curley_sw.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw.gif (1967 bytes)

.......... .
 
 
Mùa Phật Đản Đẫm Máu
 
Chính Đạo

 

(trích: Tôn Giáo & Chính Trị: Phật Giáo, 1963-1967)

Đây là chương sách mở đầu cuốn Tôn Giáo & Chính Trị: Phật Giáo, 1963-1967, do nhà Văn Hóa xuất bản năm 1994. Gần 10 năm qua, nhiều tài liệu văn khố Mỹ, Pháp và Liên Hiệp Quốc đã được giải mật thêm, nên tác giả đã hiệu đính chương này sau mỗi lần nghiên cứu ở các văn khố. Tuy nhiên, trên đại thể, những nét chính vẫn không thay đổi bao lăm.

Xin đọc thêm “Cái chết của một hàng tướng: Dương Văn Minh, 1916-2001,” trong Nguyên Vũ, Ngàn Năm Soi Mặt (Houston: Văn Hóa, 2002), tr. 9-156.

I. Bối cảnh chính trị & xã hội miền Nam trước 1963:

Từ ngày được Mỹ đưa về nước cầm quyền để xây dựng một tiền đồn chống Cộng, dù muốn dù không, dù ý thức hay không ý thức, Ngô Đình Diệm (1897-1963) tạo nên một thời đại hoàng kim của Ki-tô giáo.(1)

1. Theo tài liệu văn khố Pháp, Diệm sinh ngày 27/7/1897 tại Đại Phong hay Đại Phong Lộc, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Xem Nguyên Vũ, Paris Xuân 96 (Houston: Văn Hóa, 1997), tr. 165. Sau này, khi lên cầm quyền ở miền Nam, Diệm đổi ngày sinh thành 3/1/1901. Chẳng hiểu tại sao có việc man khai hộ tịch trên, vì nếu sinh năm 1901, Diệm không thể được chức Cửu phẩm và làm việc tại Tân Thư Viện Huế vào năm 1917, khi mới 16 tuổi. Xem Ngô Đình Diệm, “L’Encrier de S. M. Tu-Duc: Traduction des Inscriptions [Nghiên mực của vua Tự Đức: Bản dịch những chữ khắc];” Bulletin des Amis du Vieux Hue [BAVH], Bộ IV, số 3 (Tháng 7-9/1917), tr. 209. Một trong những động lực trong việc man khai trên có lẽ là để hợp thức hóa vai “em” của Diệm với Giám Mục Ngô Đình Thục (Thục sinh ngày 6/10/1897 tại Phước Quả, Thừa Thiên, thua Diệm hơn một tháng). Về địa danh “Đại Phong Lộc,” đây cũng là nơi sinh của Ngô Đình Khôi, anh cả trong gia đình, con Ngô Đình Khả và người vợ lớn đã chết sớm, trước khi Khả lấy bà kế thất Phạm Thị Thân. Xem Chính Đạo, Việt Nam Niên Biểu [VNNB], Tập I-C: 1955-1963 (Houston: Văn Hóa, 2002), tr. 110. Về vấn đề người Mỹ có đưa Diệm lên cầm quyền hay chăng, còn một số khoen nối thiếu sót. Trên danh nghĩa, Bảo Đại đã chọn Diệm làm Thủ tướng toàn quyền vào tháng 6/1954, thay Hoàng thân Bửu Lộc, sau khi Pháp quyết định thương thuyết với Việt Minh để tìm một giải pháp chính trị. Tuy nhiên, ai cũng rõ Bảo Đại—một Quốc trưởng bù nhìn do Mỹ và Pháp lập nên từ năm 1949—chẳng có quyền lực gì trong việc lựa chọn Thủ tướng hay hoạch định chính sách. Nhiệm vụ Quốc trưởng của Bảo Đại chỉ có tính cách “nghi lễ,” với số lương chính thức hàng năm là “5% tổng số thu nhập toàn quốc.” Nguồn tin quân sự Mỹ cho rằng Hồng Y Spellman và Tướng hồi hưu Donovan—cựu Giám đốc Sở Tình Báo Chiến Lược (OSS), tiền thân của Cơ quan Trung Ương Tình Báo Mỹ (CIA), lúc đó đang cầm đầu một cơ sở kinh tài trên đường Wall Street, New York—đứng sau kế hoạch vận động Diệm về cầm quyền. Tuy nhiên, XLTV Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn lại công khai chỉ trích Diệm là chẳng có kế hoạch gì hơn “nương tựa vào Mỹ.” Diệm, tưởng cũng nên ghi nhận, đã móc nối với Tổng Lãnh sự Mỹ Charles Reed ở Sài Gòn từ năm 1946, và năm 1947 gặp Tổng Lãnh sự Mỹ ở Hongkong để xin viện trợﮠXem Chính Đạo, VNNB, Tập I-B: 1947-1954, tr. 72-73. Ba năm sau, Thục dẫn Diệm qua Mỹ để “tu học” với kế hoạch sử dụng giáo dân Ki-tô làm hạt nhân cho kế sách chống Cộng và thành lập quân đội quốc gia. Từ ngày này, Diệm trở thành một lá bài trừ bị  “chí sĩ quốc gia chống Cộng,” của Mỹ. Vì thế, từ ngày 1/6/1954—gần một tháng trước ngày Diệm về nước—Đại tá Edward E. Lansdale đã qua Việt Nam để giúp Diệm củng cố quyền lực. Năm 1960, khi tình hình trở nên nghiêm trọng, chính Diệm lại xin Lansdale làm Cố vấn cho mình, nhưng Mỹ không chấp thuận. Đây có thể là một trong những lý do khiến Diệm-Nhu bắt đầu ve vãn Hà Nội, và có thái độ chống Mỹ để bảo vệ quyền lực cá nhân và gia đình—giống như âm mưu chống lại Toàn quyền Pierre Pasquier năm 1933.

Ngày 25/4/1961, Lansdale, sĩ quan điều hành Ủy Ban Đặc Nhiệm Việt Nam viết báo cáo lên Gilpatric về “No Din Zee’em” (Ngô Đình Diệm) như sau:

Ông ta lùn, mập tròn. . . Nhiều người không chú ý đến cặp mắt đen hay liếc trộm [snapping] của ông ta mà chỉ chú ý đến cặp giò chỉ vừa đủ chạm mặt đất khi ông ta ngồi. Tuy nhiên, ông ta không cảm thấy ngượng ngùng về chuyện lùn, và có vẻ rất tự nhiên chung quanh những người Mỹ cao lớn. . . .

Ông ta tỏ vẻ ăn uống ngon lành (và thường có sở thích ăn ngon). Nụ cười của ông ta có vẻ e dè và bất thường. . . .  Diệm sinh ngày 3/1/1901 [sic], . . . Năm 25 tuổi [1926], Diệm đã được cử làm quan đầu tỉnh. Nhưng sau “sáu tháng [sic] làm Thượng thư” Diệm từ chức, trở thành “người hùng thực sự của người Việt.” Từ đó, anh em Diệm “âm thầm chống cả Pháp lẫn Cộng Sản.” Diệm là một người độc thân 60 tuổi, “đã cắt bỏ mối tình với người yêu đầu đời để dâng hiến cho tổ quốc.” (US-Vietnam Relations, 1945-1967, Bk 11, tr. 36-41)

[Lansdale dường không biết nhiều về dĩ vãng Diệm cũng như họ Ngô. Hầu hết chi tiết về thành tích chống Pháp của Diệm và gia đình, đặc biệt là Ngô Đình Khả, đều sai lầm. Xem thêm, Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối nhà Nguyễn, 1883-1945, 3 tập (Houston: Văn Hóa, 1999-2000), tập III; Nguyên Vũ, Paris Xuân 1996 (Houston: Văn Hóa, 1997); Phạm Văn Liễu, Trả Ta Sông Núi (Văn Hóa: 2001), I:346-349.

Qua hệ thống đảng Cần Lao Nhân Vị, với bộ phận ngoại vi là Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia,(2) giáo dân Ki-tô nắm giữ hầu hết những chức vụ quan trọng trong chính quyền cũng như quân đội.

2. Xem chi tiết về hai tổ chức này trong Chính Đạo, VNNB, Tập I-C: 1955-1963 (Houston: Văn Hóa, 2000) & Tập II-B: Các tổ chức chính trị (Houston: Văn Hóa, đang in). Xem thêm Liễu, Trả Ta Sông Núi, I:333-342.

Trong quân đội, chẳng hạn, Nha Tuyên Úy Quân Đội thành lập ngày 7/7/1956 mà Giám đốc là Giám Mục Trương Cao Đại (1956-1958), rồi Lê Hữu Từ (1958-1960), v.. v... Đại đa số các Tuyên úy là Linh mục Ki-tô (40 người), số còn lại chỉ có dăm Mục sư Tin lành. Không hề có một Tuyên úy Phật giáo, Cao Đài hay Hòa Hảo.(3)

3. Mãi tới ngày 1/7/1964 mới có Tuyên úy Phật giáo. Xem thêm Piero Gheddo, The Cross and the Bo-Tree [Thập tự và Bồ đề], do Charles U. Quinn dịch qua Anh ngữ (New York: Sheed & Ward, 1970), tr. 152-154 [Sẽ dẫn: Gheddo 1970]; Phong Hien, "Le catholicisme sous Ngô Dinh Diem [Ki-tô giáo dưới thời Ngô Đình Diệm];" Etudes vietnamiennes (1978), 53:82-115.

Bản báo cáo ngày 8/9/1962 của Đại sứ Pháp, Roger Lalouette, phản ảnh rõ ràng ưu thế của giới tu sĩ và giáo dân Ki-tô: 

Ki-tô giáo luôn luôn giữ một địa vị đặc quyền, quan trọng hơn tỉ lệ giữa số tín đồ và dân chúng.

Từ ngày 14/1/1961, Giáo hội Ki-tô Việt Nam được thành lập tương tự như những quốc gia Ki-tô giáo quan trọng. . . .

Mối quan tâm của các Giám mục Việt Nam nghiêng về thực tiễn hơn thần học và tri thức. Các tín đồ Ki-tô Việt theo một lối thờ phụng đơn giản, giống như các tín đồ Phật giáo hay Khổng giáo, và không hề thắc mắc hay tra vấn những đề tài mà tín đồ Ki-tô ở các nước khác quan tâm, như Mặc khải (Révélation) hay định nghĩa của giáo điều (Dogme). Sự trợ giúp vào những nghi lễ với một thái độ ấu trĩ đủ thỏa mãn nhiều người. Những giáo mục trẻ cố gắng hướng dẫn tín đồ Ki-tô để tìm hiểu sâu xa thần học tôn giáo phải thú nhận rằng họ, nhất là nông dân, tỏ ra rất ít quan tâm.

Về vấn đề thống nhất tín đồ Ki-tô, các giáo mục và giáo dân rất ngần ngại. Giáo hội Ki-tô chỉ là thiểu số trong dân chúng, phần lớn theo đạo Phật và Khổng, nhưng lại được hưởng những ưu quyền của chế độ, bởi thế tạo nên sự thù nghịch trong giới không Ki-tô. Các tín đồ Ki-tô Việt chẳng những không độ lượng với người Lương, mà còn thù nghịch cả với những tín đồ Thiên chúa không qui phục Roma. Một giáo mục trẻ ở Qui-nhơn, do Pháp đào tạo, tiết lộ không dám gặp cả những mục sư Tin lành và càng không thể tiếp xúc các tăng sĩ Phật giáo địa phương, vì giáo dân sẽ chống đối; họ chưa hề biết đến nhu cầu tiếp xúc với các tôn giáo khác và nhất là sự độ lượng tôn giáo.

Vấn đề phân biệt giữa thần quyền và thế quyền cũng tạo sự hoang mang trong giới giáo mục. Ngô Đình Thục, trên cả hai cương vị Tổng Giám mục Huế và anh trai Tổng thổng thống, đã nhiều lần trực tiếp ban lệnh cho các giới chức dân và quân sự, cùng vận động báo chí, phim ảnh và đài phát thanh vào việc phong thánh các nhà thờ La Vang năm 1961 hay nhà thờ Notre Dame năm 1962.

Việc đương đầu với Cộng Sản cũng là nguồn hoang mang, hỗn loạn giữa thần và thế quyền. Ngô Đình Diệm thường coi tín đồ Ki-tô như những công dân trung thành nhất và hăng hái nhất trong cuộc chiến chống Cộng. Bởi thế Diệm đã tảng lờ lời khuyến cáo của đại diện Vatican, cho thành lập những đội quân phụ lực Ki-tô. Trường hợp tiêu biểu là đạo quân của Linh mục Nguyễn Lạc Hóa tại Hải-yến, Cà-mau. Hóa, di cư từ miền Bắc, không những chỉ tự vệ xã ấp của mình, còn mở những cuộc hành quân phản công vào mật khu địch.

Sự can thiệp vào thế quyền của các giáo mục Việt chẳng có gì lạ lùng, mà đã quen thuộc trong lịch sử. Thục mới nói với một giáo sĩ Pháp là sẽ chống lại mọi khuynh hướng hiện đại. Thục tuyên bố: “Tôi chống lại một số kinh nghiệm ở Pháp như các linh mục lao động. Tôi là người truyền thống và “hiếu cổ  (rétrograde).”

Vì thế một thiểu số giáo mục và giáo dân tiến bộ không dám lên tiếng. Các giáo mục không hiểu họ. Đại diện Vatican coi họ như thành phần nguy hiểm, làm “rối đạo” (troubler la foi).

Thái độ chống Pháp của một số giáo mục như Nguyễn Văn Thiện (Vĩnh-long), Lê Hữu Từ (hồi hưu tại tu viện Cisterciens ở Tuyên Đức) đã dịu bớt. Những người thân Pháp như Nguyễn Văn Hiền (Đà-lạt) muốn nối lại liên hệ. Nhưng Ngô Đình Thục vẫn là nhân vật nổi bật. Thục tham dự vào việc chuẩn bị Đại hội Công đồng II, và là phát ngôn viên của Giáo hội Việt Nam. Năm nay 66 tuổi, và dù phải nhường chức Tổng Giám mục Sài-gòn cho Nguyễn Văn Bình năm 1961, vì là anh Diệm nên Thục rất có ảnh hưởng. Thục là người cực đoan chính trị, nghi ngờ dân chủ, có quan điểm độc tài, và thái độ quan liêu khiến khó đối thoại. Tuy vậy, Thục không thể bị lãng quên hay tảng lờ, vì Thục đại diện Việt Nam. Ngoài ra, Thục rất khôn khéo, có ảnh hưởng trong giới tín đồ Ki-tô. Thái độ của Thục với Pháp kiều cũng nhã nhặn.

Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình luôn luôn đứng ngoài chính trị. Bình không có tinh thần bài Pháp, dù trong năm 1955 đã rất tích cực trong việc tranh đấu thay thế các giáo sĩ Pháp bằng giáo mục Việt. Bình là người bảo thủ, không tán thành những cải cách mạnh.

Giám mục Phạm Ngọc Chi, giáo phận Qui-nhơn, từng có bằng Tiến sĩ Thần học, Cử nhân Khoa học, Cử nhân văn chương và Luật, là nhân vật ảnh hưởng chỉ thua Thục. Dù tham gia việc đòi độc lập cho Việt Nam, Chi không có tinh thần bài Pháp.

Giám mục Hoàng Văn Đoàn, thuộc dòng Dominicains, Giám đốc Đại chủng viện St Albret ở Sài-gòn, từng học ở Hong Kong, Belgium và Đại học Etiolles gần Paris. Uyên bác, tính tình đơn giản, trí óc cởi mở, Đoàn chú tâm đặc biệt đến vấn đề xã hội, tuổi trẻ và giáo dục.

Giám mục Nguyễn Kim Điền, Cần-thơ, khác biệt với mọi người ở cách sống đạm bạc.

Các đại biểu Pháp thì Giám mục Jacq thuộc Dòng Anh em Ngư Phủ (l’Ordre des Frères Prêcheurs), và những người khác thuộc Hội truyền giáo Paris.

Những người thuộc dòng Đa Minh là Giám mục Lê Hữu Từ, Giám mục Hoàng Văn Đoàn, và Giám mục Trương Cao Đại, tại Couvent des Dominicains Sài-gòn.

Những đại biểu khác có Nguyễn Khắc Ngữ, Giám mục Long-xuyên, và Trần Văn Thiện, Giám mục Mỹ-tho. (AMAE (Paris), CLV, SV, 46:257-267).

Với tham vọng lợi dụng thiểu số giáo dân Ki-tô—được một Linh mục đặc phái viên của báo chí Ki-tô Italia xếp hạng là "chống Cộng cực đoan" [fanatical anti-Communism] và mang "tinh thần phe đảng bí mật" ['secret clan' spirit] (Gheddo, 1970:342, 249)—để cai trị đại đa số dân chúng miền Nam không theo đạo này,   Diệm tiếp tục duy trì Dụ số 10 ban hành từ năm 1950, theo đó chỉ có Giáo hội Thiên chúa giáo được coi như tổ chức tôn giáo, trong khi các tôn giáo khác bị coi là “hội đoàn tư nhân,” phải chịu sự kiểm soát khắt khe của Bộ Nội vụ và các cơ quan an ninh, tình báo. Ngoài ra, mọi ưu quyền dành cho Ki-tô giáo từ thời Pháp thuộc đều được duy trì. Nhờ vậy, hệ thống trường tư, tổ chức lao công, ấn loát của Giáo hội Ki-tô phát triển rất mạnh. Các giáo mục cũng độc quyền hưởng nhận trợ giúp của các tổ chức cứu tế ngoại quốc, đặc biệt là Mỹ. Như một phản ứng giây chuyền, vì cầu tiến, danh lợi hay lý do nào đó, một phong trào "rửa tội" hay “trở lại với đạo” phát triển mạnh trong giai đoạn 1954-1963. Tiêu biểu nhất là trường hợp Trung tá Nguyễn Văn Thiệu (1923-2001). Mặc dù lấy vợ Ki-tô gốc Mỹ Tho từ đầu thập niên 1950, mãi tới năm 1958, Thiệu mới nhờ Linh mục Bửu Dưỡng, lý thuyết gia bản xứ của chủ nghĩa Nhân Vị, “rửa tội” tại Đà Lạt để được an toàn bản thân và vinh tiến trong quân đội. Nhiều cán bộ tình báo chiến lược Cộng Sản—như Vũ Ngọc Nhạ, Albert Phạm Ngọc Thuần tức Phạm Ngọc Thảo, v.. v...—cũng đã chui sâu vào các giáo xứ để từ đây mượn tấm thông hành “giáo hữu Ki-tô” luồn lách vào Dinh Độc Lập cùng các cơ quan cao cấp của chính quyền.

Từ năm 1959, sau khi Hà Nội quyết định cưỡng chiếm miền Nam bằng võ lực, dưới chiêu bài "giải phóng" và "thống nhất đất nước," chế độ Diệm suy yếu dần. Các cuộc nổi dạy (đồng khởi) của Cộng Sản trong hai năm 1959-1960 bẻ gãy dần thế lực họ Ngô tại vùng nông thôn. Sự ra đời của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam [MT/GPMN] vào năm 1960 (hoặc 1954, hay 1959, nếu muốn) là dấu ấn của một mặt trận chính trị mới, dưới chiêu bài “trung lập” và Nam Kỳ tự trị.(4)

4. MT/GPMN được vận động thành lập từ năm 1959, do nhóm Huỳnh Tấn Phát, Phùng Văn Cung và vợ chồng Nguyễn Văn Hiếu phụ trách. Dù chính thức thành lập vào cuối năm 1960, mãi tới năm 1962 Nguyễn Hữu Thọ mới nhận chức Chủ tịch Đoàn Chủ tịch. Thực ra, các cán bộ CS cốt cán như Võ Chí Công, Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt, Trần Văn Trà, Trần Bạch Đằng, v.. v... nắm giữ hết mọi chức vụ có thực quyền.

Ngày 14/11/1960, Jerome T. French, một đặc phái viên thuộc Sở Hành Quân Đặc Biệt Bộ Quốc Phòng dưới quyền Tướng Erskine và Lansdale, nhận định sau một chuyến thăm bí mật Sài Gòn: “Sự bất mãn của dân chúng với chế độ hiện hữu đã gia tăng do tình trạng an ninh xấu đi, cũng như những lời đồn. Sự bất mãn này không nhắm vào Diệm mà chính yếu là những người quanh Diệm.” Vẫn theo French, Việt Cộng đang trở lại với tình trạng trước Hiệp định Geneva 1954—họ kiểm soát thôn quê trong khi chính phủ kiểm soát các thị trấn và các trục lộ chính ban ngày; VC đã chiếm và đang củng cố những căn cứ khắp nơi; VC có khả năng tấn công quân chính phủ bất cứ lúc nào, nơi nào; VC đang tập trung phá hoại nền tảng kinh tế và chính quyền thôn quê để lật đổ Diệm; và, “VC chỉ cần giữ nguyên cường độ hoạt động có thể đạt được mục tiêu nếu quân lực VNCH tiếp tục hành quân tự vệ và bất lực như hiện nay.” Tại Sài-gòn, French có cơ hội nói chuyện với Tướng McGarr, nhiều nhân viên của MAAG, đi ăn trưa với Võ Văn Hải và Nguyễn Đình Thuần. Dư luận viên chức Mỹ ở Sài-gòn không có lợi cho Diệm—họ cho rằng cuộc đảo chính hụt ngày 11/11/1960 trước đó ít ngày được lòng dân, và Diệm cần bị lật đổ. . . . (5)

5. Department of State [Bộ Ngoại Giao], Foreign Relations of the United States 1958-1960 [Liên hệ Ngoại Giao của nước Mỹ, 1958-1960,], I:715-717). Sẽ dẫn: FRUS.

Trong khi đó, Toà Đại sứ Mỹ không ngừng thuyết phục Diệm phải thực hiện cải cách chính trị—và hơn một lần muốn Diệm đưa các anh em, đặc biệt là vợ chồng Ngô Đình Nhu-Trần Thị Lệ Xuân, cùng "nha trảo" [henchmen] của Nhu như Trần Kim Tuyến, Giám đốc Sở Nghiên Cứu Chính Trị và Xã Hội tức Mật Vụ, ra ngoại quốc. (Công điện ngày 16/9/1960, Durbrow gửi Herter; Gravel, II:634) Nhưng Diệm quyết chống lại áp lực cải cách. Bởi thế, đa số viên chức Mỹ ở Sài-gòn cho rằng Diệm cần “phải ra đi” [Diem must go].

Đầu tháng 12/1960, Đại sứ  Elbridge Durbrow báo động về Oat-shinh-tân rằng tình hình Nam Việt Nam ngày một nguy hiểm. Việt Cộng đang tăng gia hoạt động và áp lực. Dân chúng thì ngày thêm bất bình vì Diệm thiếu khả năng ngăn chặn sự bành trướng của Cộng Sản, và chính sách bàn tay sắt của Diệm với các nhóm chống đối. Durbrow kết luận: “Nếu Diệm không thay đổi có lẽ phải nghiên cứu việc thay đổi lãnh đạo trong một tương lai không xa.”(FRUS, 1958-1960, I:711) Khoảng một tuần sau, Sở CIA Sài Gòn làm tờ trình về việc những người có thể thay Diệm. Đại cương, ngoại trừ trường hợp đảo chính, nếu Diệm đột ngột chết, người thay thế là Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ. Tuy nhiên, sự nhu nhược của Thơ sẽ khiến một người khác xuất hiện, có thể là quân đội hay một chính khách mạnh, với sự ủng hộ của quân đội. Nếu cuộc chiến chống Cộng bị xấu đi và sự bất mãn của dân chúng gia tăng, âm mưu đảo chính có thể xảy ra. Ngoài các sĩ quan trẻ như trong trường hợp ngày 11/11/1960, mối nguy hiểm lớn của Diệm sẽ là một Tướng cao cấp, hoặc chỉ với lực lượng quân sự, hoặc phối hợp với phe dân sự. Một nhóm khác có thể làm đảo chính là Cần Lao, đặc biệt là các nhóm Trần Quốc Bửu-Lê Văn Đồng, nếu họ có thể liên kết với quân đội. Chìa khóa của chiến thắng sẽ là một liên minh rộng rãi. Cách nào đi nữa, cuộc bầu cử Tổng thống tháng 4/1961 sắp tới sẽ là một ngày hệ trọng cho lịch sử VNCH. Đây là cơ hội có thể thay thế Diệm một cách hợp pháp hay bán hợp pháp; hoặc sẽ kích thích thêm lòng bất mãn của dân chúng về một cuộc bầu cử gian lận, dẫn đến một nỗ lực khác nhằm lật đổ Diệm.(FRUS, 1958-1960, I:721-728).

Trong báo cáo ngày 24/12/1960, Đại sứ Durbrow còn bi quan hơn. Theo Durbrow, “Diệm đang đối mặt những thử thách nghiêm trọng nhất từ năm 1955 cho tới nay.” Trước hết là sự gia tăng hoạt động du kích chiến và âm mưu lật đổ của Việt Cộng. Lực lượng võ trang của Việt Cộng đã tăng từ 2,000 vào cuối năm 1959 lên tới 9,800 vào cuối năm 1960. Đối lại, VNCH có 150,000 chính qui, 60,000 Dân Vệ và lực lượng Cảnh Sát, An Ninh, nhưng không được huấn luyện đầy đủ. Kế đó là sự tăng gia chống đối của các phe nhóm không CS. Ngay sau cuộc đảo chính ngày 11/11/1960, lại có tin đồn đảo chính. Nếu đảo ngược được tình thế, chắc chắn lại có đảo chính. Không kém hệ trọng là sự khó khăn về tài chính.

Chỉ có phe quân sự, nhất là Tướng Lansdale—người đã “khai sinh” ra Đệ Nhất Cộng Hòa Việt Nam—và Tướng Leonel McGarr, Tư lệnh MAAG tại Sài-gòn, vẫn muốn tiếp tục yểm trợ Diệm. Bởi thế, đầu năm 1961, dù chưa nhiệm chức Tổng thống, John F. Kennedy đã đặc phái Lansdale qua Nam Việt Nam từ ngày 2/1 tới 14/1/1961 điều tra tình hình. Ngày 28/1, Lansdale đề nghị lên Kennedy nhiều biện pháp giúp chế độ Diệm, như tăng quân số từ 150,000 lên 170,000, tăng quân phí, tăng hiệu năng Bảo An-Dân Vệ (civil guard) trong vòng 2 năm. Được Kennedy hỏi về tương lai VN, Lansdale dự đoán rằng Hà-nội coi năm 1961 như một năm quan trọng [trong cuộc xâm chiếm miền Nam]; nhưng nếu Mỹ tích cực hơn, có thể chuyển qua thế công từ năm 1962. Muốn vậy, cần 3 điều kiện: (a) Mọi viên chức Mỹ ở Việt Nam phải có thái độ tích cực hơn và thân thiện với người Việt hơn; (b) Người Việt phải hăng say, tích cực hơn; và, (c), Diệm phải chấp nhận đối lập hợp pháp, hơn là khiến họ chỉ nhắm giết hại ông ta. Theo Lansdale, Diệm tin rằng một sốhân viên ngoại giao Mỹ thân cận với nhóm muốn giết hại ông ta trong biến cố ngày 11/11[/1960] do Đại tá Nguyễn Chánh Thi cầm đầu, và Lansdale không thuyết phục được Diệm điều đó không đúng; Diệm chỉ tin tưởng Bộ Tư lệnh Cố vấn quân sự và cơ quan CIA. Lansdale cũng không thuyết phục được Diệm cho Nhu chính thức nhận một chức vụ nào đó, như  Đại sứ chẳng hạn. Vẫn theo Lansdale, nếu Lào ngả theo Cộng Sản, Mỹ sẽ không có thời gian để thực hiện những điều cần làm. (FRUS, 1961-1963, I:13-15)

Ngày 17/1/1961, Lansdale cũng báo cáo với Robert McNamara, Bộ trưởng Quốc Phòng được chỉ định, rằng Việt Cộng muốn chiếm miền Nam trong năm 1961. Muốn tồn tại, VNCH cần vận dụng mọi nhân vật lực và chiến đấu quả cảm (hết lòng). (FRUS, 1961-1963, I, 25 n2). Theo Lansdale, cần coi Việt Nam như một điểm nóng của cuộc chiến tranh lạnh Mỹ-Nga, và áp dụng những biện pháp khẩn cấp. (US-VN Relations, 1945-1967, Book 11:1-12)

Bản báo cáo mật của Lansdale khiến Kennedy quyết định can thiệp mạnh hơn vào Nam Việt Nam. Không những chấp thuận trên nguyên tắc cho phép tăng quân số VNCH lên 170,000, mà còn muốn gia tăng hoạt động biệt kích trong vùng Việt Cộng chiếm đóng.( US-Vietnam Relations, 1945-1947, Bk 11, tr. 13, 14-16).

Hầu hết các cố vấn của Kennedy đều tán thành chính sách biến Nam Việt Nam thành một tiền đồn chống Cộng cho toàn vùng Đông Nam Á. Sự khác biệt chỉ là vấn đề chiến thuật. Ngoại trưởng Foster Dulles, chẳng hạn, muốn thành lập những lực lượng chống du kích càng sớm càng tốt, trước khi tăng thêm 20,000 quân sĩ VNCH. Về ý muốn thả biệt kích hoạt động ở miền Bắc của Kennedy, Dulles không đồng ý, vì theo Dukkes dẫu dân chúng miền Bắc bất mãn, chính phủ Việt Cộng mạnh, có hơn 250,000 quân chính qui. Trong khi đó Liên Sô có nhân sự tại các guồng máy chính quyền; và cố vấn Trung Cộng còn đông đảo hơn, trải rộng khắp lãnh thổ Bắc Việt.

Dulles cũng xin cử Đại sứ mới cho Việt Nam, vì nhân viên tòa Đại sứ đang rơi vào tình trạng "khủng hoảng": Họ bị trói ép giữa bổn phận thuyết phục Diệm thực hiện cải cách, và nhu cầu thuyết phục Diệm rằng Mỹ luôn luôn ủng hộ Diệm, trong khi Diệm lại không muốn thấy có sự phê bình hay chống đối. Dulles xin cử Lansdale hoặc Kenneth Young thay Durbrow. Đồng thời đề nghị thành lập một Đoàn đặc nhiệm Việt Nam giống như trường hợp Cuba để điều động những kế hoạch mới tại đây. (Kennedy Library, NSF, Vietnam Country Series; FRUS, 1961-1963, I:16-19).

Phiên họp Hội đồng ANQG ngày 1/2/1961, quyết định phải điều nghiên và đẩy mạnh kế hoạch chống nội loạn (CIP). (US-Vietnam Relations, 1945-1967, Bk 11, tr. 17). Ít ngày sau, Oat-shinh-tân chỉ thị cho Tướng Isaac D. White, Tư lệnh Lục quân Mỹ tại Thái Bình Dương, qua Sài Gòn, cùng Durbrow và McGarr, gặp Diệm bàn về kế hoạch chống nội loạn trên. Ngày 9/3/1961, Kennedy cũng quyết định mang chiến tranh phá hoại vào các khu vực Việt Minh. (McGeorge Bundy gửi BTQP & Giám đốc CIA; US-Vietnam Relations, 1945-1967, Bk 11, tr. 18)

Phản ứng đầu tiên của chế độ Diệm thật tích cực, ít nữa ở bề ngoài. Ngày 6/2/1961, Diệm họp báo công bố chương trình cải cách: Sẽ tản quyền từ trung ương xuống địa phương; cải thiện cơ cấu dân chủ và hành chính cấp xã, và khuyến khích các cá nhân cùng đoàn thể tham gia việc chính quyền. (FRUS, 1961-1963, I:29) Hơn một tháng sau, ngày 11/3/1961, Bộ trưởng Thuần báo với Durbrow đã đạt được thỏa thuận căn bản với McGarr về chống nội loạn.

Ngày 3/4/1961, VNCH và Mỹ cũng ký Hiệp ước thân hữu và liên hệ kinh tế. Hiệp ước này được Quốc Hội VNCH chấp thuận ngày 15/6/1961; và Thượng viện Mỹ thông qua ngày 11/9/1961.(Kennedy ký ngày 26/9/1961; và Diệm ký ngày 2/11/1961. Hiệu lực từ 30/11/1961). Ngày 20/4/1961, Kennedy còn thành lập Ủy Ban Đặc Nhiệm Việt Nam (Presidential Task Force on Vietnam). Thứ trưởng Quốc phòng Roswell L. Gilpatric làm Chủ tịch Ủy ban Đặc nhiệm này, và Tướng Lansdale phụ trách việc điều hành.

Mặt khác, Mỹ tài trợ chiến dịch bình định nông thôn, dựa trên kế hoạch của Robert Thompson, một chuyên gia Bri-tên. Các chiến dịch Mặt Trời MọcHải Yến nối tiếp nhau ra đời tại Bình Dương (19/3/1962) và Phú Yên (8/5/1962), vận dụng hàng ngàn cán bộ Công Dân Vụ và hành chính mọi cấp để hoàn thành hệ thống ấp Chiến Lược. Ngày 3/1/1963, còn mở chiến dịch Sóng Tình Thương, đưa 3 trung đoàn Bộ Binh, 3 tiểu đoàn TQLC từ Vũng Tàu xuống vùng duyên hải Cà Mau thành lập ấp chiến lược. Đó là chưa nói đến kế hoạch gửi Biệt kích ra Bắc, thường được biết như kế hoạch OPLAN-34A.(Tài liệu CSVN thường gọi giai đoạn này là “Chiến tranh đặc biệt”)

Dẫu vậy, từ năm 1961, tình hình ngày thêm tồi tệ. Mùa Hè 1961, sau khi VC đánh chiếm một tỉnh lỵ và một số quận lỵ hẻo lánh, Diệm phải tuyên bố tình trạng “lâm nguy,” gửi thư cho 93 quốc gia thuộc khối tự do xin trợ giúp. Tình hình khẩn trương đến độ Diệm yêu cầu cả Mỹ lẫn Đài Loan gửi quân chiến đấu sang Nam Việt Nam. Trong những cuộc thảo luận với Đại sứ Pháp Roger Lalouette, Diệm và Phó Tổng thống Thơ đều cho rằng quân đội chiến đấu Mỹ sẽ được nồng nhiệt đón nhận ở miền Nam. (Chính Đạo, VNNB, Tập I-C: 1955-1963, tr. 232-233) Nhưng cuộc đánh bom Dinh Độc Lập vào tháng 2/1962 iến liên hệ giữa Mỹ và VNCH ngày một suy thoái. Dấu mốc đáng ghi nhớ là đề nghị “cứu xét lại chính sách đối với Nam Việt Nam” của Thượng nghị sĩ Mike Mansfield vào cuối năm 1962, đầu năm 1963. Theo Mansfield, sau khi đã đổ vào miền Nam hơn 2 tỉ Mỹ kim, tình hình an ninh đã trở lại với tình trạng của những năm 1954-1955. Từ ngày này, anh em Diệm-Nhu ra mặt công khai chỉ trích Mỹ, trong khi âm thầm nỗ lực móc nối Cộng Sản, qua trung gian của Pháp.

Những lực lượng chống đối chính phủ dĩ nhiên không bỏ qua cơ hội khai thác sự khác biệt giữa Oat-shinh-tân với Sài Gòn. Tại miền Trung, nơi Ngô Đình Cẩn (1911-1964) và rồi từ ngày 12/4/1961, Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục (1897-1984), nắm quyền sinh sát, các lãnh tụ Phật giáo liên tục chống đối chính sách “độc tài đen” của họ Ngô. Mặc dù Ngô Đình Cẩn đã kềm chế được Thượng tọa Thích Trí Quang, Chủ tịch Hội Phật Giáo Việt Nam ở Huế, và một số tăng sĩ khác—qua thành tích "hoạt động" cho Việt Minh trước năm 1954 và từng bị Pháp bắt giữ—nhưng sự kiêu căng và lộng quyền của một số giáo mục Ki-tô (tiêu biểu là Thục và Phạm Ngọc Chi) hàm chứa một thách thức với đại đa số Phật tử miền Trung. Hiềm khích ngày một lên cao. Nhưng vì chính phủ Mỹ còn tích cực yểm trợ Diệm—“một cách mù lòa” như cựu hoàng Bảo Đại từng cay đắng chỉ trích—nên chưa có điều kiện thuận tiện bộc phát.

Những dấu hiệu chống đối công khai đầu tiên của Phật Giáo xuất hiện vào đầu năm 1963. Sau khi chính phủ Diệm cho chiếu phim Sakya, một cuốn phim nói về cuộc đời Siddharta Gautama, Thượng tọa Thích Tâm Châu vận động thành lập Ủy Ban Liên Phái Chống phim Sakya tại Sài Gòn. Nhưng ngọn lửa rồi sẽ thiêu đốt chế độ Diệm khởi đi từ miền Trung trong mùa Phật Đản 2507.

flash-5sac.gif (367 bytes) đọc tiếp phần II: Từ cờ đến máu lửa

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........