curley_sw.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw.gif (1967 bytes)

.......... .
 

Mùa Phật Đản Đẫm Máu (tiếp theo)

Chính Đạo

II. Từ Cờ Đến Máu Lửa:

Mùa Xuân 1963—theo lời một nhân chứng ngoại quốc, viết bằng Mỹ ngữ ngày 12/6/1963—Tổng Giám Mục Thục đã xin với Vatican lên chức Hồng Y vì "80% dân chúng trong giáo phận Huế là giáo dân Ki-tô."(6)

6. Xem Phụ Bản I, Chính Đạo, Tôn Giáo & Chính Trị: Phật Giáo, 1963-1967 (Houston: Văn Hóa, 1994). Theo Linh mục Cao Văn Luận, cựu Viện trưởng Đại Học Huế, "năm đó [1963] ... nhiều tin đồn nói rằng có những cuộc vận động để đưa đức cha Thục [lên] làm Hồng Y đầu tiên của VN;" Bên Giòng Lịch Sử (Sài Gòn: 1973?), tr. 328.

Vatican bèn gửi một phái đoàn điều tra tới miền Trung vào đầu tháng 5/1963. Mặc dù cờ Ki-tô giáo giăng mắc khắp nơi trong thời gian phái đoàn ở Việt Nam, phái đoàn Vatican cũng ghi nhận là các Phật tử đang chuẩn bị cờ ngũ sắc Phật giáo, biểu ngữ và cổng chào mừng đón Phật đản 2507 (15/4 Quí Mão, tức 8/5/1963). Bởi thế phái đoàn Vatican có kết luận sơ khởi rằng chỉ có 20% dân miền Trung theo đạo Ki-tô mà không phải 80% như Thục báo cáo.

Để che dấu sự thực, Thục ngầm cho lệnh các viên chức địa phương cấm treo cờ hay tuần hành rước lễ Phật Đản. Ngày 6/5, Đổng lý Văn Phòng Phủ Tổng Thống, Quách Tòng Đức, còn gửi đi khắp nơi lệnh cấm treo cờ tôn giáo, theo “khẩu lệnh” của Diệm.(7)

7. Theo lời khai của các viên chức chính phủ với phái đoàn Liên Hiệp Quốc vào tháng 10/1963, Diệm biết rõ rằng lệnh cấm treo cờ này sẽ ảnh hưởng đến ngày Phật Đản sắp tới, nhưng bất chấp hậu quả. Xem thêm phần dưới về nỗ lực ngăn cản phái đoàn LHQ công bố sự thực.

Sáng ngày 7/5 (tức 14 tháng 4 Quí Mão), Tỉnh trưởng Thừa Thiên kiêm Thị trưởng Huế là Nguyễn Văn Đẳng báo cáo với Cẩn về lệnh cấm treo cờ. Cẩn bảo Đẳng đừng can thiệp vì có giao tình với Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam tại chùa Từ Đàm, nơi còn đặt bài vị cha mẹ Ngô Đình Khả.(8)

8. Ngô Đình Dinh, cha Khả, theo đạo thờ cúng tổ tiên. Khả, cha Diệm, là người đầu tiên theo đạo Ki-tô, và hành nghề thông ngôn cho Pháp trong thời gian Pháp đánh chiếm miền Bắc và Trung Việt. Hiện nay, chưa có một nghiên cứu nghiêm túc nào về vai trò những thông ngôn cho Pháp trong giai đoạn 1858-1932, như Pedro Tạ Văn Phụng, Petrus Key, Paulus Của, Paulus Sang, Nguyễn Trường Tộ, Ngô Đình Khả, Nguyễn Hữu Bài, Nguyễn Năng Quốc, Vũ Ngọc Oánh, v.. v.... Đây là một đề tài luận án Tiến sĩ có giá trị.

Rồi sai Hồ Đắc Khương, Đại biểu Chính phủ Trung Phần, đánh điện tín xin Sài Gòn hoãn thi hành lệnh trên.

 Tuy nhiên, một số nhân viên Cảnh Sát, Công An đã sốt sắng tháo gỡ cờ Phật giáo bất kể sự phản đối của dân chúng. Tại Đà Nẵng, cách Huế khoảng 100 cây số về phía Đông Nam, Cảnh sát cũng tới các cơ sở thương mại, hạ lệnh cấm treo cờ mừng Phật đản; bằng không sẽ bị rút giấy phép.

Lệnh cấm treo cờ tôn giáo ngoài khuôn viên các thánh đường này, thực ra, đã có từ lâu. Nhưng vào mùa Phật đản 2,507 (8/5/1963), văn thư nhắc nhở lệnh cấm là một thách thức lớn với Phật tử—đúng hơn, là một sỉ nhục lớn lao. Vì, cho tới ngày 5/5, cờ Ki-tô giáo nửa vàng, nửa trắng còn phất phới khắp miền Nam, trong khi tổng số giáo dân Ki-tô không quá 10% dân số. Bởi thế, ngày 8/5, Tư lệnh Quân Đoàn I là Thiếu tướng Lê Văn Nghiêm vẫn cho phép quân nhân Phật tử tổ chức lễ Phật Đản. Tại Đà Nẵng, quân nhân Phật tử dựng một khán đài tại góc đuờng Thống Nhất và bờ sông Bạch Đằng (sông Hàn), và tổ chức diễn hành xe hoa. Tại Huế, Phật tử cũng dựng khán đài và kết cờ Phật Giáo. Nhưng không khí tranh đấu đã được hâm nóng bằng bài diễn văn nẩy lửa của Thượng tọa Trí Quang trong buổi lễ tại chùa Từ Đàm, với sự tham dự của nhiều viên chức cao cấp địa phương, kể cả Tướng Nghiêm.(9)

9. Ngày Thứ Hai, 16/9/1963, Lãnh sự Pháp ở Tourane báo cáo rằng trong chuyến thăm từ biệt của Tướng Nghiêm trước khi vào Sài-gòn nhận chức Tham Mưu Trưởng Liên quân, Nghiêm tiết lộ rằng chính sách bài Phật giáo chỉ là của Thục. Thục từng tuyên bố với những người tín cẩn rằng cần phải hạ Phật giáo bằng mọi phương tiện, nếu không Phật giáo sẽ mạnh hơn Ki-tô, "và ngay cả đời sống giáo dân sẽ bị đe dọa." Theo Nghiêm, Diệm biết rõ mọi chi tiết. Ngày 8/5, khi Nghiêm vào Sài-gòn gặp Diệm, Diệm cho lệnh phải thẳng tay với Phật giáo, và nhận lệnh từ Cẩn. Đại tá Đỗ Cao Trí, Tư lệnh Sư đoàn 1, được lệnh "duy trì trật tự ở Huế." Sau đó được thăng cấp Tướng, thay thế Nghiêm nắm Vùng Ị (CLV, SV, 17:70-3) Xem thêm Nguyễn Ngu Í, "Đại học Huế tranh đấu chống chế độ cũ qua hai giờ nói chuyện với Giáo sư Lê Tuyên;" Bách Khoa, số 171 (15/2/1964), tr. 37-47, và số 172 (1/3/1964), tr. 27-42.

Tối đó, một biến cố đẫm máu đột ngột xảy ra. Giữa lúc hàng ngàn Phật tử tụ họp trước Đài phát thanh Huế vào khoảng 8 giờ tối để nghe chương trình phát thanh đặc biệt Phật Đản, Thiếu tá Đặng Sỹ, Phó Tỉnh trưởng Nội An, đích thân dẫn Cảnh Sát, và lực lượng an ninh (Biệt đội Ngô Đình Khôi) gồm 8 tuần thám xa của Địa Phương Quân, 1 đại đội ĐPQ, 1 đại đội trừ Bộ Binh, đến giải tán. Sau khi đám đông không chịu giải tán, Sỹ cho lệnh dùng vòi rồng phun nước, và rồi nổ súng vào đám đông. 9 người chết và 14 bị thương. (US-Vietnam Relations, 1945-1967, Bk 3, p. 5) Trong số người chết, có 2 thiếu niên bị tuần thám xa cán chết. (Airgram A-20, 3/6/1963; FRUS, 1961-1963, III:277)

Để che đậy sự thực, chính phủ loan tin một quả lựu đạn của quân khủng bố nổ làm 9 người chết và 14 bị thương, vì lực lượng chính phủ đã được lệnh chỉ bắn chỉ thiên hoặc đạn mã tử. Nhưng nhân viên tình báo Mỹ ghi nhận là bạo động xảy ra sau khi một nhóm thanh niên Ki-tô giật cờ Phật Giáo tại một cổng chào, rồi xông tới đập phá lễ đài. Thanh niên, học sinh Phật tử phản công. Đặng Sỹ, một giáo dân Ki-tô, bèn cho cảnh sát, được tăng cường tuần thám xa [blinder] của Bảo An Đoàn, bắn vào đám đông.(10)

10. Chính Đạo, VNNB, I-C:1955-1963, tr. 279-280. Đây là một tội ác chiến tranh [war crime] và tội ác chống lại nhân quyền [crime against Human rights] của Đặng Sỹ, và các cấp chỉ huy, kể cả Diệm, phải liên đới trách nhiệm. Sỹ sau này bị kết án chung thân khổ sai, nhưng được Nguyễn Văn Thiệu ân xá vào năm 1966au cuộc nổi dạy của dân quân miền Trung.

Sau khi đám đông đã bị giải tán, viên chức chính phủ mang 9 xác chết tới bệnh viện thị xã Huế. Y sĩ Lê Khắc Quyến, Giám đốc Y tế miền Trung, được lệnh phải ghi vào giấy chứng tử là các nạn nhân "chết vì lựu đạn do khủng bố Việt Cộng ném." Quyến không chịu ký. Diệm bèn cách chức Quyến, gọi vào Sài Gòn đợi lệnh. Thị trưởng Đẳng cũng cách chức Sỹ, và viết thư phản đối lên chính phủ.

Những ngày kế tiếp, tình hình Huế cực kỳ sôi động. Suốt đêm mồng 8 rạng ngày  9/5,  một số thanh thiếu niên kéo nhau đi quanh các đường phố, hô to khẩu hiệu đả đảo Diệm. Khoảng 11G00 sáng, chừng 800 Phật tử tụ họp biểu tình. Tỉnh trưởng Đẳng yêu cầu họ giải tán để tránh bị phản loạn lợi dụng. Thượng tọa Trí Quang cũng thuyết phục mọi người ra về. Sau đó, Đẳng ban hành lệnh giới nghiêm từ 9 giờ tối. Mật vụ của Cẩn thì lùng bắt các lãnh tụ Phật tử, và cô lập hàng ngàn người biểu tình trong vòng rào kẽm gai. Chiều 9/5, Phong trào Cách Mạng Quốc Gia cũng tổ chức mít-tinh, lên án Cộng Sản phá hoại, khủng bố trong đêm 8/5. Tuy nhiên, rất ít người tham dự, và không ai lên diễn đàn. Một số tiểu đoàn Dù gốc Nùng được điều tới Huế để “bảo vệ trật tự.”

Tại Sài Gòn, Phật tử biểu tình liên tiếp trong hai ngày 7 và 8/5 để chống lệnh cấm treo cờ và đòi bình quyền tôn giáo. Ngày 9/5, Tâm Châu, Phó Hội chủ Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam, thành lập Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo—quyết "Tử Vì Đạo." Ủy ban này qui tụ 11 Hội đoàn.(11)

11. Gồm Giáo Hội Tăng Già Nam Việt, Giáo Hội Tăng Già Bắc Việt tại miền Nam, Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy [Therevada] (chùa Kỳ Viên), Giáo Hội Thiền Định Đạo Tràng (chùa Phật Bửu), Giáo Hội Tăng Già Kampuchia, Hội Phật Học Nam Việt, Hội Phật Giáo Bắc Việt tại miền Nam, Hội Phật Giáo Nguyên Thủy, Hội Phật Giáo Kampuchia, Giáo Hội Tăng Già Trung Phần, Hội Phật Giáo Trung Phần; Tâm Châu, Bạch Thư  (Montréal: 1994), tr. 17.

Tâm Châu được cử làm Chủ tịch; với Mai Thọ Truyền, Tổng thư ký. Văn phòng đặt tại chùa Xá Lợi.

Ngày 10/5, trong cuộc biểu tình qui tụ khoảng 5,000-6,000 Phật tử, tăng ni tại chùa Từ Đàm, Trí Quang đọc diễn văn, kêu gọi bất bạo động và Phật tử tiếp tục treo cờ. Sau đó, đại diện Ủy ban tranh đấu trao cho Thị trưởng Đẳng một Thông Bạch [Manifesto], đòi hỏi 5 điều tương đối ôn hoà: tự do treo cờ; bình quyền với Ki-tô giáo; ngưng bắt giữ Phật tử; tự do tín ngưỡng; bồi thường cho nạn nhân ngày 8/5 và trừng trị những người có trách nhiệm. (Ký tên: Tường Vân, Mật Nguyện, Mật Hiền, Trí Quang, Thiện Siêu; Bản dịch Mỹ ngữ  FRUS, 1961-1963, III:287-288).

Thị trưởng Đẳng lên diễn đàn xin lỗi về tai nạn đã xảy ra, và hứa sẽ bồi thường cho các nạn nhân và gia đình. Trong khi đó Cẩn áp lực Trí Quang và các lãnh đạo Phật Giáo phải ngưng tranh đấu, tìm cách giải quyết. Hôm sau, 11/5, Trí Quang triệu tập một buổi họp với các Giáo sư và sinh viên, học sinh để giải thích 5 nguyện vọng của Phật giáo.(Nguyễn Ngu Í 1964a:40-1) Từ ngày 13/5, Trí Quang cũng gặp mặt Đại biểu chính phủ miền Trung để thảo luận về 5 đòi hỏi của Phật Giáo. Có lẽ thỏa mãn với những nhân nhượng của chính quyền, ngày 15/5, Trí Quang nhờ Tỉnh trưởng Thừa Thiên chuyển thư cho Cẩn, hứa không tranh đấu nữa.(Tâm Châu 1994:18)

Bộ Ngoại Giao Mỹ đặc biệt quan tâm đến cuộc đàn áp Phật tử ở Huế. Từ Oat-shinh-tân, chiều ngày 9/5 [04G24 sáng ngày 10/5 VN], Ngoại trưởng Dean Rusk chỉ thị Đại sứ Fredirick Nolting yêu cầu Diệm: (1) Không nên đàn áp Phật tử, (2) bày tỏ cảm tình với gia đình nạn nhân và giúp tiền an táng,  (3) sử dụng những biện pháp thích nghi để vãn hồi trật tự, và (4) tạo tinh thần thân ái giữa các nhóm giáo dân. (FRUS, 1961-1963, III:283)

Ngày 15/5, Diệm tiếp kiến phái đoàn đại diện Phật giáo tại Sài Gòn. Tham dự buổi họp có Bùi Văn Lương (Nội vụ) và Ngô Trọng Hiếu (Công dân vụ). Theo Việt Tấn Xã, về đòi hỏi số 1 (rút lại lệnh cấm treo cờ Phật giáo), Diệm cho rằng cả Ki-tô lẫn Phật giáo đã có lỗi về việc treo cờ; chỉ được treo cờ trong các thánh đường hay chùa. Về đòi hỏi thứ hai (Sắc luật số 10), Diệm nói sẽ cứu xét lại. Điểm 3, về việc bắt giữ Phật tử và tăng ni, Diệm nói những phần tử xấu sẽ lợi dụng. Điểm 4, về tự do tín ngưỡng, Diệm nói đó là quyền hợp hiến. Điểm 5, về việc bồi thường, Diệm chỉ hứa sẽ nghiên cứu việc trợ cấp. Đại diện Phật giáo đưa thêm hai đề nghị: Được thăm viếng những người bị bắt giữ và tổ chức cầu siêu cho nạn nhân. Diệm nói sẽ cứu xét đòi hỏi thứ nhất, và đồng ý đòi hỏi thứ hai, với điều kiện chỉ tổ chức trong khuôn viên các chùa. Nhưng đại diện Phật giáo, qua buổi họp này, kết luận rằng Diệm chưa có quyết định nào rõ rệt.(FRUS, 1961-1963, III:310) Cơ quan CIA ghi nhận có tin đại diện Cao Đài và Hoà Hảo đang thảo luận việc phối hợp hành động với Phật giáo. Lại cũng có tin   tuyệt thực đã bắt đầu tại Huế từ ngày 12/5. Theo Trung tá Thuong (?), Giám đốc Cảnh Sát Công An Trung nguyên Trung Phần, Phật tử dự định biểu tình khắp đồng bằng miền Trung ngày 21/5. Tại Sài-gòn cũng có tin sẽ biểu tình ngày 21/5. (FRUS, 1961-1963, III:310)

Vì sắp rời Việt Nam qua Greece [Hy Lạp] nghỉ thường niên, Đại sứ Nolting khuyến khích Diệm nên ra một tuyên cáo chính thức về vấn đề Phật Giáo. Nolting cũng tiếp xúc với Khâm sứ Vativan là Salvadore d’Asta và Linh mục Cao Văn Luận để thuyết phục Diệm. Theo Bộ trưởng Nguyễn Đình Thuần, thương thuyết với Phật giáo tiến triển tốt đẹp, nhưng chủ chốt là chính phủ muốn tránh trách nhiệm. (FRUS, 1961-1963, III:311) Ngày 18/5, khi cùng XLTV Đại sứ Trueheart qua chào tạm biệt Diệm, Nolting cố thuyết phục Diệm đáp ứng nguyện vọng của Phật giáo để ổn định tình hình. Nolting muốn Diệm phải tuyên bố chịu trách nhiệm về biến cố ở Huế, bồi thường cho nạn nhân, và tái khẳng định chính sách bình quyền tôn giáo và không kỳ thị. (Đề nghị này Nolting đã trình về BNG ngày 18/5 và được Rusk chấp thuận ba ngày sau, 21/5; FRUS, 1961-1963, III:312) Diệm không hứa điều gì, chỉuốn kéo dài thời gian. Diệm vẫn tin rằng biến cố ở Huế là do các lãnh tụ Phật giáo khích động; những người chết ở Huế là do lựu đạn, và lựu đạn này do Cộng sản hay những người chống đối chế độ ném, không phải viên chức chính phủ; và một số lãnh đạo Phật giáo lợi dụng biến cố ở Huế để củng cố thế lực trong nội bộ Giáo hội. Dưới mắt Diệm, vấn đề Phật giáo không quá nghiêm trọng như Mỹ tưởng nghĩ. (FRUS, 1961-1963, III:314) Dù được xem những khúc phim về cuộc đàn áp—chứng minh quân lính của Sỹ bắn vào Phật tử—Diệm không thay đổi lập trường. (Gravel, II:226) Bởi thế, Diệm cách chức Đẳng, đưa Nguyễn Văn Hà ra Huế. Đồng thời, bổ nhiệm Nguyễn Xuân Khương, đương kim Tổng Giám Đốc Điền Địa, thay Hồ Đắc Khương làm Đại biểu Trung Phần.

Cho rằng chính phủ kỳ thị Phật Giáo, các tăng ni quyết tranh đấu đến cùng. Ngày 21/5/1963, phong trào tranh đấu lan tới Sài-gòn. 600 tu sĩ biểu tình, diễn hành từ chùa Ấn Quang đến chùa Xá Lợi. Mặc dù từ ngày 24/5 các chuyên viên y khoa báo cáo là thương tích nạn nhân ở Huế đêm 8/5 không do mảnh lựu đạn gây nên (FRUS, 1961-1963, III:Tài liệu 160), Diệm vẫn chẳng tỏ một thái độ hòa giải nào. Mãi tới ngày 29/5, báo chí bán chính thức của chính phủ mới đăng một tuyên cáo của Diệm, khẳng định quyền tự do và bình đẳng tín ngưỡng; nhưng vẫn bảo vệ lệnh treo cờ, vì quốc kỳ phải có địa vị tối thượng.

Ngày này, tại Mỹ, báo New York Times loan tin Phật tử rất bất mãn về cách đối xử của Diệm, và đang chuẩn bị đấu tranh tuyệt thực, đồng thời tổ chức cầu siêu trong vòng 4 tuần lễ. David Halberstam—một trong những ký giả lập nên sự nghiệp nhờ chiến tranh Việt Nam và chủ trương nhà Ngô phải ra đi—thuật lại là trong buổi họp ngày 15/5, Diệm đã lên án các tăng sĩ là "bọn khùng" [damn fools] khi đòi hỏi bình đẳng tôn giáo, vì quyền này đã được Điều 17 của Hiến pháp (một bộ tiểu thuyết luật pháp và nhân quyền) bảo đảm. Bộ Ngoại Giao Mỹ vội thông báo cho Trueheart về nội dung bài báo trên, đồng thời chỉ thị Trueheart phải đích thân gặp Diệm, thuyết phục Diệm thỏa mãn nguyện vọng của Phật giáo. (FRUS, 1961-1963, III:335-336)

Trueheart chưa kịp phản ứng thì những biến cố dồn dập xảy ra. Ngày 30/5, 350 tăng ni biểu tình trước Quốc Hội, rồi tuyệt thực trong vòng 48 tiếng. Đồng thời, tin đồn Trần Kim Tuyến và Albert Phạm Ngọc Thảo mưu làm đảo chính lan tràn. [Tuyến bị thất sủng; sau đó bị gửi qua Morocco [Ma Rốc] và Cộng Hòa Arab, nhưng hai xứ này không nhận].

Tại Huế, chùa Từ Đàm bị cô lập từ ngày 30/5. Lãnh đạo Phật giáo bắt đầu tuyệt thực. Khoảng 3,000 Phật tử tranh đấu cũng bị cô lập, vây hãm trong vòng rào kẽm gai. Ngày Thứ Bảy, 1/6, nhiều đoàn Phật tử tụ họp tại một số địa điểm trong thành phố. Sau đó giải tán do yêu cầu của các tăng sĩ. Đỗ Cao Trí phải điều Nhảy Dù và M-113 từ Quảng-trị vào Huế đề phòng bất trắc. Tại Quảng-Trị, Phật tử biểu tình trong trật tự.

Tại Đà Nẵng, Phật tử cũng tổ chức tuần hành không bạo động vào ngày 1/6, do các tăng ni dẫn đầu. Tối hôm trước, 31/5, Đại tá Lâm Văn Phát, Tư lệnh Sư đoàn 2 BB—một giáo dân Ki-tô tân tòng, thường tự chứng tỏ là rất trung thành với chế độ—cho lệnh các đơn vị dưới quyền chuẩn bị chống biểu tình. Chiều 1/6một xe vận tải hai tấn rưỡi (GMC) của quân đội chở đầy đạn bỗng dưng bị hư máy ở một ngã tư cách Toà Thị chính một khu phố về phía Bắc. Cấp chỉ huy bèn phái một xe GMC khác tới tháo rỡ đạn, dưới sự bảo vệ an ninh của một đơn vị tác chiến. Quân Cảnh, Cảnh Sát và Công An cũng chặn đường từ phía Nam lên Toà Thị chính, và chỉ bỏ đi sau khi Phật tử chấm dứt tuần hành.

Kế hoạch của Phát không đủ ngăn cản Phật tử biểu tình trong trật tự. Các tăng ni dẫn đầu một đoàn phụ nữ và thiếu niên diễn hành qua đường phố, với khẩu hiệu đòi tự do tín ngưỡng và bình quyền tôn giáo. Tới trước cửa Toà Thị chính, 7 nhà sư rời đám đông, biểu tình ngồi; trong khi Phật tử tiếp tục cuộc diễn hành, rồi giải tán. Giữa lúc Phật tử đang biểu tình, Phát vào gặp Thị trưởng Đà Nẵng là Hà Thúc Luyện, cho lệnh phải dời 7 nhà sư đang ngồi trước Toà Thị chính, và giải tán cuộc diễn hành, cho dẫu "đích thân Thị trưởng phải ném lựu đạn vào đám đông." Luyện, mặc dù là một cán bộ Cần Lao cao cấp thân tín của Cẩn, từ chối.

Trong đêm 2/6, Phát điều thêm một số đơn vị khác vào thành phố. Một đại đội cũng tăng cường cho Ty Công An Đà Nẵng (đối diện khách sạn). Phần các quân nhân Phật tử bị cấm trại. Trong đêm, 7 nhà sư bị bắt đi mất tích. Qua ngày hôm sau, 3/6, Luyện bị cất chức Thị trưởng; gọi vào Sài Gòn trình diện. Trung tá Trần Ngọc Châu, Tỉnh trưởng Kiến-hoà, một Phật tử gốc miền Trung, ra thay.

Trong khi Đà Nẵng đang sôi động, ngày 2/6, Phật tử Quảng-Trị lại biểu tình. Chính quyền thẳng tay đàn áp bằng lựu đạn cay. Giao thông với Huế bị cắt đứt. Chiều hôm sau, tại Huế, khoảng 500 thanh niên tụ họp trước Tòa Đại Biểu Trung Phần. Bị quân đội “dàn chào” bằng lưỡi lê và lựu đạn cay. Các nẻo đường dẫn đến chùa bị phong tỏa bằng kẽm gai, không cho Phật tử vào. Họ bèn biểu tình ngồi. Các binh sĩ dùng lựu đạn cay giải tán. Trong khi đó, Trí Quang đã tuyệt thực nhiều ngày, sức khoẻ suy giảm.

Khoảng 18G00, quân đội lại tấn công mạnh để giải tán Phật tử biểu tình. Dùng cả chất hóa học (blister gas), khiến 67 nạn nhân bị nôn mửa, lưu lại vết bỏng trên da. Được báo cáo, Bộ Ngoại Giao Mỹ chỉ thị Trueheart phải yêu cầu Diệm hoà giải với Phật giáo và báo cáo rõ hơn về khói hóa học sử dụng để đàn áp Phật tử. Trueheart vội đến gặp Bộ trưởng Phủ Tổng thống Thuần vào khoảng 11G45 ngày 4/6. Khác với Nolting, Trueheart trở lại thái độ công khai áp lực mà cựu Đại sứ Durbrow đã áp dụng. Trueheart cảnh cáo rằng Mỹ có thể ngưng yểm trợ Diệm nếu còn đàn áp Phật Giáo. Thuần tiết lộ Hội đồng chính phủ đã quyết định đề nghị thành lập một Ủy Ban Liên Bộ như Trueheart yêu cầu từ ngày 1/6, và Diệm đã chấp thuận. Nhu cũng hứa sẽ tiếp xúc với lãnh tụ Phật Giáo. Ngay chiều đó, Thuần còn mời Trueheart tới tư dinh, nói đã thành lập một ủy ban điều tra về vũ khí hơi độc ở Huế, do Trần Văn An, và Trung tá Y sĩ Liêm cầm đầu.  Diệm cũng sẽ tuyên bố thành lập một Ủy Ban Liên Bộ để cứu xét các đòi hỏi của Phật Giáo. Ủy Ban này gồm có Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ, Bộ trưởng Nội Vụ Bùi Văn Lương và, Thuần. Nhưng khoảng 17G00, MACV lại xin ý kiến Trueheart về việc Bộ Tổng Tham Mưu yêu cầu MACV không vận 300 Cảnh sát từ Vũng-tàu ra Huế. Trueheart từ chối.

flash-5sac.gif (367 bytes) đọc tiếp phần III: Tuyên cáo chung 16-6-63

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........