curley_sw_03.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard curley_sw_03.gif (1967 bytes)

.......... .
 

IV. Tổng Thống Cuối Cùng (28-30/4/1975):

       Từ năm 1970, Đại tướng Minh trở thành một lãnh tụ đối lập, nghiêng về phía lực lượng thứ ba. Vây quanh ông là một số chính khách miền Nam, kể cả những thành viên của Ban trí vận đảng CSĐD. Năm 1971, ông Minh nạp đơn ứng cử, sau đó lại rút lui, khiến ông Thiệu phải “độc diễn,” hay “trưng cầu dân ý.” Vì là người miền Nam, từng đeo lon Đại tướng, ông Minh qui tụ được một số chính khách trung lập, hoặc thiên về chủ trương Nam Kỳ tự trị. Từ sau ngày ký Hiệp ước Paris 1973, vai trò Tướng Minh sáng giá hơn.

      Tuy nhiên, phải tới tháng 4/1975—sau khi nhóm Nguyễn Văn Thiệu, Trần Thiện Khiêm, Cao Văn Viên quyết tâm xé nát quân đội Việt Nam Cộng Hòa qua lệnh triệt thoái Pleiku và vùng I—mới có những nỗ lực nhằm đưa Tướng Minh lên thay thế Tổng thống Thiệu. Sốt sắng nhất trong "giải pháp Big Minh" này là chính phủ Pháp. Đại sứ Graham Martin của Mỹ cũng phần nào tiếp tay.

Ngày 15/4/1975, ông Martin chính thức xin loại bỏ ông Thiệu. Ba ngày sau, 18/4/1975, chính phủ Gerald Ford đồng ý. Hai ngày sau nữa, 20/4, Đại sứ Martin gặp ông Thiệu, khuyên từ chức. Tối hôm sau, 21/4, ông Thiệu tuyên bố từ nhiệm, nhường cho Phó Tổng thống Hương lên thay, còn mình sẽ trở lại “sát cánh chiến đấu bên các chiến hữu.”

      Những ngày sau đó, cả Martin và Đại sứ Pháp Mérillon áp lực ông Hương nhường quyền cho Tướng Minh. ìng Hương cố trì hoãn, chỉ muốn phong Tướng Minh làm Thủ tướng (Có tin ông Hương còn muốn cử Nguyễn Ngọc Huy lên thay Nguyễn Bá Cẩn, đã từ chức ngày 23/4, nhưng được lưu nhiệm). Ngày 25/4/1975, sau khi Tướng Minh từ chối chức Thủ tướng, chính phủ Ford đã cắt viện trợ quân sự, và Nguyễn Văn Thiệu cùng Trần Thiện Khiêm trốn chạy khỏi nước, “ông già gân” mới chịu buông xuôi.

      Ngày Thứ Bảy, 26/4, Tổng thống Hương ra trước Quốc Hội công bố quyết định rút lui. Nhưng bàn cãi tới 11 giờ đêm, các Nghị sĩ, Dân biểu vẫn chưa đồng ý về người thay thế. Hôm sau, Chủ Nhật, 27/4, do sự khuyến khích của Đại sứ Mérillon và nhân viên Tòa Đại Sứ Mỹ, Tướng Đôn ra "điều trần" về hiện tình quân sự. Phó Thủ tướng Đôn thông báo cho gần 150 người hiện diện rằng 15 Sư Đoàn Cộng quân đang bao vây Sài Gòn; đường từ Sài Gòn ra Vũng Tàu (Quốc lộ 15) đã bị cắt; và áp lực Cộng quân đang đè nặng trên vùng Long-bình/Long-thành.

Mãi tới 8 giờ 20 tối, sau 50 phút thảo luận, Quốc Hội VNCH—ở phiên họp cuối cùng, với số phiếu 136/2—ủy quyền cho Tướng Minh làm Tổng Thống.

      Phần Minh "lớn," theo lời một nhân chứng, đã bắt được liên lạc với phe CP/LTMN, và có cả đường giây vô tuyến liên lạc với cấp chỉ huy Cộng sản. Cho tới nay, vẫn chưa biết danh tính người tiếp xúc với ông Minh.

      Nhân vật môi giới có lẽ là Trần Bạch Đằng—người phụ trách trí vận ở Sài Gòn, một thời làm Bí thư Thành ủy, từng trao đổi tù binh với Tòa Đại sứ Mỹ từ trước Tết Mậu Thân (1968). Nhưng cũng có thể chẳng ai khác hơn nhóm Hoàng Anh Tuấn-Võ Đông Giang ở Tân Sơn Nhất. Năm 1982, trong tập hồi ký Kết Thúc Cuộc Chiến Tranh 30 Năm, Thượng tướng CS Trần Văn Trà tiết lộ:

      "Trong lúc Đại sứ Mỹ Martin cùng trùm CIA, Polgar, kết hợp với các nhà ngoại giao, các nhà chính trị khác cố tìm mọi cách đi đến một cuộc đàm phán... thì phái đoàn của ta trong Ban Liên Hợp Quân Sự Hai Bên ở trại David bỗng trở nên quan trọng hết sức... Trong những ngày này chúng tôi vẫn liên lạc thường xuyên với phái đoàn chúng ta, và theo sự chỉ đạo thống nhất của Bộ Chính Trị, trả lời nhanh chóng các bức điện, hướng dẫn mọi ý tứ và hành động cho phù hợp với không khí ngoại giao cũng như diễn tiến của chiến trường."

       Trong cuốn Đại Thắng Mùa Xuân, Văn Tiến Dũng cũng đề cập đến vai trò của Thiếu Tướng Hồ Xuân Anh (Hoàng Anh Tuấn) và phái đoàn CS trong Ủy Ban Quân Sự Hai Phe ở căn cứ Tân Sơn Nhất. Theo Dũng, nhiều nhân vật Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa đã đến gặp Anh và Giang để dọ ý về triển vọng một giải pháp chính trị.

Tuy nhiên, từ Tổng Thống Pháp Giscard d'Estaing cho tới Đại sứ Mérillon đều lạc vào mê hồn trận của Cộng Sản. Những chính khách miền Nam như “Big” Minh, Đôn hay nhóm thiên tả ở Sài Gòn—với những đại diện như Chân Tín, Lý Quí Chung, Dương Văn Ba, Châu Tâm Luân v.v... —cùng phe nhóm “thành phần thứ ba” Trần Văn Hữu, Trần Đình Lan ở Paris cũng lạc đường.

      Ngày 26/4/1975, Văn Tiến Dũng và Phạm Hùng (Bí thư B-2) ký vào lệnh hành quân đánh Sài Gòn. Trước đó ít giờ, Bộ Chính Trị Đảng CSVN họp ở Hà Nội, rồi lệnh cho CP/LTMN ra một tuyên cáo không hề đề cập đến cá nhân ông Dương Văn Minh, hay nỗ lực xin thương thuyết. Đây là sự im lặng hữu ý: tiếp tục ru ngủ mọi phe phái về viễn ảnh "hòa đàm." Thực ra, bản tuyên cáo ngày 26/4/1975 này mang ý nghĩa một tối hậu thư: Ngoài những sáo ngữ quen thuộc, CSBV khẳng định chỉ còn một mục đích "xóa bỏ chính quyền Sài-gòn, công cụ của chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ, xóa bỏ bộ máy chiến tranh, bộ máy kìm kẹp, đàn áp nhân dân miền Nam Việt Nam."(ND, 27/4/1975) Đòi hỏi này, hiểu theo nghĩa thông thường, là phải giải tán toàn bộ chính quyền, quân đội và cảnh sát VNCH. Nhưng từ Mérillon đến ông Minh "lớn" vẫn chưa hết hy vọng. Đặc phái viên của ông Minh như Châu Tâm Luân, Chân Tín hay một nhân vật nào đó sau này được cử làm Bộ trưởng Tài Chính, v.v... tiếp tục vào gặp Anh và Giang tại căn cứ Tân-sơn-nhất. Giống như các đồng chí của họ ở Pháp, Anh hay Giang chỉ mập mờ nói "có thể" có một giải pháp chính trị. Ngay đến Mat-scơ-va cùng các phái đoàn Hungary (Hung) và Poland (Ba Lan) cũng tiếp tục sử dụng những lối diễn tả mơ hồ về quan điểm hoặc lập trường của Hà Nội.

       Sự trá biến của người Cộng Sản—trong màn hỏa mù "tấn công ngoại giao" này—rồi sẽ khiến Hà Nội, nhiều năm sau, luôn luôn bị nghi ngờ là thiếu chữ tín, không đáng tin cậy. Nhưng ở những ngày cuối tháng 4/1975, hầu như ai nấy đều sống trong ảo vọng, hoặc tạo ảo vọng cho người khác. Một trong những người nuôi ảo vọng lớn nhất là Tướng Minh.

      Ngoài mặt trận, Cộng quân vẫn hoạt động mạnh. Một đơn vị của Lê [Trịnh?] Trọng Tấn chiếm được Bà-rịa, rồi tiến xuống Vũng-tàu. Ngày Thứ Hai, 28/4/1975, một đơn vị của Tấn đánh Long-thành, và đưa được pháo 130 ly vào Nhơn-trạch (Đông Nam Sài Gòn). Từ đây, pháo địch có thể khống chế sân bay Tân Sơn Nhất.

Năm giờ rưỡi chiều hôm đó, Tướng Minh làm lễ nhậm chức Tổng Thống. Ngoại trừ Đại sứ Martin và Mérillon, hầu hết các đại diện ngoại giao đoàn ở Sài-gòn đều vắng mặt. Nhiều Bộ Trưởng, Tướng lãnh, Dân Biểu, Nghị Sĩ cũng biến dạng. Xuất hiện quanh ông Minh chỉ có Phó Tổng Thống Nguyễn Văn Huyền (gần như bị liệt vì ung thư tủy sống), Thủ tướng Vũ Văn Mẫu cùng một số khuôn mặt quen thuộc của Dinh Hoa Lan.

      Ngay sau khi ông Minh "lớn" vừa nhậm chức, một đoàn năm chiếc A-37 do phi công Cộng Sản điều khiển bay vào không phận Sài Gòn, đánh phá khu vực Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Không Quân của Chuẩn tướng Phan Phụng Tiên. Thiệt hại không có gì đáng kể, nhưng đám khói đen nghi ngút bốc lên lưng trời, và lệnh cấm quân được khẩn cấp ban hành khiến ai nấy bàng hoàng kinh hãi.

      Tại Paris, sáng ngày 28/4 (chiều 28/4 ở Sài Gòn), Phạm Văn Ba cũng tới Bộ Ngoại Giao Pháp lật con bài tẩy của Hà Nội: Minh "lớn" cũng không chấp nhận được; và, "quân dân giải phóng miền Nam" sẽ chiếm Sài Gòn bằng võ lực. Mérillon chỉ còn biết chuẩn bị hành lý hồi hương. Tướng Paul Vanuxem cũng bị trục xuất vài ngày sau. (Theo một tài liệu Cộng Sản in năm 1985, Vanuxem cố thuyết phục Tướng Minh nên liên hệ với Trung Cộng)

      Nửa đêm ngày 28 rạng 29/4/1975, pháo Cộng quân nã vào phi trường Tân-sơn-nhất, mở đầu chiến dịch Hồ Chí Minh. Nhưng Tổng thống Minh "lớn" vẫn chưa hết hy vọng. Ông Minh cho lệnh Thủ tướng Mẫu đòi người Mỹ rút khỏi Việt Nam, và các binh sĩ chỉ phản ứng nếu bị tấn công. Tối đó, ba sứ giả của ông Minh vào Tân-sơn-nhất lần chót; nhưng bị giữ lại một cách khéo léo để làm con tin.

      Sáng ngày 30/4/1975, trong khi nhịp cầu di tản bằng trực thăng (Frequent Wind)  từ sân bay trên nóc dinh Tòa Đại sứ Mỹ ra Hạm đội số 7 liên tục diễn ra, các đơn vị Cộng Sản từ nhiều hướng tiến vào Sài Gòn. Nhiều binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa đánh những trận đánh để đời từ trại Hoàng Hoa Thám (Nhảy Dù) tới Thị Nghè. Lúc 11G30, chiếc xe tăng đầu tiên của Lữ Đoàn 203 Cộng Sản húc nghiêng cổng Dinh Độc Lập, chạy vào nội viên. Cán binh Đoàn đặc công 116, với sự giúp đỡ của một số viên chức miền Nam, chạy lên lầu, phất cờ "Giải Phóng" cho các phóng viên chụp hình quay phim; và tìm ra phòng họp ở tầng thứ nhất, nơi ông Minh và toàn bộ chính phủ VNCH đang chờ đợi.

      "Chúng tôi đang chờ các ông đến để bàn giao," Tướng Minh nói khi các cấp chỉ huy CS bước vào phòng họp.

"Các ông không còn gì để mà bàn giao," Chính ủy Lữ đoàn 203 ngạo nghễ trả lời Tướng Minh. "Chỉ có đầu hàng không điều kiện. Mời ông ra tuyên bố ở Đài Phát Thanh: Đầu hàng không điều kiện" (Trà 1987:294).

      [Sau này một ký giả báo Nhân Dân trốn ra hải ngoại tự nhận là đã nhận chính quyền từ tay Tướng Minh, và bị chính viên cựu Chính ủy Lữ đoàn 203, Đại tá Bùi Văn Tùng, lên án là biếm xưng lịch sử]

Lệnh đầu hàng không điều kiện của Tướng Minh—một điều khó tránh—tạo nên nhiều lời chỉ trích đó đây.

      Nhiều người cho rằng Tướng Minh “hèn nhát” đã không cho phép binh sĩ chiến đấu đến giọt máu cuối cùng. Một Thiếu tá LLĐB đã từng vào tận Dinh Độc Lập chất vấn ông Minh trong những giờ phút cuối cùng của Sài Gòn. Lập luận trên còn được đẽo gọt, tôi luyện hơn dài theo bao năm tháng tù đày, khổ ải của quân dân miền Nam “sau khi đứt phim.” Để điểm nhịp cho luận cứ trên, họ nhắc đến những cái chết vinh hơn sống nhục của các Tướng Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Trần Văn Hai, và nhiều liệt sĩ vô danh khác.

      Lại có người cho rằng Tướng Minh thân Cộng, hay bị Việt Cộng móc nối; nên đưa hai tay dâng miền Nam cho Cộng Sản.

Những nhận xét trên phần nào quá chủ quan và đầy xúc động. Không một ông Tướng “hèn nhát” nào chịu đứng ra cầm quyền ở những giờ phút tàn cuộc của một trận chiến. Giữa lúc những kẻ từng nắm quyền lực thực sự—những cai thầu chiến tranh như Nguyễn Văn Thiệu, Trần Thiện Khiêm, Cao Văn Viên, v.. v...—cùng gia quyến, nha trảo đã bí mật hoặc công khai bỏ chạy ra hải ngoại, “vắt chân lên cổ” hoặc “cúp đuôi giữa hai cẳng” mà chạy, với những tài sản khổng lồ  bí mật chuyển ra hải ngoại, từ lâu. (Năm 1969, một số báo báo Newsweek đã bị tịch thu và cấm lưu hành ở Việt Nam vì loan tin vợ Thiệu chuyển ngân ra ngoại quốc, mua nhà cửa, mở trương mục ở Thụy Sĩ, v.. v...) Nhưng cũng phải thêm ngay rằng ông Minh không có được cái đại dũng của một vị Tổng Tư lệnh. Đã đứng ra nhận lĩnh trách nhiệm cầm đầu miền Nam trong hoàn cảnh ấy, ông Minh hẳn có thể bày tỏ lòng trung trinh của mình với đất nước và dân tộc bằng cái chết tự nguyện sau khi cho lệnh buông súng đầu hàng, hơn kéo dài cuộc sống thừa thãi trong vùng bóng tối lạnh lẽo bên lề lịch sử.

      Vấn đề Tướng Minh “thân Cộng” hay chăng là một vấn đề cần được tra cứu thêm. Có những bằng chứng cho thấy Tướng Minh bị vây bọc bởi một số cán bộ tình báo chiến lược Việt Cộng. (Tài liệu Cộng Sản ấn hành năm 1985 cho rằng nhóm tình báo nằm vùng trong tờ Điện Tín, sau này chủ trương tờ Bản tin của Dinh Hoa Lan đã chi phối “Big” Minh và những người thân cận) Nhưng ở trạng huống của những ngày cuối tháng 4/1975 ấy, “thân Cộng” hay không chẳng phải yếu tố quyết định. Hơn nữa, tài liệu văn khố cho thấy “phiến Cộng” ra vào các dinh thự miền Nam nổi danh nhất phải kể Ngô Đình Nhu, Nguyễn Khánh, Nguyễn Văn Thiệu, v.. v... mà không phải Tướng Minh.

      Điều cần tìm hiểu là tại sao Tướng Minh, ở những giờ phút tàn cuộc ấy, đã đứng ra đảm nhận chức Tổng thống? Tướng Minh biết chăng tình thế tuyệt vọng của miền Nam? Cả một quân lực VNCH đã bị xé vụn thành từng mảnh qua cái lệnh quái ác “triệt thoái Pleiku” và Quân đoàn I của Thiệu-Khiêm-Viên ngày 11/3/1975.(Chính Đạo, 55 Ngày & 55 Đêm: Cuộc sụp đổ của VNCH, in lần thứ 5 [Houston: Văn Hóa, 1999], tr. 164, 194-204) Những đơn vị tinh nhuệ nhất của quân đội đã bị tan nát ở Khánh Dương, Quảng Trị, và rồi Phan Rang, Long Khánh, Bà Rịa, Phước Thành, Biên Hòa. Mặc dù Sài Gòn có thể cầm cự được vài tuần, đôi tháng, nhưng cái kết cuộc cuối cùng khó tránh, và chỉ kéo dài thêm sự khổ đau, chết chóc cho lương dân vô tội, hay sự tàn phá của Sài Gòn cùng các thị trấn khác, mà không thể đảo ngược tình thế. Thật vậy, ngày 22/4/1975, Tổng thống Ford tuyên bố “chiến tranh Việt Nam đã là dĩ vãng.” Chẳng có không yểm; quân viện cũng không; những người với óc suy lý trung bình thôi cũng thấy rõ sự vô vọng của cuộc tử thủ. Đó là chưa nói đến tinh thần chiến đấu, hoặc đúng hơn sự mất tinh thần chiến đấu, của binh sĩ. Đại đa số Tướng tá và cấp chỉ huy đã đào ngũ. Sự đột nhập của đặc công Cộng Sản vào thành phố. Và mặt trận tuyên truyền đủ loại, từ một giải pháp chính trị màu hồng, tới cuộc tắm máu của Cộng Sản. Dẫu những thiên tài quân sự như Quang Trung Nguyễn Huệ, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, hay Lý Thường Kiệt tái sinh cũng đành khoanh tay.

      Để trả lời phần nào nghi án trên, cần tìm hiểu Đại sứ Mérillon, Tướng Vanuxem cùng sở tình báo Mỹ, và các cán bộ CS nằm vùng ở Sài Gòn đã chiêu dụ ông Minh bằng những lập luận hay hứa hẹn gì để ông tình nguyện đứng ra “đổ vỏ” cho “những kẻ ăn ốc” đã cao bay, xa chạy? Tại sao Tướng Minh không để mặc ông Trần Văn Hương thủ vai “Lê Lai cứu chúa” đến phút chót? (Và, không thể không hỏi tại sao ông Hương không bị tập trung cải tạo như những người khác?)

      Trong khi các tư liệu văn khố chưa được giải mật hoàn toàn, người ta trông đợi hồi ký của Tướng Minh—nếu có—sẽ giúp soi sáng đôi phần những nghi án lịch sử trên.

Cách nào đi nữa, vai trò của Tướng Minh trong cuộc đầu hàng của miền Nam chỉ rất phụ thuộc. Những tác nhân đã góp phần tích cực cho sự đầu hàng ấy khởi đi từ anh em ông Diệm-Thục-Nhu-Cẩn, tới những Nguyễn Khánh, Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Văn Thiệu, Trần Thiện Khiêm, Cao Văn Viên, v.. v... Chúng ta chẳng bao giờ có một lãnh tụ đủ khả năng duy trì miền nam Việt Nam như một tiền đồn chống Cộng. (Nói theo một chuyên viên Pháp năm 1954, người lãnh tụ có khả năng ấy đã chết, hoặc đang ở tuổi ấu thơ, hay chưa sinh ra đời) Chúng ta không hề, hoặc chưa hề có những lãnh tụ yêu nước, thương dân do mình lựa chọn. (Ngoại trừ những cá nhân được cung văn thành yêu nước, thương dân trong những loại tài liệu tuyên truyền mạo hóa thành lịch sử, chẳng hề được minh chứng bằng thành tích thực sự, mà chỉ có những nhận định võ đoán [sweeping remarks]. Hồ Chí Minh và Ngô Đình Diệm là hai trường hợp tiêu biểu) Oái oăm thay, suốt 21 năm tồn tại của Việt Nam Cộng Hòa, chỉ có những tập đoàn cai thầu chống Cộngcai thầu chiến tranh mà ngoại cường đã áp đặt lên đầu cổ chúng ta, bằng bạo lực và truyền đơn khẩu hiệu.

      Chết, hết truyện. Đó là đoạn kết của mỗi tác nhân lịch sử. Nhưng những trang lịch sử quốc dân rồi sẽ tái dựng lại đầy đủ sự thực trong một tương lai gần. Hậu thế sẽ có dịp thẩm giá Tướng Minh một cách trung thực hơn. Vì Tướng Minh, giống như ông Trần Văn Hương, chỉ là những tác nhân phụ thuộc, ở buổi “hết quan, tàn quân.” Nhóm Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu, Trần Thiện Khiêm, Cao Văn Viên, v.. v... mới là những tội nhân chính của lịch sử .

Vũ ngự Chiêu
Houston, 6/10/2001
 
Chủ Nhật, 22/9/1963:
* Roma: Lệ Xuân ở Roma [cho tới 25/9/1963]
Thứ Hai, 23/9/1963: Lodge cho đặc phái viên AFP phỏng vấn. Trong buổi tiếp kiến Đại sứ Lalouette, Lodge nói Nhu thông minh nhưng tàn bạo.
Việc tìm một giải pháp qua thương thuyết cho Việt Nam chưa hợp thời, vì miền Nam đang ở vào thế yếu. (CLV, SV, d. 14)
- Phái bộ quân sự đột ngột loan báo chuyến viếng thăm của
McNamara và Tướng Taylor.
* Washington, DC, 10G00: Kennedy gặp mặt phái đoàn McNamara tại Bạch Cung.
Duyệt xét lần chót những điểm cần làm. McNamara sẽ mang theo một thư riêng của Kennedy gửi Diệm. (FRUS, 1961-1963, IV:280-2 [tài liệu 143])
- McNamara và Taylor lên đường qua Việt Nam [cho tới ngày 30/9/1963].
Thứ Ba, 24/9/1963: 21G25 [10G25 ngày 25/9 VN]: BNG Mỹ chuyển cho Lodge bản thảo lá thư Kennedy gửi Diệm.
25/9/1963: McNamara-Taylor họp mật với Lodge và Harkins.
Lodge cho lệnh Colby không được tiếp xúc với Nhu hay Diệm vì Colby có giao tình với Nhu. (Colby 1989, tr. 144-5)
26/9/1963: McNamara và Taylor thị sát miền Nam.
McNamara được Richardson, trưởng lưới CIA Sài-gòn, thuyết trình về chính phủ Diệm.
Trong số 34 điểm, có những điểm đáng kể sau:
19. Bốn Tướng đã đòi tham gia chính phủ.
20. Để cứu Nam Việt Nam, phải áp lực Nhu ra đi.
21. Nhu là người chủ xướng (instigator) những cuộc đánh phá chùa chiền.
25. Tư lệnh Hải quân đã cứu mạng sống Diệm năm 1960; nhưng không thể thuyết phục được cha ông ta rằng chế độ đàng hoàng.
31. Các Bộ trưởng đều chán ngán, muốn từ chức.
33. Trần Văn Khiêm, em Lệ Xuân, đang nắm giữ mật vụ, là “một thằng khùng và cuồng dâm.” "R" [Nguyễn Đình Thuần] có tên trong danh sách bị trừ khử của Khiêm.
34. Bộ trưởng Kinh tế nói với "R" là phía sau Nhu phải có Cộng Sản giật giây. (FRUS, 1961-1963, III:Tài liệu 154). [Xem 2/10/1963]
- Trần Thiện Khiêm gặp nhân viên CIA.
Khiêm nói “Big” Minh chỉ thị Khiêm gặp nhân viên CIA để duy trì đường dây liên lạc.
Khiêm biết phe dân sự cũng đang âm mưu đảo chính.
Các Tướng đã quyết định chọn ngày 4/10/1963 làm hạn chót cho Diệm thực hiện cải cách.
ít ngày trước Diệm đã ký nghị định đặt LLĐB của Lê Quang Tung dưới quyền điều động của Bộ TTM, tuy nhiên không rõ nghị định này sẽ có hiệu lực bao lăm. Diệm cũng đã cử Tuyến làm đại diện ở Cộng Hòa é Rập.
Nhân viên CIA không nghĩ rằng Diệm sẽ chịu cải tổ chính phủ. (FRUS, 1961-1963, IV:Tài liệu 149)
* Washington, DC: Cơ quan CIA soạn thảo một tài liệu về khả năng hòa giải giữa Bắc và Nam.
Thứ Sáu, 27/9/1963, 13G30: BNG đề nghị Lodge nghiên cứu những phương thức lãnh đạo mới:
Mở rộng chính phủ Diệm, có hoặc không có Nhu;
một chính phủ với Thơ cầm đầu;
một chính phủ mà đa số là quân nhân.
Chủ Nhật, 29/9/1963:
* Sài-Gòn, 14G30-17G30: McNamara-Taylor gặp Diệm.
10/1963:
* Sài-Gòn: Tôn Thất Đính gặp Dương Văn Minh.
Thứ Ba, 1/10/1963:
* Sài-Gòn: Taylor chào từ biệt Big Minh.
- Taylor gửi thư cho Diệm.

arrow.gif (848 bytes) Về trang Nghiên cứu & đối thoại tháng 3-2003

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: hopthu@giaodiem.net

. ..........