tr. 297-8) Tuy nhiên, mãi tới ngày 1/10, Taylor mới mượn cơ hội đến chào từ biệt để nghe Big Minh tâm sự rằng “quê hương đang bị xiềng xích và chẳng có cách nào tháo ra.”(FRUS, 1961-1963, IV:326-7)

      Theo đúng lịch trình, McNamara và Taylor gặp ông Diệm lần thứ hai trước buổi dạ tiệc tại Dinh Gia Long.(Swords and Plowshares, tr. 298) Nhưng thái độ ông Diệm đã rõ: McNamara chẳng thể khuyên bảo ông Diệm được điều gì.

Ngày Thứ Hai 30/9, McNamara và Taylor gặp Phó Tổng Thống Thơ. Ông Thơ nhận định rằng nỗ lực Mỹ ở Việt Nam cần có 3 đặc tính: mau chóng, hữu hiệu, và thông minh. Mỹ mới có hai đặc tính đầu, còn thiếu đặc tính thứ ba—chưa dùng sức mạnh một cách thông minh. Thể chế cảnh sát trị ở miền Nam tạo nên nhiều bất mãn. Tình trạng bất mãn không chỉ ở thành thị mà lan tràn ở vùng thôn quê. Chỉ có từ 20 tới 30 ấp chiến lược được an toàn. Không thể thuyết phục mà cũng không nên cắt viện trợ. Nếu đưa quân Mỹ vào VN để làm đảo chính thì quá “khờ dại.” Vấn đề này có thể tìm hỏi Vũ Văn Mẫu. (FRUS, 1961-1963, IV:321-3; Gravel, II:249) (ý kiến của ông Thơ, người được Mỹ trù tính đưa lên thay ông Diệm nếu có đảo chính, rất có ảnh hưởng với McNamara. Nhưng McNamara không nhắc gì đến cuộc gặp ông Thơ trong hồi ký Inretrospect, mà chỉ mượn tỉ lệ ước lượng 50-50 chiến thắng Cộng Sản  của Honey khi bàn về việc giữ ông Diệm; tr. 78)

      Ngày 30/9 này, McNamara còn gặp Khâm sứ Vatican d’ Asta, gốc Sicilian, người hiểu biết rõ về gia đình họ Ngô. Theo d’ Asta, công an-mật vụ tra tấn nạn nhân. Hiện nay ông Diệm và Giáo hội xa cách nhau dần. Giới trí thức nghĩ rằng ông Diệm vẫn còn chỗ dụng, nhưng gia đình Diệm phải ra đi. Nhiều người nghiêng về phía trung lập hay ngả theo VC.  Nếu ông Nhu nắm trọn quyền, việc đầu tiên ông Nhu sẽ làm là yêu cầu Mỹ triệt thoái, rồi thương thuyết với Cộng Sản, vì ông Nhu nghĩ rằng mình sẽ trở thành lãnh tụ của cả Việt Nam. D’ Asta đề nghị phải thay ông Nhu ngay. Vẫn theo d’ Asta, không một giáo sĩ nào dám trái ý Tổng Giám Mục  Thục. Ông Thục đã khiến họ sợ hãi. Không thể lý luận với Nhu, Lệ Xuân, hay Thục. Điều duy nhất phải làm là ép Nhu ra đi. Dân chúng không hiểu thái độ người Mỹ ra sao. Chính phủ Mỹ không có một chính sách rõ ràng nào. (FRUS, 1961-1963, IV:tài liệu 160; In Retrospect, tr. 74-5)

      Cũng trong ngày Thứ Hai, 30/9, William H. Sullivan, cố vấn Liên Hiệp Quốc của Bộ Ngoại Giao, báo cáo về những cuộc tiếp xúc với XLTV Đại sứ Pháp, Trưởng đoàn Canada trong UBQTKSẦC về vấn đề liên hệ Bắc-Nam. Họ nghĩ rằng việc Ngô Đình Nhu móc nối với Hà Nội chỉ là tin đồn, tuy nhiên chẳng phải không thể xảy ra. Miền Bắc đang gặp khó khăn kinh tế, muốn hiệp thương. Ngoài ra họ muốn trục xuất Mỹ để giảm bớt ảnh hưởng và áp lực của Trung Cộng. Ông Nhu có hai lý do để bắt tay miền Bắc: Nhu tin đủ khả năng đả bại VC, và muốn đuổi người Mỹ. Nhu đã thảo luận với Đại sứ Lalouette vấn đề này, hy vọng sẽ thương thuyết vào cuối năm. Tuy nhiên, ông Nhu lại tiết lộ với ký giả Joseph Alsop, bởi thế người Pháp không còn tin Nhu nữa. (FRUS, 1961-1963, IV:tài liệu 161)

      Ngày 1/10, như đã lược nhắc, Tướng Taylor đến chào từ biệt Big Minh. Theo ông Minh, cuộc chiến gặp nhiều khó khăn. Ông Minh ngại rằng chiến thắng cuối cùng chưa có dấu hiệu gì. Vấn đề Phật giáo, đây là cuộc tranh chấp giữa Phật giáo và Ki-tô. Các viên chức tỉnh đã nhường cho Ki-tô giáo nhiều đặc ân. Những cuộc biểu tình của sinh viên, học sinh phản ảnh sự bất bình của cha mẹ. Có thể Cộng Sản đã phần nào xúi dục, nhưng căn bản là sự bất công thấm nhập mọi giai tầng xã hội. ìng Minh cảm thấy quê hương bị xiềng xích khó nỗi cựa quậy. Tướng Taylor đề nghị ông Minh có thể liên lạc với mình qua Tướng Harkins bất cứ lúc nào. (IV:326-7)

      Ngày 2/10, McNamara và Taylor bay về Mỹ, và vắn tắt thuyết trình với Kennedy về chuyến tham quan Việt Nam. Hai người đề nghị phải áp lực Diệm thay đổi. Quân lực VNCH phải hoạt động mạnh hơn ở vùng IV để củng cố các ấp chiến lược. Đồng thời, tuyên bố sẽ rút 1,000 quân vào cuối năm. Về chính trị, ép Diệm phải cải cách, và sẽ dùng cách ngưng viện trợ vài ba chương trình làm áp lực. Không đồng ý đảo chính, nhưng đề nghị nên tìm một lãnh đạo mới. (Gravel, II:216; US-Vietnam Relations, 1945-1967, Bk 12, tr. 554-73; FRUS, 1961-1963, IV:336-46 [tài liệu 167])

      Chiều đó, HĐ/ANQG họp bàn về báo cáo McNamara-Taylor. Kennedy chấp thuận tất cả đề nghị của McNamara và Taylor, nhất là việc triệt thoái 1,000 quân vào cuối năm 1963. Tuy nhiên, thời hạn rút quân không được công bố. Bạch Cung ra thông cáo về chuyến qua Việt Nam của McNamara và Taylor như sau: Tình hình quân sự có tiến triển, có thế rút 1,000 quân. Tình hình chính trị nghiêm trọng. Mỹ tiếp tục chống lại những hành động đàn áp tại miền Nam. Nhưng chính sách của Mỹ vẫn là giúp dân chúng tại đây đả bại xâm lăng và xây dựng một xã hội hoà bình, tự do. (Gravel, II:188; FRUS, 1961-1963, IV:Tài liệu 167, 169, 170 (Record of Action No. 2472, 2/10/1963); In Retrospect, tr. 79-80) [Sau này là NSAM 263 ngày 11/10/1963; US-Vietnam Relations, Bk 12, tr. 578]

[Thứ Sáu, 4/10/1963, Đại sứ Pháp tường trình về báo cáo McNamara-Taylor: Mỹ đang đối diện sự nguy hiểm là, theo Sullivan, Ngô Đình Nhu sẽ chờ cơ hội mà Mỹ sẽ đặt ở Nam Việt Nam một guồng máy quân sự đủ mạnh và ông ta đủ quyền lực để đề nghị với Bắc Việt một cuộc ngưng bắn mà điều kiện sẽ là sự triệt thoái quân Mỹ. (CĐ số 5614-18, 4/10/1963; CLV)]

Vũ Ngự Chiêu

arrow.gif (848 bytes) đọc tiếp Tiểu phân đoạn 3: d) Đèn xanh

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: hopthu@giaodiem.net

. ..........