curley_sw.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw.gif (1967 bytes)

.......... .
 

Mùa Phật Đản Đẫm Máu (tiếp theo)

Chính Đạo

V. Thay Ngựa Giữa Dòng: Cuộc Đảo Chính 1/11/1963:

Trong khối văn chương ngoại giao Mỹ về Việt Nam, người ta thường gặp rất nhiều từ bình dân. "Horse" [Ngựa] hay “Our Boys” [sấp nhỏ của ta] là hai trong những từ ấy. Và, thường dùng để chỉ lãnh tụ của những quốc gia hay thực thể chính trị do Mỹ bảo trợ. Cuối năm 1954, đầu năm 1955, Đặc sứ J. Lawton Collins và Tướng Paul Ely đã xin thay "ngựa" ở Sài Gòn. Nhưng phần vì sự can thiệp của Thượng Nghị sĩ Mansfield, phần vì Tổng Thống Dwight D. Eisenhower chưa tìm thấy một "con ngựa" khác đủ sức thay Diệm, kế hoạch Collins-Ely bị hủy bỏ giờ chót. Cuối năm 1960, Đại sứ Durbrow cũng đã có lúc muốn thay ngựa, nhưng Diệm và Nhu khéo léo loại bỏ nhóm đảo chính Nguyễn Chánh Thi ổn định lại chế độ.

Tháng 8/1963, tình thế đã đổi khác. Cuộc tranh đấu của Phật giáo—với kỹ thuật khai thác tinh vi sức mạnh truyền thông thế giới, và việc phối hợp chặt chẽ hành động từ trung ương tới địa phương—phơi rõ nhược điểm của chế độ. Chiến dịch tấn công chùa chiền không mang lại hậu quả mong đợi. Học sinh và sinh viên bắt đầu nhập cuộc, bất chấp lệnh giới nghiêm hay sự đàn áp man rợ. Các Tướng tá cũng giao động, mong chờ người Mỹ "bật đèn xanh." Quan trọng hơn, cuộc tổng tấn công các chùa chiền và bắt giữ tăng ni là một thách thức trực diện với Oat-shinh-tân nói chung, và cá nhân Lodge nói riêng. Có lẽ Nhu và Diệm đều nghĩ rằng cách nào đi nữa Mỹ cũng không thể không buông suôi. Lodge, rồi sẽ như Collins hay Durbrow, phải chấp nhận thêm một chuyện đã rồi. Một ảo tưởng sai lầm chết người.

A. Đèn Xanh:

Giống như hầu hết các quốc gia thứ ba vừa thoát khỏi sự chiếm đóng của các cường quốc thực dân Âu Mỹ, những cá nhân tham vọng và có cơ may nhất để bước lên đài quyền lực là các cấp chỉ huy quân đội. VNCH không ở vào trường hợp ngoại lệ. Từ tháng 6/1963, André Đôn đã tìm cách móc nối với chiến hữu, chờ ngày làm chuyện lớn. Trong số này có Mai Hữu Xuân, Lê Văn Kim, và Dương Văn Minh "lớn."

Nhận hiểu cuộc tranh đấu của Phật giáo là cơ hội bằng vàng tiến thân, André Đôn và em rể là Lê Văn Kim từng nói riêng với Nolting về ý định đảo chính của mình. Nhưng Nolting gạt đi, nghiêm khắc trách mắng.

Cuộc tổng tấn công vào các trung tâm tranh đấu của Phật tử trên toàn quốc ngày 21/8 lại mở thêm cơ hội khác cho nhóm Đôn. Ngày 22/8, Đại tá Đỗ Mậu, Giám đốc ANQĐ—người từng gia nhập Đại Việt Phục Hưng của Diệm từ thập niên 1940, nhưng bắt đầu thất vọng với chế độ—đem nhóm mình hợp tác với André Đôn. Qua thân tình giữa Mậu và Đính, Đôn cũng bắt đầu tìm cách đưa Đính vào tổ chức.(31)

31. Đỗ Mậu, Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi (Santa Ana: Văn Nghệ, 1993), tr. 604-608,612. Sẽ dẫn: Mậu, 1993.

Ngày 23/8, nhân dịp Trung tá Conein tới tiếp xúc, Đôn đề nghị đài Tiếng Nói Hoa Kỳ [VOA] cải chính là không phải quân đội đã tham gia cuộc tấn công đêm 20/8. Trong khi đó, Kim tiết lộ ý muốn loại bỏ Nhu với Rufus Phillips của USOM. Cũng trong ngày 23/8 này, Bộ trưởng Thuần tâm tình với Phillips rằng Nhu phải ra đi. Hải, Chánh Văn Phòng của Diệm, cùng một tâm ý.(Gravel, II:234)

Gần nửa đêm ngày Thứ Bảy, 24/8, Lodge gửi công điện báo cáo về những Tướng muốn xin làm đảo chính. Tuy nhiên, theo Lodge, thực trạng Sài-gòn cho thấy một âm mưu đảo chính chẳng khác gì "viên đạn bắn trong đêm." Dịp cuối tuần này Kennedy, Bộ trưởng Quốc Phòng McNamara, Ngoại trưởng Rusk và Giám đốc CIA John McCone đều không có mặt tại Oat-shinh-tân. XLTV Ngoại trưởng Ball chỉ thị cho Lodge phải áp lực vợ chồng Nhu ra đi; nếu Diệm không đồng ý, sẽ phải tái xét lại vấn đề ủng hộ Diệm. Lodge cũng được quyền tuyên bố với các Tướng đang âm mưu đảo chính là Mỹ sẽ tuyên bố cắt quân viện và kinh viện để chứng tỏ việc ngưng yểm trợ Diệm. Ngoài ra, Lodge được quyền cho VOA cải chính rằng quân đội không dính líu gì đến cuộc tấn công các chùa chiền. (CĐ số 243; FRUS, 1961-1963, III, Tài liệu 281).

Ngày Thứ Hai, 26/8, Kennedy chủ tọa một phiên họp đặc biệt tại Bạch Cung về Việt Nam. Nguyên tại Camp David, sau khi được thông báo về công điện ngày 24/8 của Ball, Kennedy triệu tập phiên họp HĐ/ANQG này để thảo luận kỹ càng hơn. Khi Kennedy hỏi có ai chống lại công điện số 243 của Ball ngày 24/8 hay chăng, chẳng một ai lên tiếng. (Colby 1989:138) Hôm sau, 27/8, HĐ/ANQG Mỹ tái nhóm. Cựu Đại sứ Nolting, đang ở Oat-shinh-tân chờ nhiệm sở mới, được tham dự. Nolting nghĩ rằng Diệm nhất định không chịu xa Nhu; và tỏ ý nghi ngờ khả năng của các Tướng trong việc cai trị. Các cố vấn Ngoại Giao và Bạch Cung—Rusk, Harriman, Hilsman và Forrestal—đồng ý cho phép đảo chính; trong khi viên chức Bộ Quốc Phòng và CIA—McNamara, Taylor, và McCone—chống lại, muốn cho Diệm một cơ hội nữa. (Colby 1989:138-9) Kennedy không có quyết định dứt khoát, muốn ủy cho Lodge quyết định. Cùng ngày, Oat-shinh-tân yêu cầu Lodge báo cáo thêm chi tiết về kế hoạch đảo chính, và dự đoán hậu quả nếu cuộc đảo chính bị đình hoãn.

Bức công điện ngày 24/8 của Bộ Ngoại Giao tới Sài Gòn giữa lúc sinh viên đã nhập cuộc ủng hộ Phật giáo. Tại Sài Gòn, cái chết của nữ sinh Quách Thị Trang ngày 25/8 như tia lửa điện lôi kéo cả các học sinh trung học xuống đường phố. Ngay đến đa số quân đội, tức những người không theo Ki-tô giáo và không được tắm gội ân sủng chế độ Diệm, cũng mất dần niềm tin ở chính phủ. Ngày này, Lodge nhận được thêm mật điện khẳng định nước Mỹ phải "đối diện điều có thể là không giữ Diệm" nữa.(32)

32. Henry Cabot Lodge, The Storm Has Many Eyes: A Personal Narrative [Giông tố có nhiều "mắt:" Chuyện tư riêng] (New York: Norton, 1973), tr. 208-209. Sẽ dẫn: Lodge, 1973. "Mắt" đây là "mắt bão," tức trung tâm của một cơn giông bão.

Lodge triệu tập ngay một phiên họp đặc biệt với Tướng Harkins và Richardson, trưởng lưới CIA. Sau đó, điện về Oat-shinh-tân, đề nghị xúc tiến đảo chính; cho các Tướng lãnh biết là Mỹ chỉ muốn loại Nhu, vẫn giữ Diệm; nhưng về Diệm, tùy thuộc ở quyết định của họ. (FRUS, 1961-1963, III, tài liệu 285) Oat-shinh-tân đồng ý. (FRUS, 1961-1963, III: tài liệu 286)

Cũng ngày Thứ Hai, 26/8, Lodge chính thức trình ủy nhiệm thư. Trong buổi hội kiến đầu tiên từ 17G00 tới 19G10, Lodge rao cho Diệm thư đề ngày 16/8 của Kennedy, mang theo khi Lodge rời Oat-shinh-tân. Rồi bảo thẳng Diệm rằng tại Massachusetts người ta nghĩ Lệ Xuân là Quốc trưởng VNCH, và dân chúng được đọc những bài báo mà Lệ Xuân gọi những vụ tự thiêu là nướng thịt sư. Diệm trả lời rằng đã nói với Lệ Xuân vài lần, kể cả chuyện đe “sẽ lấy vợ,” nhưng Lệ Xuân nghĩ rằng có quyền phát biểu ý kiến như một Dân biểu. Khi Lodge nêu vấn đề phóng thích những người bị bắt, Diệm nói đã thả gần hết. Để chứng tỏ Phật tử là thiểu số trong nước, Diệm trưng dẫn một tài liệu do chùa Xá Lợi xuất bản; theo đó, tại Việt Nam chỉ có hơn 1 triệu tăng ni, Phật tử, và khoảng 2 triệu người liên hệ. Trước khi cáo từ, Diệm nhắc nhở Lodge là Mỹ kiều phải biết giữ trật tự. (FRUS, 1961-1963, III, Tài liệu 292, 296) Buổi gặp mặt Nhu ngày hôm sau, 27/8, còn căng thẳng hơn. Nhu yêu cầu Mỹ phải ngưng những lời tuyên bố làm tổn hại quốc thể VNCH. Người Mỹ nói quá nhiều, trong khi tại Việt Nam người ta nói quá ít. Về việc lời tuyên bố của Lệ Xuân trên báo Life số ra ngày 16/8, Nhu trả lời vợ mình là một Dân biểu, có quyền tự do phát biểu ý kiến. Nhu còn tuyên bố đã cho chỉnh đốn lại tình hình trước ngày Lodge tới Sài-gòn, dự trù vào ngày 26/8. Nhờ vậy, không còn cuộc tự thiêu nào.

Thái độ hiếu chiến của cả Diệm lẫn Nhu có lý do của nó. Trong buổi phát thanh bằng Việt ngữ lúc 8 giờ sáng ngày 26/8, đài VOA khẳng định không phải quân đội VNCH tấn công chùa chiền. Ngoài ra còn đi bài bình luận cho biết viện trợ Mỹ có thể bị cắt.(33)

33. Thực ra,  Lodge không hài lòng về bản tin trên; FRUS, 1961-1963, III, tài liệu 287.

Bài phát thanh này khiến Nhu tin rằng Cabot Lodge quyết định loại bỏ Nhu khỏi quyền lực, nhưng vẫn giữ Diệm. Nhu bí mật cho lệnh bắt giữ tất cả những người chống đối. (FRUS, 1961-1963, III:637n2) Sáng ngày 26/8, Diệm còn sai Tôn Thất Đính đích thân ra tận phi trường tịch thu giấy thông hành của Vũ Văn Mẫu không cho Mẫu qua India hành hương.(34)

34. Ba ngày sau, 29/8, Vũ Văn Mẫu mới được rời nước. Cùng đáp chuyến máy bay này có Bửu Hội, trên đường qua New York bênh vực chính sách Phật Giáo của Diệm; Nhân 1964a:39.

Ngoài ra, Nhu và mật vụ nghi rằng quân đội sẽ làm đảo chính hai ngày sau, 28/8/1963.

B. Kế hoạch đảo chính 1/9 không thành:

Kể từ ngày 22/8, các âm mưu đảo chính bắt đầu phát triển, mặc dù tám Tướng lãnh, kể cả Trần Văn Đôn và Lê Văn Kim, phải ký một văn kiện tuyên bố trung thành với Diệm và ủng hộ chính sách đối xử với Phật Giáo.(FRUS, 1961-1963, III:614) Ngày này, Đại tá Đỗ Mậu—một người từng theo phò Diệm từ thập niên 1940—cũng gặp Đôn, xin gia nhập tổ chức đảo chính.(Mậu 1993, tr. 614) Ngay đến Nguyễn Khánh, Tư lệnh Vùng II,  và Trần Thiện Khiêm, Tham Mưu trưởng Liên Quân, hai nhân vật được coi như tín cẩn của chế độ, cũng bắt đầu nương gió chuyển buồm.(35)

35. Theo báo cáo ngày 16/8/1963, cơ quan CIA liệt kê những người trung thành nhất với chế độ là: Trung tá Nguyễn Ngọc Khôi, Chỉ huy trưởng Liên đoàn phòng vệ Phủ Tổng thống. Liên đoàn này có 2,500 binh sĩ, có thiết giáp, M-113 và M-114; Trung tá Lê Quang Tung, Tư lệnh LLĐB, chỉ huy khoảng 1,000 binh sĩ. Theo Trueheart, Tung được coi như "watchdog" của chế độ Diệm.(FRUS, 1961-1963, III:597); Thiếu tướng Huỳnh Văn Cao, Tư lệnh Vùng IV; Trung tá Lê Nguyên Khang, Tư lệnh TQLC; Đại tá Nguyễn Văn Thiệu, Tư lệnh SĐ 5 BB; Thiếu tá Huỳnh Ngọc Diệp, Chỉ huy trưởng Trung đoàn 1 Thiết kﬠđóng ở ngoại ô Sài-gòn. Hai thuộc hạ là Đại úy Bùi Ngươn Ngãi và Đại úy Trần Văn Thoàn cũng ra sức bảo vệ chế độ. (FRUS, 1961-1963, Tài liệu 256)

Trưa ngày 25/8, Nguyễn Khánh đã yêu cầu được gặp một nhân viên CIA để minh định không yểm trợ Nhu, và dò hỏi liệu Mỹ có yểm trợ các Tướng làm đảo chính hay chăng. Theo Khánh, chắc chắn Khiêm sẽ theo Khánh. (FRUS, 1961-1963, III, tài liệu 284) Hôm sau, Khánh cho nhân viên CIA biết chưa thể hành động ngay lúc này. Đợi khi Nhu bắt đầu nghiêng về phía CSBV, sẽ ra tay, ép Nhu ra đi. Nhưng Khánh cũng xin được xuất ngoại nếu không thành công.

Khoảng 14G50 ngày 27/8, Conein tiếp xúc với Thiếu tướng Trần Thiện Khiêm. Khiêm tiết lộ nhóm đảo chính gồm có Kim, Nguyễn Ngọc Lễ, Raymond Nguyễn Khánh, và Đại tá Nguyễn Văn Thiệu, Tư lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh ở Biên Hoà. Phó Tổng thống Thơ biết về cuộc đảo chính và ủng hộ. Riêng “Big” Minh yêu cầu nhân viên CIA đừng tiếp xúc. André Đôn cũng đồng ý, nhưng ở vị thế không tiện ra mặt. Khiêm cũng vậy. Vẫn theo Khiêm, các đơn vị ở Sài Gòn và miền Tây còn ủng hộ Diệm. Hai người cần bị trung lập là Huỳnh Văn Cao và Tôn Thất Đính. Trung tá Lê Quang Tung và LLĐB cần bị "diệt" ngay khi đảo chính khởi đầu.. (FRUS, 1961-1963, III, tài liệu 299;  Gravel, II:237-238)

Cùng ngày, Alphonso G. Spera, một nhân viên CIA, gặp Raymond Khánh tại Pleiku. Thiếu tướng Khánh—người được cựu Chánh sở CIA Sài Gòn đánh giá cao, coi như nhân vật có thể thay Diệm—đồng ý loại Nhu. Một nhân viên CIA khác cũng gặp Lê Văn Kim và được biết chính Kim đang phụ trách việc chuẩn bị và thiết kế đảo chính. Bởi thế, ngày 27/8, Lodge báo cáo là hoàn toàn tin tưởng vào khả năng thành công của nhóm Minh, Khánh, Kim; đồng thời, nhận xét rằng càng đình trễ, cơ hội thành công càng giảm. (Gravel, II:238)

Ngày Thứ Năm, 29/8, Dương Văn Minh mới đồng ý gặp nhân viên Toà Đại sứ Mỹ. "Big" Minh muốn được bảo đảm rằng Mỹ không bán các người chủ mưu cho Nhu; và bằng chứng bảo đảm nhất là tuyên bố cắt viện trợ kinh tế cho chế độ Diệm. (Gravel II:212)

Những ngày cuối tháng 8/1963 ấy chỉ còn Tôn Thất Đính chứng tỏ trung thành với chế độ. Ngày 27/8,  Đính nhận lệnh Nhu họp báo về việc đánh phá các chùa trên toàn quốc. Nhân danh Tư lệnh chiến dịch này, Đính tự hào đã cứu miền Nam khỏi họa Cộng Sản, Phật giáo, và "bọn phiêu lưu ngoại quốc [foreign adventurers]" đang muốn lật đổ chính phủ. Nhưng Đính bị ký giả ngoại quốc bắt bẻ và hạ nhục.(36)

36. Gravel, II:265. Ngày 4/11/1963, Đính tiết lộ là đã nhận lệnh của Dinh Gia Long để tuyên bố "bọn phiêu lưu ngoại quốc" đang muốn lật đổ chính phủ; NYT, 5/11/1963. Sau này, Đính lập lại lời biện hộ trên, trút trách nhiệm cho Nhu; Đính 1998, tr. 418-20.

Tuy nhiên, tại Sài Gòn, Tư lệnh Phái Bộ Viện Trợ Mỹ [MACV] là Tướng Paul Harkins vẫn muốn cho Diệm một cơ hội khác, vì đảo chính chưa hẳn đã có lợi. Thực lực hai phe đảo chính và trung thành không cách biệt bao lăm; và nội chiến có thể xảy ra, chỉ làm lợi cho Cộng Sản. Chánh sở CIA Richardson, dù có liên hệ thân thiết với Nhu, ngả theo ý kiến Lodge.

Tại Oat-shinh-tân, các cố vấn của Kennedy cũng không đồng tâm về việc loại Diệm. Nolting nghĩ rằng Diệm nhất định không chịu xa Nhu; và tỏ ý nghi ngờ khả năng của các Tướng trong việc cai trị. (Nolting, 1988:125) Viên chức Bộ Quốc Phòng và CIA—McNamara, Taylor, và McCone—đồng ý với Harkins và Nolting, muốn cho Diệm một cơ hội nữa. Cố vấn Ngoại Giao và Bạch Cung—Rusk, Harriman, Hilsman và Michael Forrestal—ủng hộ Lodge, tức phải thay ngựa.(37)

37. William Colby, Lost Victory [Chiến thắng bị mất] (Chicago: 1989), tr. 138-139. Sẽ dẫn: Colby, 1989. Về thái độ của Averell Harriman đối với Nolting trong giai đoạn này, xem Nolting, 1988:128-9.

Ngày 28/8, Kennedy gửi hai công điện riêng biệt cho Lodge và Harkins, yêu cầu mỗi người tái thẩm định mức độ có thể thành công của một cuộc đảo chính. Bởi thế, ngày 29/8 Lodge sai Conein và Spera tới gặp Minh và Khiêm. Sau khi được báo cáo về Minh và Khiêm, Lodge nghiêng hẳn về quyết định lật đổ Diệm, vì theo Lodge, Diệm không thể mang lại chiến thắng. Lodge còn đề nghị nhờ Harkins cho “Big” Minh coi bản sao những công điện của CIA để chứng tỏ quyết tâm của Mỹ; và nếu các Tướng vẫn chưa tin thì nên thỏa mãn yêu sách của họ. (Gravel, II:Tài liệu số 132) Khi được hỏi về ý kiến của Harkins, tức cho Diệm cơ hội chót, Lodge phản đối. Theo Lodge, chắc chắn Diệm không chịu xa Nhu. Chỉ còn cách làm đảo chính; sau đó, sẽ xét đến việc đặt Diệm trở lại chính quyền hay không. (Gravel, II: Tài liệu 134)

Cuối cùng, ngày 29/8, Kennedy đồng ý cho làm đảo chính, sai Harkins tiếp xúc những người cầm đầu để họ khỏi nghi ngại, và nhấn mạnh Mỹ chỉ muốn loại bỏ vợ chồng Nhu, nhưng không đề cập gì đến số phận Diệm. Lodge cũng được quyền tuyên bố cắt viện trợ kinh tế cho Diệm bất cứ lúc nào.

Thời gian này, Albert Thảo nói với một nhân viên CIA là đã móc nối với các Tướng, và sẽ yểm trợ họ.(Gravel, II:240) Thảo là đại diện liên lạc với Mỹ của nhóm Tuyến, vì Tuyến đang chờ lên đường qua Morocco làm Tổng lãnh sự.

Giữa lúc tưởng chừng mọi việc trót lọt, khi gặp Harkins ngày Thứ Bảy, 31/8, Khiêm nói Minh đã hoãn cuộc đảo chính dự trù vào ngày hôm sau, 1/9/1963. Một trong những lý do chính là chưa thuyết phục được Đính, Tư lệnh QĐ III kiêm Tổng trấn Sài-gòn.(38)

38. Nỗ lực thuyết phục Đính đã bắt đầu sau ngày họp báo 27/8 của Đính. Phe đảo chính dùng kế khích tướng, dèm pha là Đính đã bị Nhu lừa, và chính phủ Diệm phải chịu ơn Đính mới đúng. Rồi xúi Đính vào gặp Diệm, yêu cầu Diệm phong mình làm Bộ trưởng Nội Vụ. Diệm giận dữ từ chối, bắt Đính lên Đà-lạt "nghỉ phép." Lợi dụng cơ hội này, nhóm đảo chính thuyết phục Đính ngả theo phe đảo chính. Tuy nhiên, Đính chưa có quyết định dứt khoát. (Gravel, II:265). 

Quan trọng hơn nữa, Diệm-Nhu đã chuẩn bị sẵn sàng, mang LLĐB của Lê Quang Tung về bảo vệ Sài Gòn.

Lodge đành báo cáo về Oat-shinh-tân rằng kế hoạch đảo chính phải gác lại vì “các Tướng lãnh chẳng có tinh thần hay tổ chức để thực hiện đảo chính.” Nhận được báo cáo của Lodge, HĐ/ANQG Mỹ thảo luận sôi nổi. Người muốn tiếp tục đảo chính. Người muốn cho Diệm một cơ hội chót. Riêng Paul M. Kattenburg, Trưởng Toán Đặc Nhiệm Việt Nam, đề nghị nên giải kết.(39)

39. Ngày Thứ Tư, 28/8/1963, khi tiếp kiến Kattenburg, Diệm có vẻ lo lắng, ra sức biện minh việc đàn áp Phật giáo. Trước khi từ biệt, Diệm nói: "Cố giúp chúng tôi." Kattenburg trả lời: "Xin giúp chúng tôi nữa."

Tuy nhiên, Kennedy không có quyết định rõ ràng nào. Bởi thế, Lodge quyết tâm hơn trong kế hoạch ép vợ chồng Nhu ra đi, cho dẫu phải loại Diệm.

C. "Phiến Cộng" Trong Dinh Gia Long:

Trong công điện gửi về Oat-shinh-tân ngày 31/8/1963 để báo tin hoãn đảo chính, Lodge ghi thêm một chi tiết có tác dụng quyết định số phận họ Ngô. Đó là Nhu đang bí mật tiếp xúc với Cộng Sản qua trung gian hai đại sứ Pháp và Poland [Ba Lan], vì hai chính phủ này muốn một giải pháp Việt Nam trung lập.

Bức công điện của Lodge—dựa theo những báo cáo của những nhân chứng trong cuộc—là chiếc đinh đóng chặt hơn nắp quan tài chế độ Diệm.

Cơ sở thành lập chế độ miền Nam sau Hiệp định Geneva (21/7/1954) là lập trường chống Cộng. Sở dĩ người Mỹ đổ bao tiền của, vũ khí và nhân vật lực vào miền Nam cũng chỉ nhằm duy trì miền Nam như “một tiền đồn chống Cộng của thế giới tự do.” Bởi thế, chỉ cần liên hệ hay phổ biến tài liệu Cộng Sản đã là một hình tội, được qui định rõ ràng trong luật pháp cũng như sinh hoạt hàng ngày ở miền Nam. Chính quyền Diệm ngày đêm ra rả lập trường chống Cộng. Viên chức chế độ mang còng sắt, súng đạn và máy chém đến khắp hang cùng ngõ hẻm, làng xóm, thôn bản phía Nam vĩ tuyến 17 để tiêu diệt “phiến Cọng.” Nhưng ít ai ngờ là chính anh em Diệm-Nhu, người được Mỹ ủng hộ và trao phó trách nhiệm chống và Diệt Cọng, đã trở thành những phiến Cọng nằm vùng đầu tiên trong Dinh Gia Long.

Hành động ve vãn Cộﮧ Sản của anh em Diệm-Nhu—và như thế phản bội lại đa số dân chúng miền Nam—chỉ được đồn đãi từ năm 1962 ở Sài Gòn, và được bạch hóa sau ngày các Tướng làm đảo chính giết chết họ Ngô năm 1963. Yếu tố “phiến Cọng” này mới thực sự mang lại sự sụp đổ của Đệ Nhất Cộng Hòa, mà không phải cuộc tranh đấu của Phật Giáo, hay cái gọi là “bảo vệ chủ quyền quốc gia,” “quốc thể,” hay “nền độc lập” như nhiều người tưởng nghĩ.

Có nhiều yếu tố dẫn đến việc Diệm-Nhu tự biến mình thành “phiến Cộng.” Trước hết, từ năm 1960, Diệm-Nhu không còn được chính phủ Mỹ chiều chuộng, săn sóc như xưa, mà bắt đầu chán ghét dần. Các viên chức Mỹ và dư luận thế giới bắt đầu đối diện một sự thực không thể chối cãi là chế độ Diệm độc tài, gia đình trị, và giáo phiệt. Không kém quan trọng, cuộc chiến chống Cộng đang bị thất lợi. Việt Cộng không những chỉ khủng bố, ám sát các viên chức hành chính nông thôn hẻo lánh, mà còn dám tấn công cả những đơn vị lớn của VNCH. Các trận đánh Tua Hai (Tây Ninh, 1960), Pleiku (công trường làm đường, 1960) hay Quảng Ngãi mới chỉ là khởi đầu. Trong khi đó, giới quân đội ngày thêm bất mãn. Cuộc đảo chính hụt 11/11/1960 hay cuộc đánh bom Dinh Độc Lập ngày 27/2/1962 chỉ là những dấu hiệu mặt nổi của sự bất mãn sâu xa, tiềm ẩn này. Nhưng thay vì phân tích rõ ràng tình hình để kịp thời đối phó, Diệm-Nhu trút trách nhiệm cho sự thiếu ủng hộ của Mỹ, và còn nghi ngờ rằng chính người Mỹ đã “bật đèn xanh” cho phe quân đội. Từ đó, nảy sinh ra sự căng thẳng giữa liên hệ Mỹ-Việt, và cuộc đương đầu khó tránh.

Thứ hai, Hà Nội đang tung ra một màn hỏa mù hiệp thương giữa hai miền và trung lập miền Nam, bước chiến lược đầu tiên trong kế hoạch đánh chiếm (hay giải phóng, nếu muốn) miền Nam. Bởi thế, năm 1962, MT/GPMN công bố lập trường trung lập. Lập trường này được một số người lưu vong ở Pháp và Miên (Trần Văn Hữu, Hồ Thông Minh, Lê Văn Trường, Trần Đình Lan, v.. v...) hưởng ứng, với sự tiếp sức của chính phủ de Gaulle. Đích thân Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng nhiều lần kêu gọi tìm một giải pháp hòa bình trên căn bản Hiệp ước Geneva 1954. Bài chúc Tết năm Nhâm Dần (1962) của Hồ là phát pháo lệnh đầu tiên. Tiếp đến một chuỗi những bài viết hay phỏng vấn Hồ. Cho tới tháng 5/1963, trên tờ New Times [Tân Thời Báo] của Liên Sô Nga, Hồ vẫn mở cửa cho giải pháp trung lập trên căn bản Hiệp ước Geneva 1954.

Thứ ba, các nước Pháp, Poland, Italia và ngay cả Vatican đều muốn cổ võ tìm một giải pháp chính trị. Sau khi Diệm viết thư cho de Gaulle xin cứu giúp năm 1961, Đại sứ Roger Lalouette được chỉ thị đứng ra làm môi giới cho Nhu tiếp xúc đại diện Cộng Sản. Theo Lalouette, vì kinh tế miền Bắc gặp khó khăn, và áp lực Trung Cộng ngày một gia tăng, Bắc Việt thành tâm muốn tìm giải pháp chính trị, để trục xuất Mỹ khỏi miền Nam, và tránh áp lực Trung Cộng. Hơn nữa, Hồ vốn là người bài Hoa, thân Tây phương.(40)

40. Vấn đề Hồ có bài Hoa hay thân Tây phương hay chăng cần được nghiên cứu thêm. Các viên chức Pháp dường không biết đến việc Hồ sai Phạm Văn Đồcắt lãnh hải cho Trung Cộng để xin quân viện đánh miền Nam từ năm 1958.

Đại diện Giáo Hoàng John XXIII cũng theo chiều hướng hòa giải này. Vì thế, họ khuyến khích Nhu gặp một đại diện của Hà Nội (theo tình báo Pháp, nhân vật này là Phạm Hùng, Phó Thủ tướng đặc trách thống nhất của Hà Nội), và rồi đại diện của Poland trong Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến [ICC]. Ngoài ra, Nhu còn bí mật tiếp xúc với một số cán bộ Cộng Sản, kể cả một Đại tá ở Lào và một Tướng ở Cao Miên trong khuôn khổ quốc sách “chiêu hồi.”

Thứ tư, chẳng hiểu có phải vì điều kiện của Hà Nội hay chăng (cả Bắc Việt và MT/GPMN đều đưa ra đòi hỏi này từ năm 1962), từ đầu năm 1963, anh em Diệm-Nhu bắt đầu công khai bài Mỹ và còn xa gần muốn Mỹ giảm quân ở miền Nam. Ngày Chủ Nhật, 12/5/1963, chẳng hạn, trong bài phỏng vấn Nhu đăng trên báo Washington Post, ký giả Warren Unna thuật rằng Nhu muốn khoảng 12,000-13,000 quân Mỹ sẽ giảm xuống một nửa. Vì theo Nhu, đa số các cố vấn Mỹ tại địa phương chỉ thu thập tin tức tình báo, và sự hiện diện đông đảo của cố vấn Mỹ tạo cơ sở cho tuyên truyền của VC. (41)

41. Lời tuyên bố đòi giảm cố vấn Mỹ của Nhu khiến các viên chức Mỹ cực kỳ quan tâm. Ngày Thứ Hai, 13/5, lúc 18G46 [07G46 14/5 Việt Nam], Ngoại trưởng Rusk chỉ thị cho Đại sứ Sài-gòn: Mỹ sẽ cắt giảm khoảng 1000 người vào cuối năm, nhưng tùy thuộc ở sự tiến triển tình hình an ninh. Nếu Diệm không muốn cắt giảm cố vấn Mỹ, nên ra tuyên cáo chính thức. Nếu Diệm đồng ý với Nhu, yêu cầu Diệm giải thích vị thế và ý định của Diệm. (FRUS, 1961-1963, III:294-6) Ngày hôm sau, 14/5/1963, Ủy Ban Ngoại Giao Hạ Viện chất vấn gay gắt Heinz và Hilsman về lời tuyên bốủa Nhu. Chính tờ Washington Post, trong phần xã luận, kêu gọi phải đặt lại vấn đề bang giao Mỹ-Việt. Ngày Thứ Hai, 20/5/1963, Nolting báo cáo là Nhu thanh minh rằng đã bị ký giả Unna trích dần sai lạc. (FRUS, 1961-1963, III:309) Ba ngày sau, 23/5/1963, Nhu cũng thanh minh rằng chỉ muốn phát động một cuộc cách mạng thực sự, để tiến dần đến tự túc. Đã bị hiểu lầm quá nhiều như bài Mỹ hay bài ngoại. (Theo Nolting, chủ trương của Nhu hoàn toàn phù hợp với đường lối của Mỹ). Cũng ngày Thứ Năm, 23/5/1963 này, Nolting trình về BNG kế hoạch khẩn cấp do Ben Wood, Giám đốc Đoàn Việt Nam, soạn thảo: Đó là bí mật lập danh sách những người Việt có khả năng lên nắm quyền. Cần ghi rõ quê quán, xuất thân, gia tộc, và những người vợ đầy quyền lực của họ.

Dự trù các cách thay đổi chính phủ: (a) Diệm từ chức, và Phó TT Thơ lên thay; (b) Diệm tuyên bố ý định từ chức, và kêu gọi bầu cử cho Nhu lên thay; (c) Diệm tuyên bố từ chức, nhưng vẫn nắm quyền, không nêu tên người thay thế; (d) Diệm bị VC giết; (e) Diệm chết vì bệnh gia; (f)pan style="layout-grid-mode:line"> Diệm bị phe đối lập không Cộng Sản giết; (g) - Diệm bị tàn phế hay bị đảo chính nhưng chưa mất quyền.

Những người có thể thay Diệm: Thành viên trong gia đình Diệm và phe quân nhân. Thơ chỉ có thể thành công nếu được quân đội yểm trợ. Theo Wood, chính phủ Mỹ chỉ nên yểm trợ những người có mặt trong nước, và có kinh nghiệm hành chính. Hai ứng cử viên là Nhu, và Thơ với sự yểm trợ của quân đội. (FRUS, 1961-1963, III:317-21)

Ngày 29/5/1963, sau khi vào chào Diệm để về Pháp nghỉ, Lalouette báo cáo rằng theo Diệm, có lẽ các lãnh tụ Hà-nội đã thấy sự vô ích khi đánh chiếm miền Nam, nên tình hình sẽ tự động lắng dịu đi, dù không có thương thuyết Bắc-Nam, giống như năm 1960. Có lẽ vì vậy, theo Lalouette, mà Diệm và Nhu đã yêu cầu giảm bớt số cố vấn Mỹ. (Báo cáo ngày 29/5/1963; CLV, SV, d. 91:137-43) Diệm cũng muốn vay thêm Pháp số tiền 100 triệu MK. Nhu sẽ qua Pháp nếu cần. (CĐ ngày 31/5/1963; CLV, SV, d. 91:144-147)

Tính đến ngày 1/7/1963, VNCH kiểm soát được khoảng 6,766,000 dân trên tổng số 14.8 triệu. Tuy nhiên, chỉ hoàn toàn kiểm soát khoảng 3.5 triệu, giảm đi 100,000 người. Số làng chính phủ kiểm soát là 939, với 741 làng hoàn toàn. Việt Cộng kiểm soát 431 làng, kể cả 375 làng hoàn toàn. (FRUS, 1961-1963, III:Tài liệu 253)

Một trong những đường dây của Nhu là Mieczylslaw Maneli, Trưởng đoàn Poland trong Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát Ngưng Bắn (ICC). Từ mùa Xuân 1963, nhiều nhân vật trong giới ngoại giao đã yêu cầu Maneli gặp Nhu. Trong số này có Đại sứ Pháp Lalouette, Đại sứ India Ram Goburdhun, Đại sứ Italia Giovanni d'Orlandi và Đặc sứ Vatican Salvadore d'Asta. Họ cho biết đã nói với Nhu về Maneli, và Nhu ngỏ ý muốn gặp. Ngày Chủ Nhật, 25/8, Nhu gặp Maneli trong buổi tiếp tân của Trương Công Cừu, vừa để đón tiếp Lodge vừa ra mắt các ngoại giao đoàn nhân dịp được cử thay Mẫu làm Ngoại trưởng.(42)

42. Mieczylslaw Maneli, War of the Vanquished [Cuộc chiến của những kẻ bại] (New York: 1971), tr. 137-9. Sẽ dẫn: Maneli, 1971. Từ cuối tháng 8/1963, Maneli đã mật báo tin này cho Mỹ. Sau ngày 1/11/1963, trong một buổi họp báo, Bộ trưởng Nội Vụ Tôn Thất Đính tiết lộ việc Nhu liên lạc với Hà-nội, qua trung gian Maneli. (Maneli 1971:112-4)

Ngay sau lần gặp sơ khởi này, Maneli vội báo cáo về Warsaw, đồng thời thông báo với Đại sứ Liên Sô Tovmassian ở Hà Nội và Hà Văn Lâu, Trưởng đoàn VNDCCH tại UBQT/KSNB. Lâu và Tovmassian tán thành. Qua ngày 2/9, Nhu mời Maneli vào Dinh Gia Long để bàn việc liên lạc với Hà Nội. (Maneli, 1971:140-7) Sau đó, Maneli ra Hà Nội báo cáo sự việc. Nhưng Warsaw cho lệnh Maneli phải ngừng gặp Nhu.

Theo một nguồn tin, Nhu còn mượn cớ đi săn, bí mật gặp một cán bộ CSBV. Cán bộ CS này là Phó Thủ tướng Phạm Hùng, Ủy viên Bộ Chính Trị Đảng Lao Động Việt Nam, đồng thời là Chủ Nhiệm Ủy Ban Thống Nhất. (Colby, 1989:103)

Trong mùa Xuân 1963, nhân dịp phát động chiến dịch Chiêu Hồi (vào tháng 4/1963), Nhu cũng nhiều lần tiếp xúc với cán bộ Cộng Sản cao cấp ngay tại Dinh Gia Long. Có lần, Nhu chỉ vào chiếc ghế Nolting đang ngồi, nói một lãnh tụ Cộng Sản vừa mới rời chỗ đó. Rồi giải thích là đang gặp các lãnh tụ Việt Cộng để thuyết phục họ mang quân về hàng chính phủ. Nolting báo cáo chi tiết này về Oat-shinh-tân, và xin cho Nhu toàn quyền hành động hầu thành lập một chính phủ "mở rộng." Nhưng các cố vấn của Kennedy không hài lòng—họ coi đó gần như một hành động bội phản. (Nolting, 1988:117-8)

Thật khó kết luận thực chăng Nhu muốn bắt tay với Hà Nội, hay chỉ muốn đánh một canh bạc với Mỹ. Tâm ý nào đi nữa, việc làm này của Nhu—giống như Raymond Khánh vào cuối năm 1964, đầu năm 1965—là chiếc đinh cuối cùng đóng lên nắp quan tài chế độ. Mặc dù trong số 3 lý do chính mà Rusk đưa ra để biện minh cho việc lật đổ Diệm vào cuối tháng 8/1963 không hề đề cập đến việc Diệm-Nhu tự biến mình thành "phiến Cộng" trong Dinh Gia Long—và như thế sẽ bị tử hình theo Sắc Luật 10/59 do chính Diệm ban hành—ngay trong ngày 31/8, Hội Đồng ANQG Mỹ đã thảo luận về việc này. Hilsman tuyên bố đã có trong tay một công điện chứng tỏ Nhu liên lạc với Việt Cộng qua trung gian Pháp, và đang vận động trục xuất các cố vấn cấp tỉnh. Nolting, có mặt trong buổi họp, bào chữa cho Nhu là Nhu sẽ không chịu chấp nhận mọi điều kiện của Hồ Chí Minh. (US-Vietnam Relations, Bk 12:542) Mặc dù HĐ/ANQG không có quyết định ngay, ít nữa ngày 2/9 Kennedy đã có quyết định về yếu tố "phiến Cộng trong Dinh Gia Long" này.

Một tháng sau, McNamara và Tướng Maxwell D. Taylor, Tổng Tham Mưu trưởng Liên Quân Mỹ, cũng không dấu sự khó chịu về sự "trở cờ" của Nhu. Trong báo cáo ngày 2/10/1963 đệ trình lên Kennedy sau khi tham quan Việt Nam, McNamara và Taylor nhận xét:

Một khía cạnh gây khó chịu khác nữa là việc Nhu đang ve vãn ý đồ thương thuyết với Bắc Việt, dù ông ta có thực tâm hay chăng. Điều này gây bối rối cho những người Việt có trách nhiệm và, trên căn bản, tạo sự lo ngại rằng có thể không có sự đồng nhất với các mục đích của Liên Bang Mỹ. (US-Vietnam Relations, Bk 12:594)

Trong công điện gửi lên TT Lyndon B. Johnson ngày 1/1/1964, Lodge cho rằng Kennedy chưa được ca ngợi đúng mức về việc ngăn chặn khuynh hướng tàn hại ở Việt Nam: Nếu trong mùa Hè và Thu 1963, Kennedy không kịp thời ngăn chặn, tình thế ở miền Nam đã dẫn đến đại họa. (FRUS, 1964-1968, I:1-2) Lời chứng của Lodge trước Ủy Ban Ngoại Giao Thượng Viện ngày 30/6/1964, còn đi thẳng vào vấn đề hơn:

Mùa Thu [1963] vừa rồi, nếu chính phủ Diệm không bị dứt điểm và tồn tại thêm khoảng một tháng nữa, tôi nghĩ chúng ta đã thấy Cộng Sản cướp chính quyền. Tôi nghĩ yếu tố này rất quan trọng."(43)

43. Nguyên văn: "Last fall, if the Diem government hadn't come to an end and had gone on for another month, I think we might have had a Communist takeover. I think that it had become that important." Dẫn trong Gibbons 1993, II:204.

Lodge, tưởng cần nhấn mạnh, được Kennedy giao cho đặc quyền hành xử ở Sài Gòn. Dù Mỹ không có "một nút bấm" để bật đèn xanh như Lodge sau này nhấn mạnh, (Lodge 1973:209) chỉ một cái gật đầu biểu đồng tình, nói chi thêm 42,000 Mỹ kim chi phí, quá đủ để những Tướng tá như André Đôn, Trần Thiện Khiêm, Nguyễn Văn Thiệu ra tay.(44)

44. Theo một tài liệu Thượng viện Mỹ, Conein giao cho các Tướng lãnh 42,000 Mỹ kim sáng ngày 1/11/1963; Select Committee to Study Government Operations, Alleged Assassination Plots Involving Foreign Leaders [Rept. 94-465, Senate, 94th Congress, 1st Session], tr. 222. Chế độ Diệm thì tung tin Mỹ đã bỏ ra “20 triệu Mỹ kim” để tổ chức đảo chính.

D. Cơn Rẫy Chết Của Một Chế Độ:

Ngày 2/9, đúng ngày Nhu tiếp đại diện Poland tại phòng làm việc, trong một buổi phỏng vấn trên đài truyền hình CBS, Kennedy tuyên bố với Walter Cronkite là chính phủ Diệm đã "xa rời quần chúng," cần thu phục lại sự yểm trợ của mọi người, và cần thay đổi về chính sách và có thể cả nhân sự mới có hy vọng chiến thắng. Lời tuyên bố của Kennedy—được lồng trong nguyên tắc là Mỹ chỉ có thể giúp những người muốn chiến đấu để đạt chiến thắng cuối cùng—phản ảnh một chính sách mới do Lodge đề nghị ngày 31/8, sau khi âm mưu đảo chính ngày 1/9 của các Tướng phải đình hoãn. Chính sách mới này đặt trong tâm vào việc bắt Thục và Lệ Xuân ra đi; hạn chế trách nhiệm của Nhu trong kế hoạch Ấp Chiến Lược; thiết lập chức vụ Thủ Tướng do Thuần nắm. Ngoài ra, phải trả tự do các sinh viên và Phật tử, rút lại Dụ số 10, các chùa chiền phải được tu sửa và chính phủ phải chứng tỏ hành vi muốn hoà giải. Lodge cũng đề nghị đích thân Kennedy công bố tại Oat-shinh-tân.(Gravel, II:240)

Tại Sài Gòn, ngày 2/9/1963 có hai sự việc đáng ghi nhận. Thứ nhất, tờ Times of Vietnam đăng một bản tin nẩy lửa với tựa: "CIA Financing Planned Coup d' Et" [CIA đã tài trợ kế hoạch đảo chính]. Bài viết này lên án Mỹ và CIA đang tổ chức đảo chính. Đồng thời "Việt Cộng" cũng liên kết với CIA để loại chính phủ Diệm vào ngày 28/8, nhưng bị bẻ gãy. Việc thứ hai là Đính lại được lệnh họp báo, giải thích về danh từ "aventurier internationaux". Theo Đính, các tướng lãnh coi Ngô Đình Nhu như lãnh tụ, và tất cả đều tin cậy Nhu sẽ mang đến chiến thắng Cộng Sản. (Báo cáo ngày 5/9/1963, Lalouette gửi Couve de Murville; CLV, 17:7; Đính 1998, tr. 418-420).

Trước thái độ công khai thách thức của Nhu, ngày 2/9 này, Lodge  cùng Đại sứ Italia và Đại diện Vatican—hai nhân chứng của cuộc đi đêm giữa Nhu và Maneli—vào gặp Nhu. Theo Lodge, Nhu tuyên bố sẽ về hưu, rút lên Đà Lạt. Thục sẽ rời Việt Nam qua Vatican trong một tương lai gần (dưới danh nghĩa tham dự Cộng Đồng Vatican II). Lệ Xuân sẽ đi thăm Yugoslavia, Italia, và có thể Mỹ. Về tổ chức chính phủ, sẽ lập thêm chức Thủ tướng. Với Phật giáo, sẽ có những biện pháp làm giảm sự căng thẳng. (Gravel, II:242)

Những ngày đầu tháng 9/1963 trôi qua mà chưa thấy động tĩnh gì từ phía Nhu. Ngày 5/9, André Đôn cùng một số Tướng vào gặp Diệm, xin cải tổ chính phủ, và trao cho quân đội các bộ Quốc Phòng, Nội Vụ, Chiến Tranh Chính Trị, và Giáo Dục. Họ còn đề nghị Nhu từ nhiệm. Nhưng Diệm phản ứng giận dữ.

1. Ngô Đình Thục & Lệ Xuân Lưu Vong:

Cũng ngày 5/9, nhân viên ngoại giao Tây Germany trao cho nhân viên sứ quán Mỹ một bài phỏng vấn Lệ Xuân của đặc phái viên báo Der Spiegel. Lệ Xuân tuyên bố Đại sứ Lodge đang âm mưu loại bỏ hoặc ám sát Lệ Xuân. Diệm quá yếu, cần sự yểm trợ của Lệ Xuân. Những khó khăn hiện nay là do báo chí bịa đặt và sự can thiệp của Mỹ. Lệ Xuân nhìn nhận với một nhân viên Mỹ là đã viết phần lớn bài phỏng vấn này. (FRUS, 1961-1963, IV:Tài liệu 68) Chiều hôm sau, 6/9, Lodge sai một viên chức CIA gặp Nhu. Nhu nói Đại sứ Italia Giovani d'Orlandi và đại diện India tại Ủy Ban Kiểm Soát Đình Chiến Quốc tế, Goburdhun, đã yêu cầu Nhu gặp Maneli. Maneli khuyên Nhu nên lợi dụng những lời tuyên bố của de Gaulle và Hồ để thương thuyết với Hà-nội. Nam Việt Nam sẽ bán gạo và bia cho miền Bắc, đổi lấy than đá. Tuy nhiên, Nhu không thương thuyết với Hà-nội, chỉ tiếp xúc Việt Cọng ở miền Nam. Nhân viên CIA có cảm tưởng Nhu dối trá [deception]. (FRUS, 1961-1963, IV, Tài liệu 69)

Lodge cũng nhờ Đại sứ Italia D'Orlandi và Đại diện Vatican d'Asta tới gặp Nhu thúc dục phải thực hiện ngay lời hứa và chuyển chỉ thị của Rusk ngày 5/9 là vợ chồng Nhu phải ra đi. (FRUS, 1961-1963, IV, Tài liệu 63). Hôm sau, 6/9, khi nghe d'Asta và d'Orlandi nói Nghị sĩ Frank Church đang chuẩn bị đưa ra dự thảo cắt viện trợ cho VNCH, Nhu bị xúc động mãnh liệt. Nhu bực bội tuyên bố mình sẽ không về hưu mà sẽ từ chức. Nhu tiếp:

Tôi là con ngựa thắng cuộc. Họ phải đánh cá (bet) trên tôi. Tại sao họ muốn chấm dứt tôi? Tôi không muốn làm cố vấn cho Tổng thống Diệm, mà cố vấn cho ông Cabot Lodge. Tôi có thể rời Việt Nam một tháng, nhưng chuyện gì xảy ra cho 100 ấp chiến lược. Tôi đã biết chuyện gì xảy ra trong giới nhà binh. Nếu tôi rời nước, họ sẽ cướp chính quyền. Bọn cóc nhái [grenouillards] của CIA và USIS sẽ phá hoại nỗ lực chiến tranh." (FRUS, 1961-1963, IV, Tài liệu 72)

Dẫu vậy, Nhu đồng ý cho Lệ Xuân sẽ rời nước ngày 9/9 để nghỉ hè ở Âu Châu. Ít tháng sau, Nhu sẽ rời nước ba bốn tháng.(Ibid)

Hôm sau nữa, Đại diện Vatican ở Sài-gòn áp lực Thục phải sang Roma để trình bày với tân Giáo Hoàng Paul VI (1963-1978) về những diễn biến ở Việt Nam. Có Giám mục Piquet tháp tùng. Tới Roma trong ngày, Thục tuyên bố lãnh đạo Phật tử đang chơi trò chơi của CS và có thể sẽ có đảo chính ngày 21/9/1963.(Ibid., 17:24-27) Chẳng rõ vì lý do nào, Paul VI đột ngột hủy bỏ buổi tiếp kiến Thục. (CLV, 17:36) Vì Đại Hội Công Đồng chỉ khai mạc ngày 29/9, ngày 11/9, Thục bay qua New York tìm gặp Hồng Y Spellman.

Ngày 9/9, đến lượt Lệ Xuân dẫn một phái đoàn đi Belgrade (Yugoslavia) dự Hội Nghị Các Dân Biểu Thế Giới, rồi sẽ chu du Âu Châu và Mỹ để "giải độc." Lệ Xuân, dĩ nhiên, bị biểu tình chống đối khắp nơi.

Riêng Nhu chưa chứng tỏ dấu hiệu nào muốn hoà giải với Phật giáo. Sinh viên, học sinh Phật tử tiếp tục bị lùng bắt. Tin đồn về những nhà tù địa ngục, và những cảnh tra tấn man rợ được loan truyền ngày một nhiều. Đại diện của Giáo hội Vatican, nói với McNamara ngày 30/9/1963 tại Sài-gòn rằng "Chắc chắn dân chúng đã bị tra tấn [Absolutely people have been tortured]." Và nhân chứng trên đã áy náy, băn khoăn tự hỏi "Giáo hội có nên nói ra và bạch hoá trước thế giới [trò tra tấn và cảnh sát trị của Diệm] hay chăng." (Biên bản buổi nói chuyện ngày 30/9/1963 của Bộ trưởng [QP]; FRUS, 1961-1963, IV:323).

Trong phiên họp Hội đồng ANQG ngày 6/9, dù bác bỏ ý kiến giải kết của em ruột mình là Bộ trưởng Tư Pháp Robert F. Kennedy, TT Kennedy quyết định gửi cho Lodge bản thảo một tối hậu thư, để chuyển cho Diệm nếu cần, là Mỹ có thể ngưng ủng hộ. Đồng thời, chỉ thị Lodge phải gặp Diệm càng sớm, càng tốt để giải thích lập trường của Mỹ. Ngay sau buổi họp này, Kennedy gửi Tướng Victor Krulak của Bộ Quốc Phòng và Joseph Ạ Mendenhall, Trưởng phòng Kế Hoạch Viễn Đông và là nhân viên dưới quyền Hilsman, qua Việt Nam bốn ngày để thẩm định tình hình.

Nhưng buổi gặp mặt giữa Diệm và Lodge ngày 9/9 để bàn luận về dự thảo cắt viện trợ của Church chẳng cải thiện được liên hệ Mỹ-Việt. Chuyến đi của Krulak và Mendenhall thì phản ảnh rõ ràng hơn sự rạn nứt, hoặc ít nữa khác biệt về quan điểm giữa hai phe chính trị và quân sự tại Sài Gòn cũng như Oat-shinh-tân. Hai báo cáo ngày 10/9 của Krulak và Mendenhall trái ngược nhau đến độ Kennedy phải đặt câu hỏi thực chăng hai người cùng thăm viếng một xứ.

2. McNamara và Taylor Qua Việt Nam:

Một tuần sau, ngày 17/9—vì không hài lòng với báo cáo của Krulak và Mendenhall, và sau khi nhận được công điện ngày 12/9 của Lodge là nên dùng viện trợ kinh tế để áp lực Diệm cải tổ chính phủ và thay đổi phương thức cai trị (Lodge, 1973:211)—Kennedy yêu cầu McNamara và Taylor sang Việt Nam thu thập dữ kiện bổ túc. Hội Đồng ANQG Mỹ cũng quyết định áp lực Diệm phải tuân theo chính sách của Mỹ, và cho lệnh Lodge tìm cách đưa vợ chồng Nhu khỏi nước, thí dụ như đi nghỉ dài hạn một thời gian.

Thoạt tiên, Lodge chống đối chuyến đi của McNamara và Taylor, vì sự có mặt của họ có thể khiến Diệm-Nhu hiểu lầm là vẫn được Oat-shinh-tân ủng hộ. Kennedy chỉ đồng ý ra tuyên cáo là chuyến đi đã do chính Lodge yêu cầu, để thảo luận về hiện tình Việt Nam. (CĐ số 431 ngày 18/9/1963, Kennedy gửi Lodge; US-Vietnam Relations, Bk 12:548)

Ngày 25/9, McNamara và Taylor tới Sài Gòn. Phái đoàn họp mật ngay với Lodge và Harkins. Sau đó, tiếp xúc mọi giới. Vì Colby, đại diện cơ quan CIA, có giao tình với Nhu, Lodge cho lệnh Colby không được gặp Nhu hay Diệm. (Colby, 1989:144-5) Ngày cuối cùng ở Sài Gòn, Chủ Nhật 29/9, McNamara và Taylor mới gặp Diệm. Phải thật khó khăn McNamara mới cắt ngang được cuộc độc thoại của Diệm, bảo thẳng Diệm rằng những biện pháp đàn áp Phật tử gây trở ngại cho nỗ lực chiến tranh. Diệm tảng lờ ý kiến của McNamara, chỉ yêu cầu Taylor thẩm giá tình hình quân sự. (Gravel, II:216)

Sáng hôm sau, 30/9, trước khi bay qua Honolulu, McNamara và Taylor gặp Phó Tổng Thống Thơ. Thơ tỏ ý hoài nghi hiệu quả của kế hoạch Ấp Chiến Lược, và nhận xét rằng CS ngày càng mạnh. Theo Thơ, chỉ có khoảng từ 15 tới 20 ấp chiến lược được coi như thành công. Thơ cũng than phiền về việc Mỹ không sử dụng áp lực nhanh chóng và đủ mạnh để ngăn chặn cảnh huống hỗn loạn chính trị hiện tại. (Gravel, II:787, 249)

Ngày 2/10, McNamara và Taylor đệ trình báo cáo về chuyến tham quan Việt Nam. Về quân sự, đề nghị tuyên bố sẽ rút 1,000 quân Mỹ vào cuối năm. Về chính trị, ép Diệm phải cải cách, và nếu cần sẽ dùng cách ngưng viện trợ vài ba chương trình làm áp lực. Mặc dù McNamara và Taylor không đồng ý đảo chính, họ đề nghị xúc tiến việc tìm một nhóm lãnh đạo mới để đề phòng bất trắc. Kennedy chấp thuận ngay. (Gravel, II:216; US-Vietnam Relations, Bk 12:574)

Suốt thời gian này, Diệm và Nhu chỉ quanh quẩn như kiến trên miệng chén. Tự hào là người cơ trí, Nhu muốn hoà hoãn với Lodge để kéo dài thời gian, theo chiến thuật trì hoãn chiến, hy vọng lật ngược thế cờ bằng cách tóm bắt những Tướng tá có âm mưu phản loạn, đẩy Mỹ vào thế chuyện đã rồi—un fait accompli, như Nhu đã nhiều lần kiêu hãnh nói với thuộc hạ thân tín.

Nhưng Lodge, so với Nhu, cũng tựa một võ sĩ hạng nặng nhà nghề, với đẳng cấp quốc tế, trước một võ sĩ hạng muỗi tài tử. Mọi chiêu thức của Nhu đều không những bị hoá giải, mà còn trở thành ngón phản đòn chết người. Những người mà Nhu đưa lên đài danh vọng và quyền lực, cũng sẵn sàng vì danh vọng và quyền lực lớn hơn mà chống lại Nhu. Tay chân thân tín của chế độ bị trung lập hoá dần. Bô lão, phụ nữ, và ngay đến thanh niên, học sinh, sinh viên ngày một bạo động hơn. Vòi rồng, lựu đạn cay, đạn mã tử, đạn thật, mắt xích xe tăng hay ngục tù cùng những thú vui bệnh hoạn, dã man của bọn điều tra viên trong các phòng tra tấn mất dần khả năng đe dọa và khủng bố của chúng. Trật tự xã hội bị đảo lộn. Việc lật đổ Diệm được mọi giai tầng xã hội, kể cả giới Ki-tô trí thức cấp tiến, trông chờ từng giờ, từng ngày.

Người bối rối, lo lắng nhất vẫn là Diệm. Không có Nhu, Cẩn và Thục, Diệm chỉ là một ông già 66 tuổi độc thân, cô đơn trong những căn phòng lạnh lẽo của Dinh Gia Long. Hàng chục năm bôn ba—sang tận Vatican hôn chân Giáo hoàng, sang tận nước Mỹ để cầu viện, rao bán lập trường "độc lập," "quốc gia chống Cộng," và sự ủng hộ của khối Ki-tô—cuối cùng chỉ có một ngã ba đường: hoặc mất tất cả, hoặc chỉ còn lại chức Tổng thống vô quyền lực, làm đẹp cho các nghi lễ. Chín năm cai trị miền Nam bằng thứ bạo lực Trung cổ của những ngọn lưỡi lê và họng súng còn sót lại của Mỹ từ sau Thế chiến thứ hai, đã quen thuộc với những lời tâng bốc, nịnh bợ của hệ thống tuyên truyền mà Lansdale phát động nhằm cải biến Diệm thành lãnh tụ—nào là "chí sĩ," nào "anh hùng cứu nguy dân tộc," nào "Ngô Tổng thống, Ngô Tổng thống muôn năm"—Diệm sống trong ảo vọng, thấy bóng mình to hơn bàn chân đế. Sự ngọt ngào, mềm mỏng của Nolting từ năm 1962 cũng cho Diệm ảo tưởng rằng Diệm, nhân vật vô nhiễm, ở hoàn cảnh nào cũng được Mỹ yểm trợ. Từ ảo tưởng tâm bệnh này sinh ra những ảo tưởng tâm bệnh khác—Lỗi lầm của chế độ là lỗi lầm của những người bị cai trị không thấy được tài đức của lãnh tụ, hoặc chỉ là những lỗi lầm kỹ thuật của vài kẻ thi hành mệnh lệnh, có thể sửa chữa được bằng "những lời cầu khẩn, van nài" trong vòng khuôn thước, như Trương Công Cừu khuyên bảo sinh viên sĩ quan khoá 15 và 16 tại Hội trường Thủ Đức năm 1963.

Bởi thế, Diệm vẫn chưa chịu tin là cái thế tựa vững chắc nhất, cây cột trụ của chế độ—tức sự yểm trợ vô điều kiện của Mỹ—đang bị soi mòn. Mọi việc có thể chỉ là một ván bài "poker" quen thuộc của Mỹ. Vì không ai thay thế nổi người từng được chính Phó Tổng thống Johnson ca ngợi như "Winston Churchill của Đông Nam Á Châu." Cần giữ vững lập trường theo kiểu “sau lưng Hiến Pháp còn có tôi.” Cần hành động như một lãnh tụ anh minh duy nhất của Việt Nam. Vật cùng tắc biến. Ở lúc bĩ cực nhất sẽ có một phép lạ xảy đến cho Diệm và VNCH. Mới chỉ 6 năm trước, thị trưởng New York và báo chí Mỹ chẳng từng ca ngợi Diệm là “người của phép lạ”#273;ó sao?

Nhưng, phép lạ "made in USA" [sản xuất tại Mỹ] chẳng bao giờ tái hiện. Chỉ có những tin buồn và những biến chuyển vỡ tim, nát óc.

3. Tổ Chức Đảo Chính Lần Thứ Hai:

Ngày 2/10, André Đôn bắt đầu nối lại liên lạc với Conein, rồi tối đó gặp nhau ở Nha Trang. André Đôn tâm sự rằng các Tướng lại muốn đảo chính, và "Big" Minh cần gặp Conein ngày 5/10. Lodge đồng ý cho Conein đi gặp Minh, với điều kiện không được hứa hẹn điều gì. Trong cuộc đàm thoại hơn một giờ tại trại Lê Văn Duyệt này, Minh cho biết không có tham vọng chính trị cá nhân, nhưng cảm thấy phải lật đổ Diệm bằng không miền Nam sẽ bại trận. Minh đưa ra 3 kế hoạch: (1) Duy trì Diệm, nhưng giết 2 em Diệm là Nhu và Cẩn; (2) Bao vây Sài Gòn bằng một số đơn vị, đặc biệt là các đơn vị của SĐ 5; (3) hoặc, dùng vũ lực tấn công 5,500 quân trung thành với Diệm, chiếm Sài Gòn.

Minh cũng tuyên bố không cần sự yểm trợ của Mỹ, chỉ cần Mỹ không cản trở. Theo Minh, ba nhân vật nguy hiểm nhất của chế độ là Nhu, Cẩn và Ngô Trọng Paul Hiếu. Paul Hiếu là một cán bộ CS, và vẫn còn liên lạc với CS. Vì đã được lệnh của Lodge, Conein không hứa hẹn gì, chỉ nói sẽ báo cáo lên thượng cấp. (Gravel, II:767-768) Ý Minh muốn ám sát 3 người này, nhưng cả Lodge và Colby, Chánh Sở CIA Đông Nam Á, không chấp thuận.

Mặc dù không mấy tin tưởng ở Minh vì các Tướng đã một lần bỏ dở kế hoạch đảo chính, Lodge xin Oat-shinh-tân cho phép Conein tuyên bố với các Tướng là chính phủ Mỹ không có ý định ngăn cản, sẵn sàng nghiên cứu kế hoạch hành động, và sẽ tiếp tục ủng hộ chế độ mới. Ngoài ra, để trấn an họ, Lodge yêu cầu thuyên chuyển Richardson, Trưởng lưới CIA Sài Gòn từ tháng 5/1962. (Colby, 1989:148-9) Ngày 6/10, chính phủ Mỹ đồng ý lập trường không ngăn cản đảo chính, miễn hồ chế độ mới hữu hiệu hơn trong nỗ lực diệt Cộng. Điều kiện duy nhất là Lodge phải bảo mật tối đa vai trò của Mỹ. Từ ngày này, việc chuẩn bị đảo chính được xúc tiến. Ngày 10/10, CIA báo cho Minh biết quyết định ngày 5/10 của Kennedy (tức giảm viện trợ, tạm ngưng tiền trợ cấp nhập cảng hàng hoá, và tiền duy trì LLĐB của Tung).

Những ngày cuối tháng 9, đầu tháng 10/1963, liên hệ giữa Dinh Gia Long và Tòa Đại sứ thêm căng thẳng. Ngày 27/9, tất cả những ứng cử viên của chính phủ đều đắc cử Quốc Hội khoá 3. Lời McNamara cảnh cáo trong buổi hội kiến ngày 29/9, rồi lá thư ngày 1/10 của Tướng Taylor (được trao tay cho Diệm ngày 2/10), và cuộc tự thiêu của một nhà sư trước chợ Bến Thành ngày 5/10—cuộc tự thiêu đầu tiên sau cuộc tảo thanh chùa chiền—khiến Diệm thêm cứng rắn. Trong bài diễn văn khai mạc Tân Quốc Hội ngày 7/10, Diệm chỉ nhắc đến thành công trong dĩ vãng, và gay gắt lên án Cộng Sản, bọn phiêu lưu ngoại quốc (tức tình báo Mỹ) và báo chí Tây phương đã khiến phong trào tranh đấu của Phật giáo kéo dài. (Gravel, II:252)

Ngày này, Lệ Xuân cũng tới Mỹ giải độc. "Rồng Cái" [The Dragon Lady] lập lại lời miệt thị những vụ tự thiêu là "nướng thịt sư," và đề nghị sẽ biếu không xăng cùng hộp quẹt nếu các phóng viên muốn bắt chước họ.(Colby, 1989:149) Chống đối dữ dội xảy ra tại bất cứ nơi nào Lệ Xuân xuất hiện. Trần Văn Chương không những chỉ từ chối tiếp Lệ Xuân tại nhà riêng, mà còn bám sát chân con gái, kịch liệt đả kích. Thân Thị Nam Trân còn đề nghị cho xe cán chết đứa con gái ngỗ nghịch, lăng loàn của mình. (Chính Đạo, VNNB, I-C: 1955-1963, tr. 352-353) Hành động của vợ chồng Chương khiến Nhu phẫn hận đe dọa sẽ cho treo cổ Chương trước bùng binh Sài Gòn đến chết, và vợ Nhu (Lệ Xuân) sẽ hân hoan xiết chặt hơn giây treo cổ cha ruột. [Sau này, người ra tay giết Chương và Nam Trân không phải là Lệ Xuân mà là Trần Văn Khiêm, em Lệ Xuân]

Uy tín Diệm tại hải ngoại cũng như quốc nội rơi tự do với gia tốc đáng sợ. Ngày 8/10, nhờ nỗ lực của Bửu Hội, Đại Hội Đồng LHQ chấp thuận gửi một phái đoàn qua điều tra về việc đàn áp Phật giáo. Nhưng báo chí thế giới vẫn không ngừng đả kích Diệm và vợ chồng Nhu.

Tại Sài Gòn, Nhu phản ứng mạnh mẽ. Ngày 8/10, Times of Vietnam, tờ báo Anh ngữ do chính phủ bỏ vốn, cực lực đả kích việc cắt giảm viện trợ. Mật vụ của Nhu bắt đầu gây khó khăn cho các ký giả cùng nhân viên toà Đại sứ Mỹ. Ngày 17/10, Mật vụ lại hành hung vài ký giả Mỹ.

Cũng ngày 17/10 này, Lodge chỉ thị Tướng Richard Stilwell, Trưởng Khối Hành Quân của MACV, cho Thuần biết rằng tiền trợ cấp các đơn vị LLĐB/VN từng tham dự những cuộc tấn công chùa chiền bị tạm thời đình hoãn cho tới khi các đơn vị trên ra mặt trận, và đặt dưới quyền của Bộ Tổng Tham Mưu. Hôm sau nữa, 18/10, Harkins xác nhận với Diệm tin này. Cố vấn Mỹ cũng thông báo cho Đôn và Tung, nhưng việc cắt viện trợ được giữ bí mật với dư luận. Ngày 26/10, Bộ Tổng Tham Mưu và Tung chuẩn bị một kế hoạch để đưa LLĐB lên vùng Cao Nguyên, nhưng quá trễ. Cuộc đảo chính đã như mũi tên trên giây cung căng thẳng.

Thoạt tiên, các Tướng đảo chính dự trù hành động vào ngày Quốc Khánh, 26/10. Nhưng một chuyện hiểu lầm xảy ra khiến ngày "N" phải dời lại. Ngày 22/10, trong một buổi họp với André Đôn, Harkins nói không nên tiếp xúc các cố vấn Mỹ về việc đảo chính, vì sẽ khiến suy giảm nỗ lực chiến tranh. Nghi rằng Mỹ không chính thức ủng hộ, hôm sau, Đôn bảo Conein là phải tạm đình đảo chính, chờ Lodge minh định lập trường của Mỹ. Harkins phải vội vã xin lỗi Đôn. Qua ngày Thứ Năm, 24/10, Đôn báo cáo với Conein là sẽ khởi sự trước ngày 2/11. Conein đòi được xem kế hoạch chi tiết. Buổi tối, khi gặp lại Conein, Đôn trả lời rằng các Tướng đảo chính chỉ chịu cho một mình Lodge coi kế hoạch chi tiết 48 giờ trước khi khởi sự.

Thời gian này, CIA Mỹ khám phá ra là ngoài nhóm Minh, Đôn, và Khiêm còn một nhóm khác đang âm mưu đảo chính, tức nhóm Phạm Ngọc Thảo-Trần Kim Tuyến. Dù Tuyến lúc đó đang ở Hong Kong, nhóm tự nhận là Ki-tô trẻ này vẫn muốn thay thế Diệm nhận lĩnh "Thiên Mệnh Mỹ." (Colby, 1989:150) Họ trù tính sẽ nổi dậy ngày 24/10. Để tránh họ làm liều, Đôn và Khiêm mời họ tham gia cuộc đảo chính của các Tướng.(Gravel, II:266)

[Ngày 30/8, Trung tá Phạm Ngọc Thảo báo cáo với cơ quan CIA tại Sài-gòn (CAS) về những tin tức khai thác được từ Trần Thiện Khiêm trong buổi tối 29/8/1963. Khiêm tuyên bố các Tướng có quá nhiều thứ để mất nếu làm đảo chính; Họ ủng hộ chính phủ lâm thời của Nguyễn Ngọc Thơ để duy trì tình trạng hợp hiến của chế độ; Hai tướng Khiêm và Khánh đồng ý yểm trợ Tướng Minh nếu hai anh em Diệm-Nhu bị giết. Họ sẽ chỉ yểm trợ Thơ nếu Nhu sống sót trong cuộc đảo chính để chống lại Nhu.

Lần đầu tiên các Tướng bày tỏ sự chống đối Nhu.

Nếu cuộc đảo chính thành công ở giai đoạn đầu—tức nếu Ngô Đình Diệm bị giết—họ sẽ ủng hộ phe đảo chính. Khánh và Khiêm hứa sẽ tìm cách chỉ thị cho các đơn vị chống đảo chính bị lạc đường. Thảo nói với các Tướng là cần đưa một số đơn vị vào Sài-gòn, và điều động một số đơn vị khác ra ngoài, như LLĐB của Lê Quang Tung. Thảo nói có thể tin tưởng vào 3 tiểu đoàn, và có thể lên tới 5 tiểu đoàn. Lực lượng này đủ sức duy trì tình thế từ 3 tới 4 tiếng đồng hồ, trong khi chờ đợi các Tướng nhập cuộc. Thảo muốn làm đảo chính trong vòng 1 tháng, hoặc sớm hơn. Theo Thảo, những nhân viên sau đây có thể được mời tham gia chính phủ: Vũ Văn Mẫu, Trần Văn Chương, Trần Lê Quang, Vũ Văn Thái, Huỳnh Văn Lang, Nguyễn Hữu Châu. Thảo cũng đang liên lạc với các lãnh tụ Đại Việt. Thảo nói muốn cầm đầu ngành An ninh quân đội. (FRUS, IV, tài liệu 22) Từ vài ngày qua, CIA đã được báo cáo về âm mưu đảo chính của Thảo cùng Trần Kim Tuyến và Huỳnh Văn Lang. Kế hoạch đảo chính này thoạt tiên dự trù vào lúc 13G00 ngày 24/10/1963. Trung đoàn 8 của Thiếu tá Nguyễn Văn Tư, gồm 5 tiểu đoàn, không có phương tiện di chuyển. Tiểu đoàn 5 Dù của Ngô Quang Trưởng đang ở Sài-gòn, nhưng súng không có đạn (vì tham dự lễ Quốc Khánh 26/10/1963). Mục tiêu là Dinh Gia Long để lật đổ Diệm. Trung tá Lê Nguyên Khang, Chỉ huy trưởng TQLC, và Đại tá Nguyễn Văn Thiệu, Tư lệnh Sư đoàn 5, hứa sẽ đứng trung lập. Khang sẽ tham gia đảo chính ở giai đoạn sau. Trung tá Nguyễn Cao Kỳ sẽ oanh tạc Dinh Gia Long. Luật sư Nguyễn Hữu Dương sẽ phụ trách Công Dân vụ, Thông tin và Đài phát thanh, với sự tham dự của 500 sinh viên, học sinh, và lực lượng của Tư.

Lúc 15G00 ngày 24/10, Thảo nói với nhân viên CIA không biết gì về kế hoạch này. Trong khi đó, một nguồn tin khác cho biết Kỳ đang uống bia với sĩ quan Mỹ. Sở CIA Sài-gòn kết luận có thể tin đảo chính sai lầm, hoặc đã bị bỏ dở. (FRUS, IV, tài liệu 210.  Sau này, Thảo thú nhận rằng không có phư ơng tiện chở quân). Ngày Thứ Bảy, 26/10,  CIA lại được tin Phạm Ngọc Thảo và Trần Kim Tuyến đang âm mưu đảo chính.

4. Phái Đoàn Điều Tra Liên Hiệp Quốc:

Cũng ngày 24/10 này, phái đoàn điều tra của LHQ tới Việt Nam. Nguyên từ sau cuộc tự thiêu của Thượng tọa Quảng Đức và nhất là cuộc “vét chùa” đêm 20 rạng 21/8/1963, dư luận quốc tế cực kỳ sôi nổi chống lại chính sách đàn áp Phật Giáo của chế độ Diệm. Một số quốc gia đã phản kháng với Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc, yêu cầu can thiệp.

Chính phủ Diệm đã nhờ Bửu Hội, một khoa học gia, đại diện tới New York để bênh vực chính sách của chế độ. Cuối cùng, Tổng thư ký LHQ đồng ý gửi một phái đoàn tìm sự thực qua Việt Nam.

Thay vì đưa ra những bằng chứng khả tín để bác bỏ những lời cáo buộc là chế độ đàn áp Phật Giáo, Diệm sai thuộc hạ tuyển mộ một số vũ nữ trẻ đẹp để gài bẫy họ vào thú trăng hoa, rồi quay phim, hầu bịt miệng họ. Người thực hiện kế hoạch này là Trung úy Trần Hữu Duệ, với sự trợ giúp của Liên Đoàn Phòng Vệ Phủ Tổng thống. Vì kế hoạch “mỹ nhân kế” này, và rồi cuộc đảo chính 1/11/1963 xảy ra trong khi phái đoàn vẫn còn ở Việt Nam, bản phúc trình của UB/LHQ dành nhiều trang cho lối giải thích của chính phủ, đặc biệt là Ngô Đình Nhu, Trần Tử Oai và Bùi Văn Lương, trong khi chỉ tóm lược những lời tố cáo của nhân chứng Phật tử. Chính phủ Mỹ cũng cho lệnh ngưng khai thác bản báo cáo của phái đoàn vì Diệm đã bị lật đổ.

[Mới đây cựu Đại tá Nguyễn Hữu Duệ đã viết về đề tài này trên báo VNTP. Xem thêm Nhật ký Đỗ Thọ về tội hình sự “ngăn cản việc thực thi công lý” [obstruction of justice] này của chế độ Diệm Tiến sĩ VĐĐ, người phụ trách thông dịch cho phái đoàn LHQ, đã cung cấp chi tiết này từ nhiều năm trước.]

5. Nỗ lực làm hòa của Diệm:

Vì một lý do nào đó, vào hạ tuần tháng 10/1963, Diệm bỗng tỏ vẻ thân thiện hơn với Lodge. Ngày 24/10, Diệm mời Lodge lên Đà Lạt nghỉ mát với mình ngày Chủ Nhật, 27/10, trước khi về nước dự Hội nghị.

Được Bộ Ngoại Giao đồng ý, Lodge lên Đà Lạt nghỉ mát với Diệm như dự trù. Hai người thoạt tiên ghé thăm Phước-long, rồi đến một đồn điền cách tỉnh lhoảng 20 phút bay trực thăng. Sau đó, bay qua Quảng-đức, rồi tới Đà-lạt. Nhân dịp Diệm nhắc đến việc cơ quan UNESCO sắp giúp xây cất một trường Đại học, Lodge nói về Ủy Ban điều tra LHQ, và hỏi Diệm đã gặp họ chưa. Diệm nói đã gặp. Lodge nói Diệm nên cho phép UBĐTLHQ được tiếp xúc với Thượng tọa  Trí Quang. Diệm không nói gì, nhưng có vẻ bị xúc phạm. Lodge nhận xét rằng Diệm là một người dễ thương, tốt, "nhưng bị cắt đứt với hiện tại, sống trong quá khứ, không có cảm xúc gì về dân chúng và hết sức cứng đầu." (FRUS, 1964-1968, IV, 442) Sau bữa ăn tối, Diệm phàn nàn về vấn đề cắt viện trợ. Lodge trả đũa bằng cách nêu lên vấn đề Phật giáo và sinh viên, học sinh bị bắt giữ, cùng thái độ khinh bạc của vợ Nhu khi giải độc ở Mỹ. Bởi thế, không những chẳng tạo được hoà khí, chuyến nghỉ mát Đà Lạt này khiến Lodge quyết định là không thể làm việc với Diệm được nữa. Lodge đã chua chát hỏi Diệm:

 "Ông Tổng thống, bất cứ một đề nghị đơn giản nào của tôi ông cũng bác bỏ. Có một việc nào ông nghĩ, trong khả năng ông có thể làm, để gây thiện cảm với dư luận Mỹ?"

Diệm chỉ nhìn Lodge, không đáp.(FRUS, 1961-1963, IV, tài liệu 221; Gravel, II:219; Colby 1989:149)

Thực ra, từ ngày 25/10, Lodge đã gửi công điện cho Cố vấn ANQG Bundy, yêu cầu tiến hành đảo chính vì đảo chính là phương tiện duy nhất để dân VN thay chính quyền. Để tránh rắc rối, Lodge từ chối gặp André Đôn. Theo Lodge, không sợ Nhu gài bẫy, vì sự liên lạc giữa Conein và Đôn chưa đủ khẳng định sự dính líu của Mỹ vào âm mưu đảo chính. Lodge sẽ duy trì thái độ là không ngăn cản cuộc đảo chính, nhưng biết rõ mọi chi tiết diễn biến. (FRUS, 1961-1963, IV, tài liệu 216) Tuy nhiên, Bundy còn ngần ngại về việc uy tín Mỹ nếu đảo chính thất bại. (FRUS, 1961-1963, IV, tài liệu 217)

Qua ngày Thứ Hai, 28/10/1963, sau bữa ăn trưa tại Viện Nguyên tử Đà-Lạt, Nguyễn Đình Thuần xin gặp Lodge để dò ý về buổi nghỉ mát cuối tuần với Diệm. Thuần hỏi Lodge: “VNCH phải làm gì?” Lodge nói cần phóng thích tù chính trị (kể cả Phật giáo), mở cửa các trường học, rút lại Dụ số 10 về các hội đoàn, đừng che dấu ủy ban điều tra của LHQ, hầu đặt VN trong mắt nhìn tốt đẹp hơn của thế giới. Mỹ không muốn bị đánh giá như đang ủng hộ một chế độ độc tài. Nếu Diệﭠkhông thay đổi, thái độ hiện nay của Mỹ cũng sẽ không thay đổi. (FRUS, 1961-1963, IV:441-442)

Nhưng Lodge không cho Thuần biết rằng sáng sớm hôm 28/10 đó, trên đường đi dự lễ khánh thành Trung tâm Nghiên cứu Nguyên tử lực Đà-lạt, André Đôn đã gặp Lodge ở phi trường Tân Sơn Nhất để yêu cầu xác tín thực chăng Conein được lệnh tiếp xúc với mình. Lodge khẳng định đã cho phép Conein nói chuyện với nhóm đảo chính. (Trần Văn Đôn, Our Endless War, tr. 98; FRUS, 1961-1963, IV:449). Tối đó, Đôn đề nghị với Conein là Lodge cứ việc về nước nghỉ vào ngày 31/10 như dự trù để Diệm-Nhu khỏi nghi ngờ. Các Tướng sẽ giao cho Lodge kế hoạch đảo chính trong khoảng từ 48 giờ tới 4 giờ trước khi khởi sự. Ngày 29/10, Đôn sẽ ra Quân Khu I và II để liên lạc Trí và Khánh, qua hình thức gắn huy chương. Về các đơn vị tham dự đảo chính, Đôn nói không phụ trách việc này. Kim lo mọi kế hoạch chính trị, trong khi kế hoạch quân sự nằm trong tay những người khác. (Lodge nghĩ rằng có thể trong tay Dương Văn Minh) Đôn cũng tiết lộ tham dự đảo chính co một nửa Liên đoàn Dù, 2 tiểu đoàn TQLC; toàn bộ Không quân, ngoại trừ Đại tá Nguyễn Hữu Hiền, vài đơn vị Liên đoàn Phòng vệ Phủ Tổng thống, và ít nhất 4 thiết giáp. Ngoài ra còn có Sư đoàn 5, Sư đoàn 9, Sư đoàn 21, và một nửa Sư đoàn 23. Đôn không rõ về Sư đoàn 7, Hải quân và LLĐB, hai Trung đoàn độc lập 46 và 48, cũng như Cảnh sát. Bộ chỉ huy đảo chính sẽ đặt tại Bộ Tổng Tham Mưu vì gần trại LLĐB và Tân Sơn Nhất. Các Tướng biết rằng có hai đường hầm trong Dinh Gia Long. Hai đường hầm này trổ ra nghĩa trang nằm trên đường Phùng Khắc Khoan và Phan Thanh Giản và Sở Thú. (FRUS, 1961-1963, IV, tài liệu 225) Trong buổi họp này, Conein đề nghị yểm trợ tiền và vũ khí, nhưng Đôn từ chối. (Đôn, Endless War, tr. 98-99).

Thời gian này, Đính ngả hẳn theo phe đảo chính. Sự thay đổi lập trường của Đính, ít nữa ở bề ngoài, cực kỳ quan trọng.

Đính, sinh năm 1924 tại Huế, là một trong những nhân vật được Diệm và Nhu tín cẩn nhất. Trong cuộc tấn công các chùa tại Sài-gòn, Nhu đã chỉ định Đính làm Tư lệnh. Sau khi đài VOA loan tin chính Nhu mà không phải quân đội đánh phá chùa chiền, ngày 27/8, Nhu cho Đính họp báo để giải độc. Đính tuyên bố là đã cứu miền Nam khỏi họa Cộng Sản, Phật giáo, và "bọn phiêu lưu ngoại quốc" đang muốn lật đổ chính phủ.(Gravel, II:265; NYT, 5/11/1963) Theo một nguồn tin, sau cuộc họp báo, phe đảo chính dùng kế khích tướng, dèm pha là Đính bị Nhu lừa, và chính phủ Diệm phải chịu ơn Đính mới đúng. Rồi xúi Đính vào gặp Diệm, yêu cầu Diệm phong mình làm Bộ trưởng Nội Vụ. Ngày 5/9, khi Đính vào dinh Gia Long đưa ra yêu cầu trên, Diệm phản ứng một cách giận dữ, rồi bắt Đính lên Đà Lạt "nghỉ phép." Lợi dụng cơ hội này, nhóm đảo chính thuyết phục Đính chống lại Nhu. Tuy nhiên, Đính chưa có quyết định dứt khoát. (Gravel, II:265) Một nguồn tin khác cho biết Đính bất mãn với chế độ, đặc biệt là Nhu, đã lâu. Bởi thế khi Mậu, người quen biết Đính từ thuở ra khu chiến đấu năm 1945-1946, tới thuyết phục vào hạ tuần tháng 10/1963, Đính nhận lời ngay. (Mậu, 1993:621-3) Tướng Minh thì tiết lộ rằng từ tháng 10/1963, Đính đã tự động tới gặp Minh, xin “nghe lệnh.” Vì Đính có thù cũ với Lê Văn Kim, Minh phải đứng ra hòa giải, bảo đảm cho Đính.

Theo một nguồn tin khác, Nhu cũng chuẩn bị một kế hoạch đảo chính giả để tóm gọn phe chống đối. Đính, Tung, Cao và Raymond Khánh là bốn nhân vật chủ chốt. Theo kế hoạch "Bravo 1" của Nhu, Đính sẽ điều LLĐB ra xa Sài Gòn, rồi làm đảo chính giả. Diệm cùng Nhu sẽ bí mật rút xuống Vũng Tàu tị nạn. Sau đó, Tung sẽ sử dụng LLĐB phản đảo chính. Đính cùng Cao hỗ trợ bằng hai đơn vị "trung thành" khác, tức Sư Đoàn 5 của Thiệu tại Biên Hòa, và Sư Đoàn 9 của Bùi Dzinh ở Sa Đéc. (Gravel, II:219) Được Đính báo cáo về "Bravo 1," nhóm Minh-Đôn tương kế, tựu kế lập nên kế hoạch "Bravo 2." Ngày Thứ Ba, 29/10, Đính cho lệnh Tung mang 3,000 LLĐB ra đóng trong căn cứ bí mật Long Thành, chờ khởi sự "Bravo 1." Nhưng theo kế hoạch "Bravo 2," đây là kế đưa 6 đại đội chuyên viên tác chiến trong thành phố ra khỏi thủ đô, và cắt đứt liên lạc giữa Nhu với Tung. Đồng thời, Đôn cho một số đơn vị tình nghi trung thành với Diệm mở những cuộc hành quân tảo thanh xa các trục lộ giao thông. Ngày 30/10, có lẽ để bảo đảm "Bravo 1" phải thành công, Nhu cử Phát, người đã có công đàn áp biểu tình ở Đà Nẵng, làm Tư lệnh SĐ 7 ở Mỹ Tho. Sư Đoàn này trấn giữ cửa ngõ từ miền Tây lên Sài Gòn, nguyên thuộc Quân Đoàn IV, mới được sát nhập vào QĐ III của Đính. Vì còn nghi Phát, Đính nêu lý do bận, chưa cho Phát trình diện ngay. Đồng thời, quyết định đưa Đại tá Nguyễn Hữu Có xuống Định Tường nắm Sư Đoàn 7, để nếu cần chặn đường tiến về thủ đô của lực lượng Quân Đoàn IV.

Có, trên lý thuyết, đang bị "biệt giam" tại Bộ Tư lệnh QĐ III để điều tra về âm mưu làm đảo chính. Nguyên Có đã theo phe Minh-Đôn từ giữa tháng 10/1963. Với chức vụ Tư lệnh Phó QĐ III, Có móc nối được Thiệu.(45)

45. Theo Mậu, chính Mậu móc nối Thiệu; Mậu, 1993:618-9.

Sau đó, bay xuống miền Tây, chiêu dụ với một số sĩ quan trung cấp tại Bộ Tư lệnh QĐ IV cũng như SĐ 7. Một số đơn vị trưởng, như Thiếu tá Nguyễn Viết Thanh và Lý Tòng Bá, nhập cuộc.(46)

46. Công Luận, 1/11/1970; Gravel, II:265-6. Theo Tôn Thất Đính, "Bravo I" và "Bravo 2" chỉ là mật mã truyền tin giữa SĐ 5 và QĐ III; Idem., 25 Năm Binh Nghiệp (San Jose, CA: 1998), tr. 437. Sẽ dẫn Đính 1998.

Nhưng ngày 28/10, Thiếu tá Nguyễn Khắc Bình mật báo với Nhu việc làm của Có. Diệm và Nhu bèn giao cho Đính xử trí, vì đây cũng là một cách trắc nghiệm lòng trung thành của Đính. Như một kịch sĩ tài ba, Đính hùng hổ đòi phải giết ngay Có, nhưng Nhu chỉ muốn tạm giữ để điều tra thêm. (Đính 1998, tr. 441) Đính bèn cho Có tránh mặt trong một phòng bí mật ngay tại Bộ Tư lệnh của mình, chờ ngày khởi sự. Mỗi lần Nhu hỏi về Có, Đính đều nói đã tra tấn gần chết, nhưng chưa khai thác được gì. Đôn cũng trả lời tương tự. Khoảng nửa đêm 31/10, Đôn tới Bộ Tư lệnh của Đính, thông báo là sẽ khởi sự vào trưa hôm sau.

Những ngày cuối tháng 10/1963, các cấp lãnh đạo Mỹ vẫn chưa thống nhất ý kiến. Harkins nghĩ rằng chưa nên "thay ngựa," và không nên "bẹo tai, đá đít, hay loại bỏ Diệm" quá đột ngột sau hơn 8 năm dài hợp tác. Harkins cũng cực kỳ bất bình về việc Lodge không cho mình biết hết chi tiết, và không dấu sự hoài nghi về các Tướng. Theo Harkins, suốt hai giờ ngồi bên nhau trên khán đài ngày lễ Quốc Khánh (26/10), cả Đôn lẫn Minh chẳng hề hé môi nửa lời về đảo chính. (Công điện số 2028, 30/10/1963, Harkins gửi Taylor; Gravel, II:784-5)

Lodge, vì đã có mật lệnh của Kennedy là không được tiết lộ với bất cứ ai, kể cả Harkins, thì đã âm thầm quyết định. Để biện minh cho việc lật đổ Diệm, Lodge lý luận rằng cần đưa sinh hoạt chính trị Việt Nam tới thế kỷ XX, vì vấn đề Cộng Sản không thể giải quyết thuần túy bằng quân sự, mà còn có khía cạnh tâm lý và chính trị. Hơn nữa, liên lạc với nhóm Đôn-Minh đã mở từ tháng 8/1963, không thể cắt đứt. Nếu cần, phải bỏ tiền giúp họ mua chuộc những người chống đối."(Gravel, II:790-1)

Vì Kennedy đã giao toàn quyền cho Lodge, ngày 30/10, Oat-shinh-tân cho phép Lodge bật đèn xanh, miễn hồ không để lộ ra là Mỹ đã trực tiếp nhúng tay. Ngày hôm trước, 29/10, Bộ Tổng Tư lệnh Thái Bình Dương cũng đã cho lệnh Hải và Không lực chuẩn bị di tản kiều dân Mỹ khỏi Việt Nam, nếu cần.

flash-5sac.gif (367 bytes) đọc tiếp phần VI: Ngày tàn của một chế độ

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........