curley_sw.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw.gif (1967 bytes)

.......... .
 

Mùa Phật Đản Đẫm Máu (tiếp theo)

Chính Đạo

IV. Giọt Nước Làm Tràn Ly:

Ngay sau khi Nolting vừa rời Việt Nam, anh em Diệm-Nhu đã quyết định chào đón Tân Đại sứ Lodge bằng vài món quà ngoạn mục. Hai món quà lớn nhất là cuộc tổng tấn công các chùa trên toàn quốc và công khai tiếp xúc với sứ giả Hà Nội.

Nguyên cớ gần có lẽ là bức điện văn mật ngày 16/8/1963 của Đại sứ Trần Văn Chương: Theo Chương, dư luận thế giới và đặc biệt là tại Mỹ tin rằng Diệm không thể mang lại chiến thắng Cộng Sản. Cuộc khủng hoảng Phật Giáo vốn dĩ không phải là nguyên nhân, mà chỉ là hậu quả, một giột nước làm tràn ly. Bởi thế, Diệm phải ngưng tin dùng các cố vấn Nhu và Cẩn. (Nhân 1964a:34)

Đúng ngày16/8 này, báo Life đăng lại lời Lệ Xuân tuyên bố là sẽ phá tan Phật giáo. Ngày 17/8, Phật tử tụ họp đông đảo ở chùa Xá Lợi. Ngày 19/8, sinh viên Huế cũng chuẩn bị biểu tình, dù tạm thời hủy bỏ cuộc biểu tình dự trù vào hôm đó vì sợ bị chụp mũ Cộng Sản (ngày kỷ niệm Cách Mạng tháng 8/1945). Nhưng các giáo chức đệ đơn từ chức trong khi sinh viên yêu cầu tân Viện trưởng Thế chuyển thỉnh nguyện mời Cao Văn Luận trở lại. (Nguyễn Ngu í 1964a:33) Ngày 20/8, Viện trưởng Thế cho lệnh những buổi hội họp trong khuôn viên trường phải xin phép trước. (Nguyễn Ngu Í 1964b:35-6)

A. Cuộc tổng càn quét chùa chiền:

Ngày Chủ Nhật 18/8, mười Tướng và Tư lệnh đơn vị—kể cả Huỳnh Văn Cao và Tôn Thất Đính—họp mật, rồi đồng ý yêu cầu Diệm thiết quân luật, để bắt buộc các tu sĩ trở lại chùa. Hai ngày sau, 20/8, các Tướng trình dự thảo Thiết quân luật lên Nhu và Diệm. Diệm chấp thuận, cho lệnh André Đôn, mới được cử làm Quyền Tổng Tham Mưu Trưởng thay Đại tướng Lê Văn Tỵ, ký tên và công bố ngay nửa đêm đó. Đính được cử làm Tổng trấn. Tuy nhiên, tin này chỉ được công bố vào sáng ngày 21/8.

Khoảng nửa giờ sau khi Thiết Quân luật có hiệu lực, Nhu cho lệnh Lực Lượng Đặc Biệt [LLĐB] và Cảnh Sát mặc giả quân phục tấn công các chùa trên toàn quốc. Tại chùa Xá Lợi Sài Gòn, nơi đặt bản doanh Ủy ban Tranh đấu, Hòa thượng Tịnh Khiết, Thượng tọa Tâm Châu, cùng nhiều tăng sĩ bị bắt giam. Trong khi LLĐB và Cảnh Sát tiến chiếm mục tiêu, khoảng 30 tăng sĩ bị thương, và 2 người bị mất tích. Đích thân Đại tá Lê Quang Tung, Chỉ huy trưởng LLĐB, và Nguyễn [?] Văn Tư, Giám đốc Cảnh sát Đô thành, chỉ huy, dưới sự điều động của Đính.

Đồng thời, các chùa Ấn Quang (Sài Gòn), Linh MụTừ Đàm (Huế), cùng các chùa ở Đà Nẵng, Nha Trang v.. v... đều bị đánh chiếm. Tại Huế, khoảng 3 giờ đêm tiếng mõ, tiếng chuông, tiếng kêu cầu cứu vang lên khắp nơi. Đồng bào quanh chùa đánh mõ, gõ thùng thiếc báo nguy. Đợt tấn công đầu, Cảnh sát bị đẩy lui. Sau đó, Đỗ Cao Trí cho lệnh nổ súng. Những giáo sư, sinh viên và học sinh tranh đấu cũng bị bắt giữ. (Nguyễn Ngu Í 1964b:37-44)

Tổng cộng khoảng 1,400 người, đa số là tăng sĩ, trên toàn quốc bị bắt giữ. (Gravel, II:232; Tâm Châu 1994:19) Chỉ có hai nhà sư từ chùa Xá Lợi thoát được tới trụ sở Phái Bộ Kinh Tế [USOM] gần đó xin tị nạn. Qua ngày 23/8, Trí Quang cũng trốn được vào Toà Đại sứ Mỹ.(28)

28. Xem thêm Phạm Trọng Nhân, "Cuốn sổ tay của một nhân viên ngoại giao nhân vụ tấn công chùa Xá Lợi," Bách Khoa, số 169 (15/1/1964), tr. 31-43, và số 170 (1/2/1964), tr. 21--31). Riêng tại Sài-gòn, số tăng ni Phật tử bị bắt lên tới 2,000 người.

Tại Sài Gòn, Diệm cho triệu tập Hội đồng chính phủ vào lúc 5G30 sáng.  Diệm chỉ giải thích rằng phải thiết quân luật theo điều 44 Hiến pháp vì Cộng Sản đã xâm nhập một số tỉnh lﬠquận lần thủ đô; nhưng tuyệt nhiên không đả động gì đến vụ tấn công chùa Xá Lợi. Vì đã chính mắt chứng kiến cuộc tấn công một ngôi chùa gần nhà, Ngoại trưởng Vũ Văn Mẫu phản đối. Phó Tổng thống Thơ cũng ngả theo Mẫu.(Nhân 1964a:35-36)

Nửa giờ sau, đài phát thanh bắt đầu loan tin thiết quân luật trên toàn quốc. Sau đó, phát thanh bài diễn văn của Nhu, yêu cầu Thanh Niên Cộng Hòa yểm trợ chính phủ.

Vào khoảng 6G00 sáng, André Đôn điện thoại cho Tướng Harkins thông báo về lý do ban hành thiết quân luật. Theo André Đôn, Diệm cho lệnh Thiết quân luật để chống lại Phật giáo. Lệnh này chắc không kéo dài quá ngày bầu cử [Quốc Hội dự trù vào ngày 31/8/1963]. Đôn cũng tiết lộ là hiện mới chỉ sử dụng 1 tiểu đoàn Dù, 1 tiểu đoàn TQLC, và quân cảnh ở Sài-gòn. Tuy nhiên, các đơn vị ven đô đều đặt trong tình trạng báo động. Thiết giáp cũng xuất hiện ở cả Sài-gòn lẫn Chợ-lớn.

Cuộc đánh chiếm chùa và bắt giữ tăng ni, Phật tử rúng chuyển dư luận khắp nơi. Sinh viên, học sinh Huế xuống đường biểu tình dữ dội. Đường phố Đà Nẵng cũng rung chuyển khí thế đấu tranh và quyết tâm đánh dẹp biểu tình của nha trảo chế độ. Thục, rồi Nhu yêu cầu Linh mục Luận, lúc đó đang tạm trú ở Đà Nẵng, trở lại Huế giải quyết. Luận từ chối, dù là một cán bộ Cần Lao cao cấp—chuyến tham quan Mỹ trong mùa Hè 1963 cho Luận nhận hiểu ngày tàn của chế độ đã điểm. (Luận 1973:352-386)

Ngày 23/8, Sinh viên Y và Dược khoa Sài Gòn bắt đầu nhập cuộc, biểu tình đòi trả tự do cho các tăng ni, Phật tử. Cảnh sát đàn áp mạnh, bắt giữ nhiều người. Hôm sau, 24/8, Ngoại trưởng Mẫu từ chức, xuống tóc phản đối. Chương—cha vợ Nhu, đương kim Đại sứ tại Mỹ—cũng phản đối. Sau đó, bị Diệm cách chức. Mẹ Lệ Xuân, Thân Thị Nam Trân, từ chức Quan sát viên tại Liên Hiệp Quốc. Tối 27/8, hai vợ chồng Chương còn thúc dục Tướng Lansdale là Mỹ cần phải lật đổ ngay Diệm-Nhu, bằng không dân chúng sẽ trở thành chống Mỹ. Đích thân Nam Trân yêu cầu Lansdale qua ngay Sài Gòn, khuyên hai anh em Diệm rời nước. Nam Trân nhấn mạnh:

Dân chúng đã ghét họ, và họ không nên ở lại để chờ bị dân chúng giết. Họ chắc chắn sẽ bị giết nếu còn ở lại, và chẳng có ai trong Dinh [Gia Long] bảo thẳng với họ về cảm tưởng của dân chúng. Họ đã bị cách biệt hẳn với thực tế. Sau chín năm cầm quyền, tại sao họ còn muốn tiếp tục nếu toàn gia bị chết. Nước Mỹ đã bảo Syngman Rhee [Lý Thừa Vãn của Nam Hàn] rời nước [năm 1961]. Tại sao không làm như thế với Diệm và Nhu?(29)

29. JFK Library, NSF Country File, Vietnam; William C. Gibbons, The ỤS. Goevrnment and the Vietnam War, 3 vols (Princeton, NJ: Princeton Univ Press, 1993), II:155.

Dư luận Mỹ cực kỳ sôi nổi. Để bảo toàn bí mật, ngay sau nửa đêm 20/8, Nhu cho lệnh cắt đứt đường dây điện thoại tới Tòa Đại sứ Mỹ và tư gia các viên chức cao cấp Mỹ. Bởi thế, ngày 21/8, từ Trueheart tới Chánh sở CIA John H. Richardson đều không biết rõ chính Diệm đã cho lệnh, hay các Tướng lãnh đã làm đảo chính, đánh chiếm chùa chiền. Ngộ nhận các Tướng lãnh đã làm đảo chính, đài V.ỌẠ và Bộ Ngoại Giao Mỹ nghiêm khắc qui trách cho quân đội. Đang dự hội nghị Honolulu với Lodge, Hilsman, Đô Đốc Harry D. Felt, và tân Chủ tịch Ủy Ban Đặc Nhiệm Việt Nam tại Bộ Ngoại Giao Mỹ là Paul Kattenburg, Nolting cũng gửi cho Diệm một công điện phản đối, trách móc Diệm không giữ lời hứa: “Đây là lần đầu tiên ông không giữ lời hứa với tôi.” (Nolting, 1988:121)

Hôm sau, 22/8, Kennedy cho lệnh Lodge nhận nhiệm sở càng sớm càng tốt. Oat-shinh-tân còn biệt phái một chiếc phi cơ cho Lodge bay thẳng từ Tokyo tới Sài Gòn lúc 21G00 cùng ngày. Tới trước Lodge vài tiếng đồng hồ là một mật điện của Hilsman, chỉ thị cho Lodge phải tìm cách giảm quyền lực Nhu. (FRUS, 1961-1963, III:605) Vì Ngoại trưởng   Mẫu đã xin từ chức, nhưng Diệm không chấp thuận, chỉ đồng ý cho nghỉ phép ba tháng (Nhân 1963a:37-9), lễ trình ủy nhiệm thư của Lodge phải tạm hoãn cho tới ngày Diệm bổ nhiệm một XLTV ngoại trưởng.

Chỉ trong vòng chưa đầy 24 tiếng đồng hồ, Lodge đã rõ sự thực. Hai nhân viên CIA Lucien “Lu” Conein và Rufus Phillips được André Đôn, Lê Văn Kim, Nguyễn Đình Thuần và Võ Văn Hải, Chánh văn phòng của Diệm, khẳng định rằng chính Nhu đã cầm đầu cuộc tấn công chùa chiền. (Gravel, II:234) Buổi nói chuyện giữa André Đôn và Conein tại Bộ Tổng Tham Mưu khiến Lodge chú ý nhất. André Đôn yêu cầu đài VOA cải chính là không phải quân đội đã tham gia cuộc đàn áp, tấn công các chùa chiền, mà chính Cảnh sát đặc biệt của Nhu. Theo Đôn, khoảng 1,420 tăng ni bị bắt giữ khắp miền Nam trong ngày 21/8. Vẫn theo Đôn, Nhu là "khối óc" [thinker] của Diệm; nhưng Diệm có quyền quyết định. Lệ Xuân hành xử như "vợ" [platonic wife] của Diệm. Diệm chưa bao giờ lấy vợ và không quen có đàn bà bao quanh. Chín năm qua, Lệ Xuân lo chăm sóc Diệm sau mỗi ngày làm việc mệt nhọc. Lệ Xuân săn sóc, nói chuyện, giúp Diệm giải tỏa áp lực, và giống như bất cứ người vợ Việt Nam nào, thống trị gia đình. Giữa Diệm và Lệ Xuân không có liên hệ tình dục, vì Diệm chưa hề trải qua mùi vị nam nữ. Tình trạng giữa Diệm và Lệ Xuân, theo Đôn, giống như Hitler và Eva Braun. Đôn cũng tiết lộ rằng Diệm rất thích những thanh niên đẹp trai. Một Trung sĩ làm vườn đã được Diệm cân nhắc lên hàng Trung tá, trông coi dinh điền quân đội, nhờ đẹp trai. Theo Đôn, không thể tách rời Diệm với vợ chồng Nhu. Nếu phải chọn giữa Diệm và Nhu, Đôn muốn thấy Nhu ra đi.(30)

30. FRUS, 1961-1963, III, tài liệu 275; Chính Đạo, VNNB, IC: 1961-1963, tr. 208, 322-3. Trong hồi ký của McNamara, đoạn nói về Lệ Xuân, cũng tương tự như nhận định này. McNamara còn gọi Lệ Xuân là "một mụ phù thủy." Theo cựu Đại tá Phạm Văn Liễu, năm 1954, đài phát thanh Quân Đội Quốc Gia đã phát thanh hầu như mỗi ngày một câu đồng dao: “Nực cười cho họ Ngô Đình, Trai không có vợ, mượn tình em dâu.” Trai không có vợ ám chỉ Ngô Đình Diệm, và “em dâu” là Lệ Xuân; Trả Ta Sông Núi (Houston: Văn Hóa, 2001), tập I, tr. 310.

Tướng Lê Văn Kim, phụ tá báo chí của Đôn, tâm sự với Phillips, Giám đốc Phòng Cải Cách Điền Địa của cơ quan USOM, là quân đội đã trở thành "tay sai" của Nhu. Chính Nhu đã mưu mẹo để các Tướng yêu cầu ban hành thiết quân luật. Và, 1426 tăng ni, Phật tử đã bị bắt giữ. Trong bữa điểm tâm tại tư dinh Nguyễn Đình Thuần ngày 24/8, Thuần nói với Phillips là vợ chồng Nhu phải ra đi. Theo Thuần, ngày hôm trước (23/8), Diệm đã viết thư cho Lệ Xuân, yêu cầu từ nay đừng tuyên bố gì nữa. Diệm cũng đã chuyển cho Trần Tử Oai và Tổng Giám Đốc Thông Tin biết lệnh này. Thuần nghĩ Mỹ đừng lo ngại việc mở cửa cho Cộng Sản với cái giá phải yểm trợ một chính phủ có Nhu. Nếu Mỹ cả quyết, các Tướng lãnh sẽ hành động. (FRUS, 1961-1963, III, Tài liệu 273)

Vị đắng của cảm giác bị anh em Diệm-Nhu "phản bội" và ý niệm vai trò Diệm đã mất đi sự tối thiết hoặc hữu dụng trong chiến lược của Mỹ khiến Lodge giữ thái độ xa cách với Dinh Gia Long. Sách lược của Lodge là giai đoạn mềm mỏng dưới thời Nolting đã qua. Diệm phải tìm đến Lodge—như ngày nào Diệm đã phải tìm đến tu viện Maryknoll ở New Jersey và Oat-shinh-tân cầu viện trợ. Vì, thực ra Diệm cần Mỹ hơn Mỹ cần Diệm.

Chỉ có Tướng Harkins vẫn ủng hộ Diệm. Trong báo cáo ngày 22/8 về Oat-shinh-tân, Harkins có vẻ đồng ý việc tấn công các chùa, vì muốn ổn định tình hình. Harkins cũng không tán thành việc đặt Đôn lên chức vụ kiểm soát Bộ Tổng Tham Mưu, cùng Đính nắm Quân đoàn III và Biệt Khu Thủ Đô, vì việc bổ nhậm này tạo cho phe đảo chính cơ hội nắm quyền dễ dàng. (FRUS, 1961-1963, III, tài liệu 270) Gặp Đôn ngày 24/8, Harkins được Đôn cho biết tiếp tục yểm trợ Diệm, nhưng muốn tăng cường thêm một số Tướng vào chính phủ để dạy Diệm cách ủy quyền cho các Bộ trưởng. Đôn muốn “Big” Minh sẽ nắm Nội Vụ, Trần Tử Oai, Thông tin; một Tướng khác nắm Bộ Quốc Phòng; Thuần giữ chức Bộ trưởng Phủ Tổng thống. (FRUS, 1961-1963, III, Tài liệu 283)

flash-5sac.gif (367 bytes) đọc tiếp phần V: Thay ngựa: Cuộc đảo chính 1-11-1963

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........