curley_sw.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw.gif (1967 bytes)

.......... .
 

Mùa Phật Đản Đẫm Máu (tiếp theo)

Chính Đạo

III. Tuyên Cáo Chung 16/6/1963:

Do áp lực của Mỹ, từ giữa tháng 5/1963, Diệm đã gặp các lãnh tụ Phật Giáo để thảo luận về những đòi hỏi ngày 10/5. Tuy nhiên, chế độ Diệm chỉ muốn kéo dài thời gian để vô hiệu hóa dần cuộc tranh đấu. Trong khi đó, các lãnh tụ Phật Giáo khéo léo phối hợp giữa biểu tình và ngoại giao, kể cả việc sử dụng các cơ quan truyền thông quốc tế, để đạt mục tiêu. Có thể nói đây là lần đầu tiên có một mặt trận đấu tranh chính trị tinh xảo đến thế. Nhờ vậy, ngày 16/6, Diệm và Hòa thượng Thích Tịnh Khiết   đạt được một thỏa thuận. Tuy nhiên, Diệm không thực tâm thi hành những điều đã ký kết. Đặc biệt, Thục và vợ chồng Nhu-Lệ Xuân tìm mọi cách ngăn chặn việc thực thi tuyên cáo ngày 16/6/1963. Phật giáo cũng không lùi bước. 

A. Thương thuyết:

Từ ngày 1/6/1963, XLTV Đại sứ Mỹ Trueheart đã đề nghị Diệm nên tổ chức một Ủy Ban Liên Bộ [UBLB] để thương thuyết với Phật Giáo. Chiều 4/6, sau khi Trueheart chuyển cho Thuần lời đe dọa của Bộ Ngoại Giao Mỹ là có thể sẽ ngừng ủng hộ Diệm, Diệm tuyên bố thành lập một UBLB để cứu xét các đòi hỏi của Phật Giáo, do Nguyễn Ngọc Thơ cầm đầu. Hôm sau, UBLB cùng các Thượng Tọa Thích Thiện Minh và Thích Thiện Hoa ngồi vào bàn thương thuyết. Ngay sau buổi họp đầu, cả hai bên đều thất vọng về sự thiếu thành khẩn của nhau. Dẫu vậy, Thuần cùng Thiện Minh, phụ tá của Trí Quang, đạt được những thỏa thuận sơ khởi trên 5 đòi hỏi của Phật giáo, với điều kiện phải gặp Diệm để được phê chuẩn. (FRUS, 1961-1963, III:Tài liệu 153) Hôm sau, 6/6, Thiện Minh lên đường ra Huế tường trình về những điều thỏa thuận với UBLB. Theo dự trù, Hoà thượng Thích Tịnh Khiết, đang tuyệt thực ngoài Huế, có thể cũng sẽ vào Sài-gòn tham dự thương thuyết. (FRUS, 1961-1963, III:Tài liệu 155) Trong khi đó Đài phát thanh Sài-gòn loan tin chính phủ và Phật giáo đã đạt thỏa thuận; đồng thời, đã dẹp bỏ những chướng ngại vật ở Huế, và phi cơ rải truyền đơn yêu cầu Phật tử về nhà.

Thực tế, tình hình thêm căng thẳng. Trong ngày 5/6, bạo động lại diễn ra ở Huế. 4 Phật tử chết, hơn 100 bị thương và hơn 1,000 người bị bắt. Hai sinh viên bị mất tích. Trong những cuộc biểu tình này, 3 y sĩ Germany [Đức] và 2 y sĩ Mỹ đang phục vụ tại Huế đã tích cực giúp đỡ các Phật tử. Diệm bèn cho lệnh hai y sĩ Germany, Erich Wulff và Hans Holterscheidt, phải lập tức rời cố đô. Sau đó, trục xuất họ khỏi Sài Gòn với lý do họ là những "cá nhân không được ưa chuộng" [Persona Non Grata].(12)

12. Giáo sư Wulff, một chứng nhân của cuộc thảm sát 8/5 tại Huế, đã viết hồi ký về biến cố trên, và bạn ông chụp được nhiều hình ảnh tại nhà xác Huế. Các tài liệu này được nạp cho Liên Hiệp Quốc, khiến LHQ quyết định mở cuộc điều tra.

Chính quyền Huế và các địa phương cũng ngưng tiếp tế cho những người biểu tình bị cô lập. Lãnh sự John J. Helble báo cáo rằng tình trạng thực phẩm và nước uống tại chùa Từ Đàm đã ở vào tình trạng báo động đỏ. Phi cơ chính phủ thì rải truyền đơn đả kích Trí Quang và đòi bắt giữ cả Tịnh Khiết.

Tại Sài Gòn, Lệ Xuân và Nhu cũng sử dụng Phong Trào Phụ Nữ Liên Đới [PTPNLĐ] để đánh phá Phật Giáo. Ngày 7/6, PTPNLĐ ra “quyết nghị” lên án những cuộc biểu tình chống chính phủ là chống lại người quốc gia (anti-nationalist), bị "Cộng sản khai thác và lợi dụng, dẫn đến hỗn loạn và trung lập." Và yêu cầu chính phủ không thể tiếp tục im lặng trước những mưu toan chính trị, lập tức trục xuất những ngoại nhân chuyên phá hoại, dù mặc áo thày tu hay không, đặc biệt là những kẻ mưu toan biến Việt Nam thành chư hầu ngoại bang. (FRUS, 1961-1963, III:362n2) Quyết nghị này được trao cho báo chí ngày hôm sau, 8/6/1963.

Ngay chiều ngày  8/6, Trueheart gặp Thuần về quyết nghị của PTPNLĐ trên nhưng Thuần thú nhận là mình không giải quyết được gì. Lúc 17G00, Truehart phải vào Dinh Gia Long gặp Diệm, đích thân phản đối lời tuyên bố của vợ Nhu, và dọa sẽ công khai không ủng hộ chính sách Phật giáo của Diệm. Diệm nói không thể bác bỏ quyết nghị của PTPNLĐ, vì đây là một hội đoàn tư nhân, nhưng sẽ cho lệnh Bộ trưởng Nội vụ phải để những người biểu tình tại chùa Từ Đàm được tiếp tế lương thực và nước uống. Diệm cũng nói không biết gì về việc phi cơ chính phủ thả truyền đơn sỉ nhục lãnh tụ Phật giáo.(Gravel, II:208; FRUS, 1961-1963, III: Tài liệu 160) Sau đó, Diệm khẳng định lập trường của chính phủ: Sẽ thương thuyết trong thế mạnh; Phật giáo vi phạm lời cam đoan tạm ngưng chiến dịch tuyên truyền, tiếp tục phát tài liệu cho báo chí ngoại quốc (như Thiện Minh đã tiết lộ về những điều khoản thỏa thuận); Phật giáo thiếu thành tín (bad faith). Lần đầu tiên, Diệm thú nhận với Trueheart rằng chính quyền địa phương bất lực trong việc đối xử với Phật giáo; vì mãi đến ngày 24/5—tức hơn hai tuần lễ sau cuộc thảm sát ở Huế—chuyên viên y khoa mới báo cáo là thương tích không do mảnh lựu đạn gây nên. Nhưng Diệm nhấn mạnh sẽ sử dụng các biện pháp cần thiết để duy trì trật tự nếu hỗn loạn tiếp tục. (FRUS, 1961-1963, III:Tài liệu 160).

Hôm sau, 9/6, báo Times of Vietnam [Việt Nam Thời Báo] đăng nghị quyết của PTPNLĐ. Báo này còn nhấn mạnh vai trò của các tăng sĩ Nam tông (Nguyên thủy) trong những cuộc rối loạn hiện nay. Hàm ý là các tăng sĩ Nam tông có liên hệ với chính sách trung lập hoá miền Nam của Tổng thống Charles de Gaulle và Norodom Sihanouk. Các báo Việt ngữ không đăng. Diệm cũng cho lệnh đài phát thanh không được nhắc đến lời Lệ Xuân đả kích Phật Giáo. Tuy nhiên, lệnh này chỉ được ban hành sau khi đài Sài-gòn đã phát thanh vài ba lần. Tại Huế, số Phật tử bị phong tỏa đã 3 ngày không có nước uống, thực phẩm và thuốc men. Một số tư nhân mang tặng thực phẩm, nước uống. Chính phủ cho chụp hình, loan báo đó là do chính phủ cung cấp. Trong khi đó, điện thoại với Sài-gòn bị "hư." Lãnh sự Huế Helble không thể liên lạc được với Trueheart. Thuần cũng lâm vào hoàn cảnh tương tự. Phi cơ chính phủ thì tiếp tục rải truyền đơn, tố cáo Trí Quang, Phó Chủ tịch Phong trào Phật tử tranh đấu, là Cộng Sản. Đây chỉ là bước đầu, chuẩn bị cho việc bắt giữ các lãnh tụ tranh đấu—vì chỉ cần "liên hệ với phiến Cộng" (tức phiến loạn Cộng Sản) đã là một trọng tội dưới chế độ Diệm, có thể bị kết án từ khổ sai tới tử hình. Không ít người đã bị tra tấn đến chết hay thủ tiêu.

[Năm 1956, một giáo sư Pháp văn trường Phan Châu Trinh Đà Nẵng, Hồ Vinh, từng bị tra tấn đến chết trong nhà lao Thừa Phủ (Huế) vì tình nghi là Cộng Sản nằm vùng. Nguyễn Đăng Ngọc, hiệu trưởng trường Phan Châu Trinh, sau đó đích thân đến các lớp đọc bức công điện mật, loan tin Giáo sư Vinh đã “tự tử” trong nhà giam. Xem thêm lời khai của Dương Văn Hiếu, trùm đặc vụ miền Trung của Ngô Đình Cẩn, và bản án của Ngô Đình Cẩn ngày 22/4/1964 về những cuộc thủ tiêu và thảm sát những người bị vu cáo là Cộng Sản khác, như Nguyễn Văn Yến, v.. v...]

Tại Oat-shinh-tân, trưa ngày 8/6 [đêm 8 rạng 9/8 tại Việt Nam], Rusk chỉ thị cho Trueheart phải yêu cầu Thuần hay Diệm bác bỏ nghị quyết của PTPNLĐ, rút bỏ Sắc luật số 10, và cần xác định lời tuyên bố của Lệ Xuân có được chính phủ duyệt trước hay chăng. Lời tuyên bố của Lệ Xuân, Rusk nhấn mạnh, làm suy giảm vị thế của VNCH, và làm tổn hại uy tín của Mỹ, có thể gây khó khăn cho việc tiếp tục yểm trợ VNCH tại Quốc Hội cũng như dư luận Mỹ. (Ibid., Tài liệu 158) Gặp Thuần ngày 9/6, Trueheart thông báo cho Thuần biết chỉ thị của BNG Mỹ. Rồi đả kích việc chính phủ đang chuẩn bị tổ chức phản biểu tình vào ngày 10 hay 11/6. Kế hoạch phản biểu tình của Ngô Trọng Hiếu này gồm có những thủ thuật sử dụng "sư giả" từ các tỉnh miền Nam, Thanh Niên Cộng Hoà và bọn tệ đoan xã hội ở Chợ-lớn giả làm sư. Trueheart cảnh cáo rằng nếu quả thực như vậy, cần phải ngừng ngay. Trueheart cũng nêu lên vấn đề giáo dân Đà-Nẵng đang chuẩn bị ra nghị quyết cách chức Thiếu tá Thiệt, Tỉnh trưởng Quảng-Nam, nhân dịp làm lễ cầu hồn cho Giáo hoàng John XXIII (1958-1963) vào ngày 10/6. Nếu đúng sự thực, cần chấm dứt ngay. Trueheart còn nêu lên vấn đề 4 ký giả (Michaud của AFP, Sheehan của UPI, Browne của AP và Parry của báo NY Times) đã bị bắt giữ 1 giờ đồng hồ tại Quận 3. Hành động này, Trueheart bảo thẳng Thuần, là "khùng" và bất lợi. (FRUS, 1961-1963, III:Tài liệu 161)

Mãi tới 9 giờ sáng ngày Thứ Hai, 10/6, Thuần mới gặp Trueheart để phúc đáp. Theo Thuần, Thuần đã trình bày với Diệm và Nhu về những đề nghị của Mỹ. Về Sắc luật số 10, Diệm không có quyền rút lại. Quyết nghị của PTPNLĐ không phải là "tuyên bố của bà Nhu," mà là của "một tổ chức đại chúng" (cả Thuần lẫn Trueheart đều cười).  Diệm đã gọi điện thoại cho Ngô Trọng Hiếu trước mặt Thuần về vấn đề tổ chức phản biểu tình. Hiếu chối không có kế hoạch đó. Cũng không có kế hoạch ra nghị quyết đòi cách chức Tỉnh trưởng Quảng-nam.  Đang dàn xếp cho những người trong chùa Từ Đàm ở Huế ra về không gặp trở ngại, ngoại trừ các công chức. Chính phủ không đứng ra tổ chức lễ cầu hồn cho John XXIII. Diệm khẳng định vẫn muốn thương thuyết, nhưng cần cô lập những thành phần quá khích. UBLB của PTT Thơ sẽ họp lúc 10G00 để nghiên cứu lá thư mới nhất của UB Tranh đấu Phật giáo (FRUS, 1961-1963, III:Tài liệu 162. Trong báo cáo về Oat-shinh-tân, Trueheart nói không có ý định gặp Diệm để thảo luận các điểm BNG chỉ thị, vì Thuần đã đạt được một số tiến bộ. BNG Mỹ đồng ý).

B. Ngọn Lửa Cúng Dường Đạo Pháp:

Biến cố khiến cuộc tranh đấu của Phật giáo Việt Nam bỗng được dư luận thế giới chú ý là cuộc tự thiêu của Thượng tọa Quảng Đức (1897-1963) tại ngã tư Phan Đình Phùng-Lê Văn Duyệt Sài Gòn (ngay trước Tòa Đại sứ Cao Miên).  Quảng Đức, tục danh Lâm Văn Tức, đang tu tại chùa Quán Thế Âm trên đường Nguyễn Huệ, Gia Định. Lúc 9G30 sáng ngày 11/6—giữa lúc Diệm và hầu hết nhân viên cao cấp trong chính phủ đang tham dự buổi quốc lễ cầu hồn cho Giáo Hoàng John XXIII— chiếc xe Austin của một Phật tử đưa Quảng Đức tới chỗ hóa thân. Địa điểm này được khoảng 400-500 tăng ni làm hàng rào cản không cho Cảnh sát can thiệp. Số khán giả tò mò lên tới khoảng 500 người, ngày càng đông. Một số ký giả như  Sheehan của hãng UPI cũng được thông báo trước. Từ xe bước xuống giữa ngã tư, Thượng tọa Quảng Đức ngồi xuống theo thế thiền định, nhờ người đổ xăng lên thân thể mình, rồi tự tay châm lửa cúng dường đạo pháp. Malcolm Browne, nhân viên hãng AP, thu được tấm hình này—bức hình rồi sẽ gây chấn động dư luận thế giới.(13)

13. FRUS, 1961-1963, III, Tài liệu 163. Năm 1988, cựu Đại sứ Nolting đưa ra vài giai thoại đáng ghi nhận về cuộc tự thiêu của Quảng Đức. Theo Nolting, một y sĩ riêng cho Diệm từng báo cáo là Quảng Đức bị một số sư trẻ thuyết phục nên tự thiêu; vì ít năm trước, Quảng Đức từng hứa với một người bạn là sẽ "đồng tử," và nay người bạn đó đã chết, Quảng Đức cần giữ lời thề. Nói cách khác, theo viên y sĩ mà Nolting dấu tên, Quảng Đức không thích chính trị, và không tự thiêu để chống chính phủ; From Trust to Tragedy: The Political Memoirs of Frederick Nolting [Từ tin cậy tới thảm kịch: Hồi ký chính trị của Frederick Nolting] (New York: Preager, 1988), tr. 115-116. Lập luận của Nolting giống hệt tuyên cáo của chính phủ Diệm ngày 21/8/1963—"lợi dụng tín ngưỡng cho mục đích chính trị."

Trưa đó, khoảng 400 tăng sĩ đưa thi hài Quảng Đức tới chùa Xá Lợi. 2,000 Phật tử cũng lũ lượt kéo nhau tới chùa. Khoảng 1,000 Cảnh sát tới “bảo vệ an ninh,” nhưng các tăng ni được di chuyển tự do trong khu vực này. (FRUS, 1961-1963, III:Tài liệu 164)

Ngọn lửa sinh đăng của Quảng Đức khiến cuộc tranh đấu của Phật giáo rẽ sang một khúc quanh quan trọng. Khoảng 12G30, quân đội được lệnh cấm quân. Bảy tiểu đoàn Nhảy Dù được lệnh ứng chiến. Đại tá Lê Quang Tung tăng cường 2 Đại đội Lực Lượng Đặc Biệt [LLĐB] cho Sài-gòn, trí quân trong phi trường Tân-sơn-nhất. Nhân viên Mỹ được nghỉ sớm, và khuyến cáo không nên đến gần các đám biểu tình. (FRUS, 1961-1963, III:Tài liệu 165)

Trong khi đó, Trueheart tới  gặp Thuần tại tư dinh. Trueheart bảo thẳng Thuần rằng Diệm phải có thái độ ngay chiều đó, bằng không Bộ Ngoại Giao Mỹ sẽ tuyên bố không liên hệ đến chính sách tôn giáo của Diệm. Trueheart cũng lưu ý Thuần về kháng thư của PTPNLĐ đăng trên Times of Vietnam sáng đó để phản đối hãng UPI khi gửi đi bản tin của Sheehan; và cảnh cáo rằng nếu đây là bước đầu tiên để trục xuất Sheehan thì là một điều "ngu xuẩn" (stupid). Khi Thuần hỏi có thể dẫn lời Trueheart cho Diệm và Nhu nghe được không, Trueheart đồng ý. (FRUS, 1961-1963, III:Tài liệu 165).

Ngay tối 11/6 đó, Diệm đọc diễn văn, long trọng cam kết là "phía sau Phật Giáo còn có Hiến Pháp, tức là có tôi." (NYT, 12/6/1963) Hy vọng của Diệm và các cố vấn là diễn văn truyền thanh của Diệm sẽ trấn an dư luận cho tới hôm sau, khi UBLB sẽ gặp mặt Ủy Ban Phật Giáo Tranh Đấu.

Tại Oat-shinh-tân, gần nửa đêm 11/6 [gần trưa 12/6 tại Việt Nam], Ngoại trưởng Rusk chỉ thị cho Trueheart: “Nếu Diệm không có những bước cấp tốc và hiệu lực để giải quyết cuộc khủng hoảng để gây lại niềm tin của Phật tử, chúng ta sẽ phải tái duyệt xét việc ủng hộ chế độ Diệm.” Tối ngày 12/6, Truehart mới gặp được Diệm. Không những thông báo cho Diệm biết cuộc tự thiêu của Quảng Đức đang gây sôi nổi dư luận thế giới, Trueheart cảnh giác Diệm—theo đúng chỉ thị của Rusk—là Mỹ có thể sẽ công khai tuyên bố không ủng hộ chính sách Phật giáo của Diệm. Trước khi kiếu từ, Trueheart đưa ra 3 điểm:

1. Báo cáo ngày 11/6 cho biết chính quyền Huế và Đà-nẵng tiếp tục bắt giữ những người biểu tình.

2. Chính phủ Việt Nam không thể truy tố những người "giúp" Thượng tọa Quảng Đức tự thiêu.

3. Có tin chính phủ đang cấm các tăng ni từ các tỉnh vào Sài-gòn.

Về điểm thứ hai, Diệm nói có người giúp Quảng Đức đổ xăng lên mình, và châm lửa. Trueheart nhấn mạnh rằngai nhân chứng đích mắt thấy Quảng Đức tự mình tưới xăng và châm lửa.

Về điểm thứ ba, cả Diệm lẫn Thuần trả lời là vì lý do an ninh. Diệm cũng cho biết Quốc Hội đang thành lập tiểu ban nghiên cứu việc sửa đổi Sắc Luật số 10. (FRUS, 1961-1963, III:Tài liệu 169)

Trong khi đó, từ sáng ngày 12/6, Hoà thượng Tịnh Khiết, cùng hai Thượng tọa Trí Quang và Thiện Minh rời Huế vào Sài Gòn để chuẩn bị  thương thuyết với UBLB. (Tâm Châu 1994:19) Ba lãnh tụ Phật giáo tới phi trường Tân Sơn Nhất lúc 13G15, và tạm trú tại chùa Xá Lợi. Phó TT Thơ viết thư yêu cầu hai bên họp ngay lúc 18G00 hôm đó để giải quyết mau chóng các đòi hỏi của Phật giáo. Phe Phật giáo nói Tịnh Khiết còn yếu sau 5 ngày tuyệt thực, muốn trì hoãn ít ngày. Thơ lại đề nghị gặp nhau hôm sau, giờ và địa điểm do phe Phật giáo chọn. Cuối cùng, Phật giáo đề nghị họp ngày 14/6, với điều kiện chính phủ phải nhân nhượng toàn bộ 5 đòi hỏi ngày 10/5/1963. (FRUS, 1961-1963, III, Tài liệu 170).

Ngày Thứ Sáu, 14/6, phái đoàn Phật Giáo do Thiện Minh làm Trưởng đoàn—gồm Thiện Hoa, Tâm Châu, Huyền Quang (Thư ký), và Đại đức Đức Nghiệp (Phó Thư ký)—bắt đầu họp bàn với UBLB. Do áp lực của Trueheart, ngay sáng hôm đó, chính phủ Diệm nhượng bộ đòi hỏi thứ nhất: đồng ý cho Phật tử treo cờ Phật Giáo. Trong phiên họp buổi chiều, lại đồng ý sửa lại Sắc luật số 10 của Bảo Đại. Để chứng tỏ thiện chí, Tịnh Khiết kêu gọi Phật tử tạm ngưng biểu tình. (FRUS, 1961-1963, Tài liệu 172) Hôm sau, khoảng 18G30, việc thương thuyết hoàn tất. Ngày Chủ Nhật, 16/6, hai bên ra thông cáo chung với những điều khoản sau: Tạm ngưng áp dụng Dụ số 10 (ngày 6/8/1950 của Bảo Đại về các Hiệp hội kể cả Phật Giáo); cứu xét lại những khiếu nại của Phật Giáo; xác nhận tự do tôn giáo; sẽ "trợ cấp" (không phải "bồi thường" như Phật giáo đòi hỏi) cho gia đình nạn nhân ở Huế. (Tâm Châu, 1994:41-4; Gravel, II:226-7; FRUS, 1961-1963, III:Tài liệu 177, 178, 179) Tịnh Khiết và Diệm cùng ký vào bản Tuyên Cáo.

Trong khi thương thuyết đang diễn ra, Phật tử và một số lãnh tụ Phật giáo cũng thiên về bạo động hơn. Ngày 13/6, Phật tử khắp nơi treo cờ Phật Giáo, công khai chống lại lệnh cấm của Diệm (thực ra Diệm đã bí mật đồng ý). Buổi lễ cầu siêu cho Quảng Đức ngày Chủ Nhật, 16/6, tại chùa Xá Lợi qui tụ hàng chục vạn người. Hơn 500,000 Phật tử xuống đường biểu tình; bị Cảnh Sát đàn áp. Xô xát kéo dài 45 phút trước chùa Xá Lợi.(NYT, 16/6/1963) Buổi tối, Thiết Giáp phải đến tăng cường cho lực lượng Cảnh Sát. Một thiếu niên 15 tuổi bị tử thương vì trúng đạn ở đầu. 3 tăng và 2 Phật tử bị thương.(NYT, 17/6/1963) Hàng ngàn người bị bắt giữ. Ba ngày sau, 19/6, nhờ Cảnh Sát, Công An nỗ lực ngăn chặn Phật tử tham dự, lễ an táng Quảng Đức tương đối bớt hỗn loạn hơn.

Có những dấu hiệu cho thấy vợ chồng Nhu-Lệ Xuân muốn phá hoại việc thực hiện thông cáo chung với Phật giáo. Một mặt, Nhu sai các tỉnh tổ chức mít-tinh lên án Phật giáo và phong tỏa các chùa chiền. Các đoàn viên Thanh Niên Cộng Hoà đi lấy chữ ký để ra thỉnh nguyện thư phản đối bản tuyên cáo chung 16/6/1963, và chuẩn bị biểu tình đòi xét lại thông cáo chung. Mặt khác, Nhu vận động các hội Phật giáo độc lập chống lại cuộc tranh đấu. Ngày 20/6, chẳng hạn, Phật Giáo Cổ Sơn Môn—mới thành lập tại chùa Giác Lâm, Chợ Lớn; do Huệ Tâm, Hoà thượng trụ trì chùa Trung Nghĩa, Sa Đéc, làm Tăng thống—tuyên bố ủng hộ chính sách tôn giáo của chính phủ, và đứng ngoài chính trị. Nhu còn cho lệnh cắt bỏ đoạn phim thời sự về cuộc thương thuyết giữa chính phủ và Phật giáo. Lệ Xuân thì ra một Bạch thư, do vợ chồng Gene và Ann Gregory, chủ nhiệm báo Times of  Vietnam soạn thảo, đăng trên chính tờ Times of   Vietnam số ra ngày 17/6, miệt thị cuộc tranh đấu của Phật giáo, tố cáo cuộc tranh đấu của Phật tử không vì lý do tôn giáo mà chỉ vì lý do chính trị. (FRUS, 1961-1963, III:Tài liệu 181). Rồi đến việc thực hiện kế hoạch ăn mừng lớn suốt ba ngày, từ 25 tới 27 tháng 6/1963, để kỷ niệm 25 năm Thục được phong chức Giám mục (Tea Deum). (FRUS, 1961-1963, III, tr. 409-10) Có lẽ anh em Diệm-Nhu muốn sử dụng ngày lễ này để lôi kéo sự ủng hộ của khối giáo dân Ki-tô. Bởi thế, ngày 16/6, Tổng Giám Mục Paul [Nguyễn Văn] Bình chỉ thị các họ đạo phải giữ tôn giáo biệt lập với chính quyền. "Một giáo dân Ki-tô tốt, và đạo hạnh, là công dân thượng hạng, ràng buộc với tổ quốc, trung thành với chế độ cầm quyền, bất kể sự chính thống của chính quyền ấy." Đó là lời giải thích của Pie XI, trong Sắc Dụ ngày 31/12/1929."(14)

14. Nguyên văn bản dịch tiếng Pháp: "Un bon catholique, en vertu même de la doctrine catholique, est le meilleur des citoyens, attaché à sa patrie, loyalement soumis à l'autorité civile établie, sous n'importe quelle légitime de gouvernement." Ainsi s'explique Pie XI dans l’encyclique illius Magistri du 31 décembre 1929."

Kennedy và các cố vấn cực kỳ bối rối. Trong một phiên họp Hội Đồng An Ninh Quốc Gia [ANQG], Kennedy đặt câu hỏi phải chăng Quảng Đức đã bị "thuốc" [drug], nhưng các cố vấn khẳng định đức tin đã quá đủ cho những hy sinh tương tự. Dù là một giáo dân Ki-tô, và ủng hộ Diệm từ thập niên 1950, Kennedy sai toà Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn phải gây áp lực bắt Diệm đáp ứng ngay đòi hỏi của Phật giáo. Ngày 14/6, Ngoại trưởng Rusk còn chỉ thị Trueheart cứu xét việc đưa Phó Tổng thống Thơ lên thay Diệm trong trường hợp bất trắc, và Trueheart phải tiếp xúc Thơ cùng những người không ủng hộ Diệm.(15)

15. FRUS, 1961-1963, III:Tài liệu 175. Kế hoạch này đã được Wood soạn thảo từ tháng 5/1963, chuyển về Oat-shinh-tân ngày 23/5/1963, và được Bạch Cung chấp thuận ngày 6/6/1963; FRUS, 1961-1963, III:Tài liệu 133. Ngày 16/6, Sài-gòn mới nhận được lệnh này.

Nhưng hai ngày sau, Trueheart trả lời là không tiện bàn với Thơ, vì tình hình đã có vẻ sáng sủa hơn—Phật giáo và UBLB đã đạt được thông cáo chung. Trueheart chỉ hứa sẽ thuyết phục Diệm hoà hoãn với Phật giáo, và nếu Diệm không chịu thi hành những điểm hứa hẹn trong thông cáo chung, sẽ xúc tiến việc tìm "một giải pháp khác Diệm." (Chính Đạo, VNNB, I-C:1955-1963, tr. 296, 298)

Bộ Ngoại Giao Mỹ cũng muốn giải quyết vấn đề Phật Giáo một cách ôn hòa. Các viên chức Mỹ muốn Diệm phải tôn trọng bản tuyên cáo chung 16/6/1963. Ngày Thứ Ba, 18/6, Trueheart bảo Thơ rằng chỉ nên coi những thỏa thuận như bước khởi đầu mà không phải kết thúc của cuộc khủng hoảng. Cần thực lòng thực hiện những điều đã thỏa thuận. Sáng hôm đó, khi gặp Thuần, Trueheart cũng nói tương tự như trên, với những lời lẽ cứng rắn hơn. Trueheart đặc biệt nhắc nhở Thuần về luận điệu của tờ Times of Vietnam ngày 17/6 khi tường thuật về thỏa ước ngày 16/6, và việc PTPNLĐ có những hành động khiêu khích. (FRUS, 1961-1963, Tài liệu 181) Tối ngày 19/6 [8G28 ngày 20/6/1963 tại VN], Rusk cũng chỉ thị cho Trueheart nên lưu ý các viên chức Việt Nam là đừng nên đồng hoá một cá nhân với chế độ miền Nam. Thí dụ như lời tuyên bố "Phật giáo có thể tin cậy nơi Hiến pháp, nghĩa là tôi" của Diệm tạo nên những cảm tưởng xấu ở Mỹ. Viên chức chính phủ Việt cũng cần tiếp xúc thường xuyên với các lãnh tụ Phật giáo và đối xử đồng đẳng với họ. Đặc biệt, thỏa ước 16/6/1963 phải được tôn trọng và nhanh chóng thực hiện để giảm thiểu sự nghi ngờ của Phật tử. (FRUS, 1961-1963, III:Tài liệu 181)

Dư luận thế giới cũng chú ý hơn đến cuộc tranh đấu của Phật giáo. Ngày Thứ Sáu, 14/6, Norodom Sihanouk viết thư cho Kennedy, phản đối việc đàn áp Phật giáo tại miền Nam VN. (FRUS, 1961-1963, III:Tài liệu 173) Hôm sau, 15/6, lần đầu tiên tin tức về Phật Giáo Việt Nam được lên trang nhất báo The New York Times [Nữu Ước Thời Báo], tờ báo uy tín của giới trung lưu Mỹ.(16) Hầu hết các báo lớn và các lãnh tụ Mỹ đều chỉ trích chế độ Diệm.

16. Max Frankel, "ỤS. Warns South Viet-Nam on Demands of Buddhists" [Mỹ cảnh giác Nam Việt-Nam về những đòi hỏi của Phật tử]; NYT, 15/6/1963.

Nhưng Diệm, đặc biệt là Thục và vợ chồng Nhu-Lệ Xuân, không muốn thực thi những điều đã thỏa thuận. Tăng sĩ và Phật tử vẫn bị Mật Vụ và Công An âm thầm bắt giữ. Những cuộc biểu tình lại bắt đầu bộc phát. Cơ quan tuyên truyền của Hà Nội và MT/GPMN lợi dụng cơ hội, khích động dân chúng nổi lên lật đổ Diệm và "đánh đuổi đế quốc xâm lược Mỹ."

C. Thay đổi Đại sứ Mỹ:

Giữa thời gian này, Oat-shinh-tân gửi công hàm hỏi ý kiến Diệm về việc bổ nhiệm Henry Cabot Lodge làm Đại sứ thay Nolting. Diệm không phản đối, nhưng hoài nghi Kennedy bắt đầu thay đổi chính sách và có thể muốn thay đổi cả nhân sự. Sự lo lắng của anh em Diệm-Nhu bộc lộ rõ ràng nhất trong dịp cuối tuần 22-23/6/1963. Tối Thứ Bảy, 22/6, Diệm khẳng định với Trueheart là sẽ tôn trọng những điều thỏa thuận với Phật giáo; phủ nhận không có việc Nhu sử dụng Thanh Niên Cộng Hoà để chống lại Phật giáo; nhưng không đề cập gì đến Bạch thư của Lệ Xuân. Về Cổ Sơn Môn, Diệm nói họ có quyền tự do họp Đại Hội và bày tỏ ý kiến. Việc phóng thích những người tham dự biểu tình, Diệm nói cần thanh lọc; nếu họ không Cộng sản sẽ được phóng thích. (FRUS, 1961-1963, III, Tài liệu 185) Tuy nhiên, ba ngày sau, Diệm mượn Thuần nhắn tin cho Trueheart biết là Diệm tức giận về những điểm Trueheart nêu lên, và nghi rằng người Mỹ muốn "phá" [undermined] Diệm. Việc bổ nhiệm đại sứ mới (Cabot Lodge), theo Diệm, chứng tỏ Mỹ đang thay đổi chính sách, và có ý loại Diệm. Điều này, theo Thuần, khiến Diệm càng “rắn đầu [extreme stubborness].” Diệm nói với Thuần: "Người ta có thể gửi 10 Lodge tới đây, nhưng tôi không để cá nhân tôi hay đất nước này bị hạ nhục, ngoại trừ việc họ huấn luyện pháo binh bắn vào Dinh [Gia Long].” (FRUS, 1961-1963, III:Tài liệu 186) Diệm và Nhu cũng bắt đầu gọi Đại sứ Mỹ là Toàn quyền, hàm ý Mỹ theo đuổi chính sách thực dân.

Vì chưa muốn loại bỏ Diệm, ngày 26/6, Thứ trưởng Ngoại giao George W. Ball chỉ thị cho Trueheart xin gặp Diệm, giải thích rằng chính sách của Mỹ không thay đổi; đó là yểm trợ chính phủ chống Cộng miền Nam. Riêng việc bổ nhiệm Lodge đã được quyết định từ tháng 4/1963, trước khi xảy ra cuộc khủng hoảng Phật giáo, vì Đại sứ Nolting đã ở Việt Nam hai năm. Mục đích của Mỹ là cảnh giác Diệm về những hiểm họa có thể tránh, không để làm suy yếu Diệm. Nhưng quyết định và hành động là trách nhiệm của riêng Diệm.(FRUS, 1961-1963, III:Tài liệu 187) Hôm sau, Diệm tiếp Trueheart khoảng 2 tiếng rưỡi đồng hồ, tuyên bố sẽ thực hiện việc dân chủ hóa từ nông thôn lên, nhưng không muốn vợ chồng Nhu bị tách xa cá nhân mình. (FRUS, 1961-1963, III:Tài liệu 192) Thuần cũng thông báo với Trueheart là Chính phủ Việt Nam sẽ ra chỉ thị cho các tỉnh thi hành nghiêm chỉnh bản tuyên cáo chung 16/6/1963. Cá nhân Diệm có thể sẽ ra Huế để nghiên cứu và giải quyết mọi sự; Diệm cũng sẽ đọc diễn văn về việc thực thi tuyên cáo chung. Nhưng Bộ trưởng Nội Vụ Lương lại tuyên bố với một nhân viên CIA rằng Cộng sản đã xâm nhập phong trào tranh đấu của Phật giáo, và trong vài ngày tới, sẽ ra thông cáo về việc những người bị bắt giữ.

Lời cáo buộc của Lương báo hiệu chính sách mới của họ Ngô với Phật giáo. Rất có thể chính sách này được thảo luận kỹ càng hơn trong dịp anh em họ Ngô về Huế dự lễ kỷ niệm 25 năm ngày thụ phong Giám mục của Thục, trong các cuộc họp mật vào cuối tháng 6/1963. (FRUS, 1961-1963, III:Tài liệu 186, 187; Chính Đạo, VNNB, I-C:1955-1963, tr. 304-305)

Quyết định bổ nhiệm Lodge cũng tạo nên những tia lửa điện trong chính giới và hàng ngũ Tướng tá Việt Nam. Lodge, một lãnh tụ đảng Cộng Hoà từng đứng phó trong liên danh Richard M. Nixon năm 1960, nổi danh là “vua đảo chính.” Bởi thế, các mưu toan đảo chính Diệm bắt đầu rộn rịp tại Sài Gòn. Tin đồn đảo chính loan truyền rộng rãi. Cuối tháng 6/1963, cơ quan CIA đã thiết lập được danh sách các nhóm có ý làm đảo chính. Đáng kể nhất trong số này có nhóm "Bác sĩ" Trần Kim Tuyến. Tuyến mới mất chức Giám đốc cơ quan Mật Vụ, và đang chờ đi ngoại quốc. Quanh Tuyến có một số nhân viên Bộ Công Dân Vụ của Ngô Trọng Hiếu, Bộ Thông Tin, Mật Vụ, và một số sĩ quan trẻ. Nhóm khác do Huỳnh Văn Lang và Trung tá [Albert] Thảo, Thanh tra Ấp Chiến Lược, chủ trương. Nhóm này gồm hầu hết cựu đảng viên của hệ Cần Lao “Liên kỳ Nam-Bắc Việt” do Lang thiết lập tại miền Nam, kể cả Trần Thiện Khiêm, Tham Mưu trưởng Liên quân. Hai nhóm này, phần đông là Ki-tô giáo, không muốn thấy “thiên mệnh Mỹ” rơi vào tay Phật giáo. Nhưng mạnh nhất, và được Mỹ tin cậy nhất, là nhóm các Tướng do [André] Đôn, Quyền Tổng Tham Mưu Trưởng, đại diện. Từ tháng 6/1963, André Đôn và em rể là Lê Văn Kim đã xin Nolting cho làm đảo chính, nhưng bị Nolting nghiêm khắc trách mắng:

Đừng cho tôi mấy thứ làm loạn và yểm trợ nổi loạn. Tại sao mấy ông không lo làm trọn nhiệm vụ của các quân nhân? Nước Mỹ không dính líu vào vấn đề đảo chính. (Nolting, 1988:126)

Ngày 8/7, André Đôn nói với một nhân viên CIA là nhóm mình được đa số cấp chỉ huy ủng hộ, ngoại trừ Thiếu tướng Huỳnh Văn Cao, Tư lệnh QĐ IV, và Thiếu tướng Tôn Thất Đính, Tư lệnh QĐ III. (Gravel, II:236; FRUS, 1961-1963, III:474; Chính Đạo, VNNB, I-C:1955-1963, tr. 307)

Nhưng khuôn mặt mà chế độ gờm sợ nhất vẫn là Trung tướng Dương Văn “Big” Minh (1916-2001). Tướng Minh, một thời được ca tụng như "Anh hùng Rừng Sác," đang là một Tướng không có quân, vô quyền lực với chức vụ Cố Vấn Quân Sự Phủ Tổng Thống từ ngày 8/12/1962. Không ai rõ tại sao Tướng Minh bỗng dưng bị thất sủng. Người nêu lý do Minh đã dấu đi một phuy vàng tịch thu được trong chiến dịch truy lùng Bình Xuyên. Người suy diễn rằng Diệm không tin Minh, một Tướng ngoại đạo, do Pháp đào tạo, lại có em trai theo Việt Minh. Thêm vào đó, một số quan Tướng Mỹ, kể cả Lansdale, không ưa “Big” Minh. Ngày 27/12/1961, chẳng hạn, Lansdale phản đối việc cử “Big” Minh nắm giữ quân đội vì, theo Lansdale, Minh từng công khai nói về ý định đảo chính Diệm. (US-Vietnam Relations, 1945-1967, Bk 11, tr. 427) Cách nào đi nữa, “Big” Minh cho rằng gia đình Diệm là loại người “được chim bẻ ná,” nên từng mưu định ám sát Nhu, nhưng phải bỏ dở. Trong số những đồng minh “tự nhiên” của “Big” Minh có Mai Hữu Xuân, Lê Văn Kim, các sĩ quan gốc miền Nam và một số đảng viên Đại Việt thời cơ như Đặng Văn Sung và Bùi Diễm.

Phần Phật giáo vẫn chuẩn bị tiếp tục tranh đấu, nếu cần. Ngày 26/6, Thiện Minh viết thư phản đối với UBLB về việc thành lập Phật Giáo Cổ Sơn Môn. Không hài lòng với thư trả lời ngày 28/6 của UBLB, nhóm Phật giáo tranh đấu quyết định xuống đường. Ngày 30/6, hàng ngàn tăng ni Sài Gòn bắt đầu tuyệt thực. Qua đầu tháng 7/1963, sinh viên, học sinh Sài Gòn biểu tình trước Quốc hội để yểm trợ cuộc tuyệt thực của các tăng ni. Không khí càng ngột ngạt hơn sau khi Phó TT Thơ đột ngột tuyên bố vào ngày 3/7 là, theo sự điều tra của chính phủ, chính “Việt Cộng” (sic) đã gây nên cuộc thảm sát đẫm máu ở Huế.

Tại Mỹ, Kennedy và các cố vấn theo dõi những biến chuyển ở Sài Gòn với mắt nhìn bi quan. Phản ứng tại nội địa Mỹ cũng chẳng có gì đáng lạc quan. Ngày 27/6, báo New York Times đăng bài cậy đăng nguyên một trang của 12 lãnh tụ Tin lành Mỹ, kể cả Reinhold Niebuhr và James Pike, yêu cầu Mỹ triệt thoái khỏi Việt Nam. Bài cậy đăng trên có cả hình Quảng Đức tự thiêu của Malcolm Browne. Chỉ còn vài ký giả ủng hộ Diệm trên những tờ báo mà Giáo Hội Ki-tô Mỹ có ảnh hưởng.

Ngày Thứ Hai, 1/7, Forrestal yêu cầu cho Đại sứ Nolting trở lại Việt Nam vì Phật giáo có thể biểu tình trở lại sau thời gian "hưu chiến." Tối 1/7 đó, Ball chuyển cho Trueheart chỉ thị của Hilsman và Nolting là phải gặp Diệm ngay, bảo thẳng Diệm rằng dư luận Mỹ cho rằng người thân của Diệm đang có tình phá hoại sự thỏa thuận với Phật giáo. Đúng hay sai, dư luận Mỹ cũng cho rằng đang có bách hại tôn giáo ở miền Nam. Khi Trueheart gặp Thuần, Trueheart yêu cầu Thuần đọc bài viết trên Times of Vietnam, và đề nghị Mỹ muốn Lệ Xuân đừng nên tuyên bố gì hết; bài báo trên Times of Vietnam hàm ý có sự chia rẽ giữa Nhu và Thơ-Thuần, cáo buộc Quảng Đức đã bị "thuốc" trước khi tự thiêu, và thách thức Phật giáo tiếp tục tự thiêu. Rồi thêm chẳng lẽ Diệm không hiểu rằng chỉ cần một vụ tự thiêu nữa là chính phủ Mỹ sẽ tuyên bố không dính líu gì đến chính sách tôn giáo của Diệm? Thuần trả lời rằng Diệm không biết điều đó, và đề nghị Trueheart nên nói thẳng với Diệm.

Trueheart xin chỉ thị của Bộ Ngoại Giao, và Ball cho Trueheart gặp Diệm, nói thẳng với Diệm; và nếu cần, gặp cả Nhu. (FRUS, 1961-1963, III:Tài liệu 198) Buổi gặp mặt giữa Diệm và Trueheart chiều tối ngày 3/7 khiến liên hệ giữa hai bên thêm căng thẳng. Khi Trueheart đề nghị Diệm đích thân gặp các lãnh tụ tôn giáo để giải quyết, Diệm nói sẽ cùng với các cộng sự viên nghiên cứu lại. Khi Trueheart đề cập đến bài báo trên Times of Vietnam, Diệm cũng chỉ nói sẽ nghiên cứu.(FRUS, 1962-1963, Tài liệu 200) Hôm sau, Thuần cho Trueheart biết rằng có lẽ Diệm không hành động gì về những đề nghị của Trueheart và yêu cầu Đại sứ Nolting trở lại Sài-gòn càng sớm càng tốt. Cũng trong ngày 4/7 này Lệ Xuân viết bài "Who Is Spokeman of Whom?" [Ai là phát ngôn viên của ai?] trên Times of Vietnam, phủ nhận tờ Times of Vietnam là cơ quan ngôn luận của mình. Nếu những bài viết trên Times of Vietnam có trùng hợp ý kiến của Lệ Xuân, đó cũng không phải là quan điểm của chính phủ. Bài này đã được phát cho báo chí ngày hôm trước. Lệ Xuân cũng khẳng định không đại diện cho chính phủ VNCH, và những kẻ xuyên tạc có thể bị lợi dụng bởi Cộng Sản và tay sai [lackeys]. (17)

17. Thời thực dân Pháp, cái mũ “Cộng Sản” đồng nghĩa với “phản loạn.” Nhưng hiện tượng chụp mũ “Cộng Sản” cho người khác ý kiến hoặc mình không ưa này còn phát triển rộng rãi hơn, vì quốc sách miền Nam là “chống Cộng.”

Trong phiên họp HĐ/ANQG từ 11G00-11G45 (khoảng nửa đêm ngày 4/7 tại Sài Gòn), ý kiến chung của các viên chức Mỹ là Diệm không chịu xa Nhu. Roger Hilsman, Phụ tá Ngoại trưởng Mỹ, thông báo cho Kennedy biết sẽ có đảo chính trong vòng 4 tháng. Hôm sau, 5/7, từ Greece về tới Oat-shinh-tân, Nolting được mời tham dự phiên họp của HĐ/ANQG, rồi nhận lệnh trở lại Sài Gòn càng sớm, càng tốt, với hy vọng cho Diệm cơ hội chót. Giữa lúc Nolting đang trên đường về nhiệm sở, ngày Chủ Nhật, 7/7, tại Chợ-Lớn, Công an hành hung một nhóm ký giả ngoại quốc nổi danh chống chế độ như Peter Arnett, gốc New Zealand, Browne, Sheehan, Halberstam, v.. v...(18)

18. Ngày hôm sau, Browne và Arnett bị truy tố về tội hành hung. BNG Mỹ chỉ thị Trueheart can thiệp để bỏ lệnh truy tố. Thoạt tiên, Diệm không đồng ý. Mãi tới ngày 17/7 mới thuận.

Ngày 10/7, bản ước lượng tình báo đặc biệt [SNIE 53-2-63] của Hội đồng ANQG Mỹ dự đoán rằng nếu Diệm không thi hành nghiêm chỉnh tuyên cáo chung 16/6, sẽ có đảo chính trong tương lai gần, với hơn 50% cơ hội thành công.(19)

19. Gravel, II:729-33; US-Vietnam Relations, 12:534. Thời gian này, có ba nhóm đang âm mưu đảo chính: Trung tá Phạm Ngọc Thảo, Trần Kim Tuyến, và vài nhóm Tướng lãnh. Theo tình báo Mỹ, Tuyến được sự yểm trợ của Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình, Hoà thượng Thích Tâm Châu, Thích Thiện Minh, Tướng Dương Văn Minh và Tôn Thất Đính. Lãnh tụ của nhóm Tuyến có lẽ là Nguyễn Ngọc Thơ. (FRUS, 1961-1963, III:474)

D. Cái Chết Của Nhất Linh:

Ngày 11/7, Nolting trở lại Sài Gòn. Thủ đô VNCH đang là dầu sôi, lửa bỏng. Sáu ngày trước, 5/7, Toà Mặt Trận đã bắt đầu nhóm họp xử những người bị cáo buộc liên hệ đến cuộc đảo chính hụt 11/11/1960.(20)

20. Chánh thẩm là Huỳnh Hiệp Thành; Ủy viên chính phủ là Trung tá Lê Nguyên Phu, Giám đốc Nha Hiến Binh (thuộc Bộ Quân Pháp của Đại tá Nguyễn Văn Mầu).

Trong số can phạm có 19 quân nhân (Thiếu tá Phan Trọng Chinh, v.. v..) và 34 thường dân (như Phan Khắc Sửu, Nguyễn Tường Tam, Phan Quang Đán v.. v...). Nhưng phạm nhân nổi danh nhất không có mặt trước vành móng ngựa trong buổi tuyên án ngày 12/7. Người tù lừng danh này, Nhất Linh Nguyễn Tường Tam—từng cầm đầu Tự Lực Văn Đoàn trong thập niên 1930, trở lại Hà Nội sau 5 năm lưu vong ở Trung Hoa để nắm chức Bộ trưởng Ngoại Giao của chính phủ Liên Hiệp Kháng Chiến 1946—đã chọn cái chết tự nguyện, vì thuốc độc, vào tối ngày 6/7, không cho phép thứ pháp luật Diệm-Nhu xét xử mình. Ngày 13/7, hàng ngàn học sinh, sinh viên tiễn đưa linh cữu Nhất Linh từ nhà thương Grall tới chùa Xá Lợi, rồi tiến về nghĩa trang Bắc Việt (của Thượng Tọa Trí Dũng). Kể từ ngày này, học sinh, sinh viên bắt đầu tham gia những cuộc tranh đấu chống Diệm.

Để ổn định tình hình miền Trung, Nhu cử Đại tá Đỗ Cao Trí thay Thiếu tướng Lê Văn Nghiêm làm Tư lệnh Quân Đoàn I, và ít lâu sau, phong Trí lên cấp Tướng.(CLV, SV, 17:70-3; Chính Đạo, VNNB, I-C:1955-1963, tr. 280, 352) Ngày 11/7, Nhu cũng gọi các Tướng lãnh vào Dinh Gia Long, đe dọa sẽ thẳng tay bẻ gãy mọi âm mưu đảo chính.(21)

21. Gravel, II:209-10; FRUS, 1961-1963, III:488-91. Tham dự có 14 Tướng, kể cả Nguyễn Khánh, Lê Văn Kim, Văn Thành Cao, v.. v...

E. Nỗ lực vô vọng của Nolting:

Phần Nolting vừa về tới Sài Gòn đã được Diệm mời vào Dinh Gia Long, trình bày tình hình. Để trả lời câu tuyên bố của Nolting với giới truyền thông khi vừa bước xuống phi trường—là mong muốn hai bên tiếp tục nói chuyện để đạt thỏa thuận—Diệm nói kết quả thương thuyết tùy thuộc vào phe tranh đấu. (Nolting 1988:113) Vì nghi ngờ rằng Phật giáo bị Cộng Sản giật giây, Nolting nỗ lực nối lại mối giao hảo giữa Toà Đại sứ và Diệm. Ngày 15/7, Nolting khuyên Diệm nên công bố một số nhân nhượng cần thiết với Phật giáo. Diệm đồng ý. Nhưng cuộc diễn hành tới trước tư thất Đại sứ Nolting ngày 16/7, do Tâm Châu dẫn đầu, để phản đối việc chính phủ tiếp tục đàn áp, bắt giữ tăng ni, Phật tử, và khẳng định Phật giáo không phải là Cộng sản hay bị Cộng sản lợi dụng, khiến Diệm cứng rắn hơn.(22)

22. Khán giả và công an, mật vụ khoảng 500 người. Khoảng 11G45, đoàn biểu tình kéo về chùa Xá Lợi, tuyên bố sẽ tuyệt thực 48 giờ. FRUS, 1961-1963, Tài liệu 221; Tâm Châu, 1994:19.

Hôm sau, 17/7, Cảnh sát đàn áp dữ dội cuộc biểu tình bất bạo động ở Sài Gòn và chùa Giác Minh tại Chợ Lớn. Hàng chục xe chở người bị bắt đến các trại tập trung vào An Dưỡng Địa Phú Lâm để sưu tra lý lịch. Các chùa đều bị phong tỏa.

Sau khi Kennedy tuyên bố trong buổi họp báo ngày 17/7 tại Oat-shinh-tân là hy vọng cuộc tranh chấp tôn giáo sẽ được giải quyết sớm, ngày 18/7, Diệm tuyên bố trên đài thanh không hề đàn áp Phật giáo, yêu cầu mọi người đoàn kết sau lưng chính phủ, rồi kết luận bằng câu "Xin ơn trên ban phép lành cho chúng ta." Hôm sau nữa, 19/7, Diệm cho phát lại bài diễn văn truyền thanh vỏn vẹn 2 phút kể trên. Ngày này, Ủy Ban Tranh Đấu Bảo Vệ Phật Giáo tán thành lời kêu gọi của Diệm; và yêu cầu có những biện pháp cụ thể để thực hiện Tuyên cáo chung ngày 16/6/1963, như phóng thích những người bị bắt giữ từ ngày 8/5, trừng phạt những người gây nên tội ác trong ngày 8/5, và bồi thường thiệt hại cho các nạn nhân và gia đình.

Hành động công khai đàn áp này khiến của các lãnh tụ tranh đấu phải tổ chức một buổi họp báo tại chùa Xá Lợi vào ngày 22/7, lên án chính phủ không giữ lời hứa. Điều đó, có lẽ Nolting rõ hơn ai hết. Chiều ngày 16/7/1963, khi Nolting vào Dinh Gia Long gặp Nhu, Nhu tuyên bố Phật giáo không có sự đe dọa nào đáng kể.

Nhưng tại Oat-shinh-tân, các cố vấn của Kennedy nhìn sự việc nột cách khác. Ngày 23/7/1963, Hilsman chỉ thị cho Nolting là Bộ Ngoại Giao dự trù sẽ còn nhiều cuộc biểu tình chống đối của Phật giáo; những cuộc biểu tình này khích động các thị dân, và sẽ có đảo chính trong vài tháng, nếu không phải vài tuần; và những cuộc đảo chính ấy có hy vọng thành công. Bởi thế, Nolting có thể ra tuyên cáo tự cách biệt với chính sách của Diệm; khuyến khích việc kế vị hợp hiến (Thơ lên thay); thuyết phục những người muốn đảo chính bỏ ý định; hoặc, tiếp tục chờ đợi, hy vọng Diệm cải cách. Hiện tại, nên theo đuổi chính sách chờ đợi. (FRUS, 1961-1963, III, Tài liệu 234) Ngày Thứ Tư, 24/7, Paul Kattenburg, Giám đốc Đoàn Việt Nam, còn đề nghị gửi Lansdale qua Sài Gòn. Nhưng Nolting ra công bảo vệ Diệm với Hilsman. Theo Nolting, Diệm là cơ hội tốt nhất của miền Nam. (FRUS, 1961-1963, III, Tài liệu 237) Ngày 28/7, Nolting còn tuyên bố với hãng UPI là không hề có việc đàn áp Phật Giáo ở VNCH, vì Bộ trưởng Nội Vụ Lương đã cho Nolting biết chính phủ sẽ không dùng biện pháp mạnh để đàn áp; và dân chúng đã chán ngán cảnh hỗn loạn. Diệm còn trực tiếp chỉ thị cho Đại tá Nguyễn Văn Y, Giám đốc Mật vụ, và Giám đốc Cảnh Sát Công An Đô thành không được dùng võ lực. Phó Tổng thống Thơ cũng nói đại diện Phật giáo đồng ý gặp Thơ trên căn bản bán chính thức từ ngày 31/7/1963.

Nhu và Lệ Xuân cũng bắt đầu sử dụng cán bộ Cần Lao cùng các tổ chức ngoại vi như Thanh Niên Cộng Hoà, Thanh Nữ Cộng Hoà chống Phật Giáo. Vì quá hăng say phục vụ lãnh tụ và để chuộc tội thua trận Tua Hai (Tây Ninh) hơn ba năm trước, ngày Chủ Nhật 23/7, Trung Tá Trần Thanh Chiêu, Giám đốc Nha Thanh Tra Dân Vệ tụ tập khoảng 100 dân vệ, gia đình tử sĩ và thương phế binh trước chùa Xá Lợi, yêu cầu “các thày trở lại việc tu hành, ngưng tiếp tục gây rối loạn chỉ làm lợi cho Cộng Sản.”(23)

23. Ngày Thứ Tư, 24/7/1963, Nguyễn Đình Thuần cho Nolting biết Trung tá Chiêu đã bị phạt kỷ luật.

Nhu, Lệ Xuân, cùng những tay chân như Trương Công Cừu, người đã theo Diệm về nước năm 1954, cũng không ngớt tấn công cuộc tranh đấu của Phật giáo. Lỗ mãng nhất là Lệ Xuân. Không những chỉ thị cho tờ Times of Viet Nam  đả kích Phật giáo, mà còn thách thức các tăng ni tiếp tục tự thiêu.(24)

24. FRUS, 1961-1963, III:Tài liệu 198, 200. Để trả lời Lệ Xuân, ngày 23/7, Sư bà Diệu Huệ, mẹ Bửu Hội, họp báo tuyên bố sẵn sàng tự thiêu cúng dường tam bảo.

Ngày 1/8, Lệ Xuân tuyên bố với phóng viên đài truyền hình Mỹ CBS rằng các lãnh tụ Phật giáo đang âm mưu lật đổ chính phủ; và tất cả những gì Phật tử đã làm chỉ có mỗi việc “nướng thịt một sư” [barbecue a bonze] với “săng nhập cảng” [imported gas]. Hai ngày sau, Thứ Bảy 3/8, Lệ Xuân tuyên bố trước khoá sinh khoá III Phụ Nữ Bán Quân Sự rằng những vụ tranh đấu chỉ có bề ngoài tôn giáo, nhưng mục đích là chính trị, với những thủ thuật Cộng Sản, cần phải bẻ gãy. Năm ngày sau nữa, 8/8, như để trả lời cha ruột là Đại sứ Trần Văn Chương—người đã công khai trách mắng Lệ Xuân là "thiếu tư cách và hỗn láo” [impertinent and disrespectful] trên đài Tiếng Nói Hoa Kỳ [VOA] vào ngày 6/8—Lệ Xuân tuyên bố dù có "thiếu lễ độ" cũng phải nói “sự thực.” Lệ Xuân cũng biện hộ cho những lời tuyên bố trên đài CBS ngày1/8/1963; khẳng định các lãnh tụ Phật giáo không đại diện cho Phật giáo hay đại diện cho dân tộc Việt Nam.

Hôm sau nữa, 9/8, trong bài phỏng vấn của tuần báo Mỹ Newsweek, Lệ Xuân còn hung hăng, ngạo mạn hơn. (Newsweek, 9/8/1963; Chính Đạo, VNNB, I-C:1955-1963, tr. 314) Ngoài ra, còn có tin em trai Lệ Xuân, Trần Văn Khiêm, thay Trần Kim Tuyến làm Giám đốc Mật vụ, và Khiêm đã lập sẵn một danh sách những người chống đối chế độ để quăng lưới. Để chứng tỏ mình là người quyền lực, Khiêm mang danh sách trên ra khoe với cả một ký giả Australia.(25)

25. Ngày 11/8, Thuần báo cáo với Nolting là Lệ Xuân giao cho Khiêm tổ chức một lực lượng Mật vụ riêng; nhưng Nhu phủ nhận. Ngày Thứ Bảy, 31/8, khi được ký giả người Úc, Denis Warner, phỏng vấn Trần Văn Khiêm cho Warner coi một danh sách các viên chức mà Khiêm định ám sát. Theo CIA, Chương, cha Khiêm và Lệ Xuân, coi Khiêm như "bất lực, tham nhũng và hèn nhát;" FRUS, 1961-1963, IV:Tài liệu 68.

Phần Nhu cũng tiếp tay vợ trong chiến dịch đả kích Mỹ và Phật giáo. Trong cuộc phỏng vấn dành cho hãng thông tấn Reuters ngày 3/8/1963, Nhu tuyên bố chùa Xá Lợi đang trở thành một trung tâm mưu lật đổ chính phủ, và nếu không giải quyết được vấn đề Phật giáo, sẽ có một cuộc đảo chính chống Mỹ và Phật giáo. (Ngày 5/8, báo NYT đăng lại tin này; Chính Đạo, VNNB, I-C:1955-1963, tr. 312) Ngày 7/8, Nhu nói với Nolting là hoàn toàn ủng hộ chính sách của Diệm qua bản tuyên cáo ngày 18/7, nhưng Lệ Xuân, theo Nhu, có quyền phát biểu ý kiến riêng của một công dân. Ngày 8/8, nhật báo New York Times đăng hai bài trên trang nhất về Việt Nam. Bài thứ nhất của Halberstam, từ Sài-gòn, với tựa "Bà Nhu Tố Cáo Mỹ Bắt Chẹt ở Việt Nam" [Mrs. Nhu Denounces ỤS. for "Blackmail" in Vietnam]. Lệ Xuân, theo Halberstam, tuyên bố rằng Diệm không có quần chúng ủng hộ, phải dựa vào vợ chồng Nhu. Bài thứ hai của Tad Szulc ở Oat-shinh-tân, tiết lộ mối quan tâm ngày một gia tăng của chính phủ Kennedy về việc chính phủ Diệm khó sống còn nếu không hòa hoãn với Phật giáo. Tính sổ chung với những lời tuyên bố đòi rút số cố vấn Mỹ trong tháng 5/1963, vợ chồng Nhu mới đích thực trở thành một thứ Persona Non Grata với các viên chức Mỹ.

Đặt mình trước nhiều hơn một lằn đạn—và nhất là đã bị thuyết phục rằng cuộc tranh đấu của Phật giáo chẳng những không có tính cách thuần túy tôn giáo mà chỉ là một âm mưu chính trị, nhằm lật đổ chính phủ, do Cộng Sản xúi dục—mọi nỗ lực cuối cùng của Nolting ở Việt Nam hầu như uổng phí. Ngày 30/7, Phật tử tổ chức linh đình giỗ thất tuần (49 ngày) Thượng tọa Quảng Đức. Hôm sau, 31/7, Ủy Ban Tranh Đấu Bảo Vệ Phật Giáo ra tuyên cáo phản đối lời tuyên bố ngày 28/7 của Nolting. Ngày 1/8, Tịnh Khiết  gửi thư cho Kennedy, phản đối lời tuyên bố của Nolting rằng không có việc đàn áp Phật Giáo ở VNCH. Tâm Châu cũng viết thư phản đối lời tuyên bố của Nolting. Một Nhóm Người Yêu Nước thì ra tuyên ngôn phản đối Nolting là không hiểu biết gì về tình cảnh Phật giáo tại Việt Nam. Ba ngày sau, 4/8, Đại Đức Nguyên Hương (Huỳnh Văn Lễ)  tự thiêu trước Dinh Tỉnh trưởng Phan Thiết, và Phật tử phải xuống đường biểu tình đòi lại xác đã bị Cảnh Sát lấy đi. Ngày 5/8, một tăng sĩ khác tự thiêu đòi bình quyền tôn giáo. Một tuần sau nữa, 12/8, một nữ sinh chặt một bàn tay phản đối chính quyền và luận điệu hỗn hào của Lệ Xuân đối với các tăng ni. Rồi, ngày 13/8, đến lượt Đại Đức Thanh Tuệ cúng dường tam bảo ở Hương Trà, Thừa Thiên.

Bẽ bàng hơn nữa là anh em họ Ngô cũng bắt đầu coi thường Nolting. Khi Nolting cho Diệm xem bức công điện khẳng định chính phủ Mỹ không thay đổi chính sách về Việt Nam, Diệm nói: "Tôi tin ông, nhưng không tin nội dung bức điện ông nhận được." (Nolting 1988:117)  Khi Nolting đề nghị Diệm có biện pháp với Lệ Xuân—người mà theo Nolting đã vượt ngoài sự kiểm soát của cha mẹ và anh chồng—Diệm chỉ hứa “sẽ cứu xét.”(26)

26. Trong báo cáo ngày 10/8, Nolting cho biết rằng những người như Thơ, Thuần, Nhu, Mẫu, Bửu Hội v.. v... đưa ra giải pháp sau: Lệ Xuân đi "nghỉ dài hạn," như ở Roma; Tổng Giám Mục Thục sẽ được thăng cấp [về Roma]. Thuần còn mật báo rằng các Bộ trưởng đều đồng ý đã đến giờ thứ 11 của Diệm. Lệ Xuân cùng em ruột là Trần Văn Khiêm tổ chức một toán cảnh sát đặc biệt để bắt cóc đối thủ. Chắc chắn Nhu cũng biết việc này.

Ngày 12/8, khi tiếp kiến Nolting, Diệm cho rằng các tăng ni không thành thực, và thế giới không biết đến việc các sư giả muốn lật đổ chế độ. Sau dạ tiệc đưa tiễn Nolting của Diệm, ngày 13/8, Thơ họp báo, tuyên bố sẽ truy tố một số người tham dự biểu tình ngày 8/5, và những người bị bắt sau ngày 16/6 có thể không được khoan hồng. Trong phần hỏi đáp, Thơ so sánh trường hợp Lệ Xuân với những lời chỉ trích chính phủ VNCH của Thượng Nghị Sĩ Mansfield. Buổi họp báo của Thơ khiến Ngoại trưởng Rusk phải gửi điện tín cho Nolting, hỏi liệu Diệm có muốn đi nghỉ mát chung với vợ chồng Nhu chăng? (FRUS, 1961-1963, III:Tài liệu 252; Chính Đạo, VNNB, I-C:1955-1963, tr. 315)

Sau nhiều lần xin ở lại Sài Gòn nhưng bị từ chối, ngày 14/8, Nolting đến chào từ biệt Diệm. Đến gần lúc chia tay Diệm mới hứa sẽ công khai phủ nhận những lời chỉ trích lỗ mãng của Lệ Xuân. Những lời hứa cho có. Ngày 15/8, tờ Times of   Viet Nam ca ngợi Nolting như "người đầu tiên xứng đáng với tước hiệu đại sứ." (Nolting, 1988:119) Do sự dàn xếp của Nolting, báo New York Herald Tribune [Diễn Đàn Tiền Phong New York] cũng đăng bài phỏng vấn Diệm của Marguerite Higgins. Higgins trích lời Diệm là chính phủ vẫn theo đuổi chính sách ôn hoà với Phật giáo. Diệm và gia đình cũng rất vui lòng về việc bổ nhiệm tân Đại sứ Lodge. (NYHT, 15/8/1963; Nolting 1988:118)

Thực ra, đây chỉ là món quà tiễn chân Nolting, và để trấn an dư luận Mỹ, vì Diệm-Nhu đang có kế hoạch xuống tay mạnh với Phật giáo.(27)

27. Ngày 9/8/1963, trong  phiếu trình lên Kennedy về vợ chồng Nhu, Michael Forrestal tiết lộ Miên, Ceylon [Sri Lanka], và Nepal đã đưa vấn đề Phật giáo ra trước văn phòng Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc. Có thể sẽ họp Đại Hội Đồng LHQ.

Phần Phật giáo cũng có quà vĩnh biệt khó quên cho Nolting—Ni cô Diệu Quang tự thiêu tại chùa Ninh Hoà. Và, hôm sau, Đại Đức Thiện Huệ tự thiêu tại chùa Từ Đàm, Huế.

Tại Huế và các tỉnh, việc bắt giữ, hành hung, ám sát Phật tử vẫn diễn ra hàng ngày. Ngày 14/8, chẳng hạn, một thợ mộc Phật tử phụ trách việc treo biểu ngữ và cờ bị bắn chết ở Huế. Hôm sau, 15/8, chính quyền thả chó đàn áp học sinh và sinh viên biểu tình. Xô xát dữ dội. Một số bị bắt. (Nguyễn Ngu Í,  1964a:42-43) Đại diện sinh viên Phật tử ở Huế phải gặp Cao Văn Luận xin can thiệp trả tự do cho những người bị bắt giữ. (Nguyễn Ngu Í 1964a:43) Nhưng ngay chính Luận cũng đang bị thất sủng. Ngày 16/8, trong khi chính quyền địa phương ban hành lệnh thiết quân luật từ 6 giờ sáng, bố trí xe tăng án ngữ ở một số ngã tư, kẽm gai kéo ra ngăn chặn dự định tự thiêu của Đại đức Thích Tiêu Diêu ở chùa Từ Đàm, Bộ trưởng Giáo Dục (Trình) tháp tùng Nguyễn Hữu Thế, tân Viện trưởng Đại học Huế, tới cố đô để làm lễ bàn giao với Linh mục Luận vào ngày hôm sau. (Nguyễn Ngu Í 1964a:43-4) Hôm sau, 17/8, hầu hết các Giáo sư Đại học Huế đều xin từ chức: Lê Khắc Quyến, Khoa trưởng Y khoa; Bùi Trần Huân, Luật khoa; Tôn Thất Hanh, Khoa học; Nguyễn Văn Trường, Ban Khoa học Sư phạm; Lê Tuyên. Thế phải bỏ vào Sài-gòn báo cáo. Trong khi Luận lên đường vào Đà-nẵng, các giáo sư lại ký kiến nghị phản đối việc cách chức Luận. (Nguyễn Ngu í 1964b:28) Chiều đó, sinh viên Huế bắt đầu biểu tình, (Nguyễn Ngu Í 1964a:46) cản đường cả Bộ trưởng Giáo dục Trình khi đương sự ra phi trường vào Đà-nẵng. (Ibid., 1964b:28)

flash-5sac.gif (367 bytes) đọc tiếp phần IV: Giọt nước làm tràn ly

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........