curley_sw.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw.gif (1967 bytes)

.......... .

 

Mùa Phật Đản Đẫm Máu (tiếp theo)

Chính Đạo

VI. Ngày Tàn Của Một Chế Độ:

Ngày Thứ Năm, 31/10, Lodge hủy bỏ chuyến về nước, ở lại Sài Gòn để tiện việc điều động cuộc đảo chính. Lý do ngoài mặt là chuyến viếng thăm Việt Nam của Đô Đốc Felt, Tư lệnh Thái Bình Dương. Thực ra, chuyến đi của Felt đã được nhóm đảo chính khai thác thành cơ hội kềm chân Diệm và Nhu tại Dinh Gia Long cho tới lúc mọi cánh quân đã điều vào vị trí. Cả Diệm và Nhu chẳng chút nghi ngờ khi Lodge dẫn Felt tới chào từ biệt lúc 10G00 sáng ngày 1/11.

Đáng lưu ý là sau phần nghi lễ chính thức, Diệm gặp riêng Lodge trong vòng 20 phút. Nhận hiểu tính mạng đã treo trên sợi tóc, Diệm tuyên bố sẵn sàng thảo luận về những gì Mỹ muốn Diệm phải làm.

Theo Lodge, từ sáng sớm, dinh Gia Long đã yêu cầu Lodge cho Diệm gặp riêng trong khoảng 15 phút sau buổi tiếp kiến Felt. Ngay sau khi Felt vừa rời phòng tiếp tân, Diệm nói với Lodge: 

(1) Các nhà sư—do các nhân viên Mỹ xúi dục—đã gặp Ủy Ban Điều Tra LHQ và thú nhận rằng họ bị Mỹ "thuốc" [intoxication]. Một sư nhìn nhận đã ngụy tạo tài liệu; một sư khác thú nhận đã tung tin sẽ có đảo chính, và tiết lộ một số tên nhân viên Mỹ. Ủy ban LHQ muốn có những tên người Mỹ này, nhưng Nhu không tiết lo, vì VNCH “không muốn giặt chăn bẩn trước công chúng.”

(2) Diệm còn tiết lộ  có một số sinh viên, học sinh làm việc với Cộng Sản dự định ném lựu đạn và chất nổ vào phái đoàn LHQ. Vì vậy Diệm phải đóng cửa các đại học. Nhưng từ từ các trường sẽ mở cửa trở lại sau khi phái đoàn LHQ rời nước.

(3) Diệm lập lại những điều tuyên bố với Đô Đốc Felt, rằng LLĐB đã đặt dưới quyền điều động của Bộ TTM. Tướng Harkins là một người tốt, nhưng một số phụ tá của ông ta không được ưa thích; đặc biệt là Trung tá Paul Vann.

(4) Về việc cải tổ chính phủ, biết đưa ai vào? Bất cứ lúc nào Diệm đề cập đến vấn đề này, chẳng ai đưa ra được những tên xứng đáng. Hơn nữa, còn vấn đề thời điểm rất quan trọng. Diệm dự định sẽ cải tổ chính phủ khi hợp thời [at the proper time].

(5) Diệm yêu cầu Lodge hãy hỏi Colby và Nolting về Nhu. Nhu không ưa quyền hành, nhưng có tinh thần cởi mở và luôn luôn có những lời khuyên tốt cho những ai muốn hỏi ý kiến. Mỗi khi gặp khó khăn, Nhu luôn luôn tìm ra một giải pháp. Colby từng nói với Diệm rằng thật không tốt khi cứ để Nhu sống trong tháp ngà, thay vì phải xuất đầu lộ diện nhiều hơn. Đại sứ Nolting cũng đồng ý. Vì áp lực của họ mà Nhu đã xuất đầu lộ diện trước công chúng. Nhưng dân chúng lại cho rằng Nhu muốn tranh đoạt quyền hành, và tiếng xấu lại bắt đầu.

Vẫn theo Diệm, nhân viên CIA cấp thấp đã “đầu độc không khí” bằng cách loan tin đảo chính. Một trong các nhân viên này, Hodges, mới đây nói với Bộ Tham Mưu rằng chính phủ đang tổ chức một cuộc biểu tình trước tòa đại sứ. Nếu vậy, hạm đội số 7 sẽ đổ bộ. Diệm nói rằng Hodges biết nhiều hơn cả Diệm, và kẻ thù sẽ lợi dụng những tin đồn đó. Ngày 23/10, tìm thấy trên hai tử thi Việt Cộng kế hoạch đánh chiếm Sài-gòn nếu có đảo chính. Việc chính phủ Mỹ tạm ngưng viện trợ gây thiệt hại cho nỗ lực chiến tranh và Ấp Chiến Lược. Mỹ hoàn toàn sai lầm khi ngưng viện trợ cho LLĐB. Chính Bộ TTM đã trực tiếp điều động LLĐB tấn công các chùa ngày 21/8/1963, sau khi các Tướng lãnh cao cấp đã trực tiếp nói với Diệm việc này cần thiết. (FRUS, 1961-1963, IV, tr. 515)

Khi Lodge đứng dạy cáo từ, Diệm nói: “Làm ơn nói với Tổng thống Kennedy rằng tôi là một đồng minh tốt và thẳng thắn [good and frank ally]. Tôi muốn bộc trực và giải quyết các vấn nạn bây giờ hơn là nói về chúng sau khi chúng ta đã mất tất cả. . . . Nói với Tổng thống Kennedy rằng tôi nghiêm túc ghi nhận những đề nghị của ông ta và muốn thực hiện chúng nhưng chỉ còn vấn đề thời điểm [timing].” (FRUS, 1961-1963, IV, 516-517)

Sau hơn hai tháng trời từ ngày Lodge tới Việt Nam, Diệm mới thốt ra được những lời Lodge mong đợi. Nhưng đã quá trễ. Từ 7G30 sáng, Đôn đã liên lạc với Mai Hữu Xuân (Trung tâm Huấn luyện Quang Trung) và Trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức để mang tân binh và sinh viên sĩ quan (khoá 15) về Sài Gòn. Công tác bảo mật của Minh-Đôn chặt chẽ đến độ vào khoảng 8G30 sáng Đính còn gọi điện thoại cho Đôn, cảnh cáo phải coi chừng bị Khiêm bán đứng. Một lúc sau, Khiêm tới gặp Đôn, giải thích là đã lấy dầu nóng bôi vào mắt để giả khóc, yêu cầu Đính đừng đảo chính, hầu thử lòng Đính.

Trước khi cáo từ, Lodge bảo Diệm, không dấu vẻ mỉa mai, rằng những lời đồn về việc ám sát Lodge không làm cho lòng ngưỡng mộ và tình bạn với Diệm hay Việt Nam bị ảnh hưởng. (FRUS, 1961-1963, IV, 516-517)

Trong khi đó, theo đúng kế hoạch dự trù, Đôn phải tiễn Felt từ Dinh Độc Lập ra tận phi trường. Khi phi cơ Felt cất cánh cũng là lúc Đại tá Có được một chiếc trực thăng đưa xuống Mỹ Tho, trực tiếp nắm SĐ 7. Trở lại Bộ Tổng Tham Mưu, Đôn thấy những người cần có mặt đã tề tựu đông đủ. Những người tham dự đảo chính ngồi đầy phòng họp. Số sĩ quan bị tình nghi trung thành với Diệm—Đại tá Tung; Trung Tá Khôi, Tư lệnh Lữ Đoàn LBPV/PTT; Thiếu tá Lê Nguyên Khang, Tư lệnh TQLC; Giám đốc Cảnh Sát Đô Thành (Nguyễn Văn Tư), cùng Chỉ huy trưởng Địa Phương Quân-Dân Vệ—thì bị còng tay, giam trong một phòng gần đó. Conein cũng tham dự buổi họp với nhiệm vụ báo cáo mọi diễn tiến về Toà Đại sứ. Trước khi khai mạc, "Big" Minh cho Đôn biết đã ra lệnh đảo chính sớm hơn vì Đại Tá Hồ Tấn Quyền, Tư lệnh Hải Quân, không chịu ngả theo đảo chính và bị giết trên xa lộ Thủ Đức.

Phiên họp đầy sắt máu. Minh cùng Ủy ban đảo chính trình bày lý do quân đội phải đứng lên làm "cách mạng." Sau đó, yêu cầu những ai tán thành đọc tên mình vào bản tuyên cáo sẽ phát thanh trong chiều đó. Hầu hết mọi người đều đồng ý. Đại tá Cao Văn Viên, Tư lệnh Liên Đoàn Nhảy Dù, không chịu đọc tên. Viên bị dẫn giải khỏi phòng họp và giam lỏng trong văn phòng một sĩ quan phụ tá của Khiêm, người trực tiếp điều động cuộc đảo chính. Phần Đại tá Huỳnh Hữu Hiền, Tư lệnh Không Quân, bị Trung tá Kỳ bắt giữ ngay tại văn phòng trong căn cứ Tân Sơn Nhất, rồi dẫn giải qua Bộ Tổng Tham Mưu.(47)

47. Nguyễn Cao Kỳ, Twenty Years and Twenty Days [Hai mươi năm và hai mươi ngày] (New York: 1976), tr. 39. Sẽ dẫn: Kỳ, 1976. Phỏng vấn Đại tá Huỳnh Hữu Hiền ngày 27/4/2003 tại Houston. Theo cựu Đại tá Hiền, ông không đư ợc một viên chức Mỹ nào móc nối. Cố vấn Mỹ chỉ dò hỏi ông là trong trường hợp Tổng thống Diệm không còn khả năng lãnh đạo, ai sẽ lên thay? Ông Hiền trả lời: “Theo Hiến pháp, Phó Tổng thống Thơ.” Các Tướng tá Việt không móc nối Hiền, vì có lẽ biết ông ta, cựu phi công riêng cho Tổng thống Diệm, sẽ “không tha.”

Đúng 13G30, cuộc đảo chính khởi sự. Mười lăm phút sau, Đôn điện thoại cho Stilwell. Khoảng 14G00, một trung đoàn của SĐ 5, hai tiểu đoàn TQLC, với sự hỗ trợ của khoảng 12 Thiết giáp, chiếm lĩnh hầu hết các cơ sở quan trọng: Ty bưu điện, đài phát thanh, Tổng Nha Cảnh Sát-Công An, phi trường, Bộ Tư lệnh Hải quân, v.. v... (NYT, 5/11/1963) Một đơn vị TQLC cũng tới tăng cường cho LLĐB “bảo vệ” Bộ Tổng Tham Mưu, rồi tước khí giới của đơn vị LLĐB này.

Một giờ sau, Sư Đoàn 5 của Thiệu và chiến đoàn Vũng Tàu của Trung tá Vĩnh Lộc—sau do Lâm Văn Phát tình nguyện chỉ huy, gồm 1 tiểu đoàn Dù, 1 Trung đoàn của Sư Đoàn 5, và một số chiến xa của Trường Thiết Giáp—vây quanh một phần Dinh Gia Long và Thành Cộng Hoà.(48)

48. Theo cựu Trung tướng Vĩnh Lộc, trước giờ đảo chính Nguyễn Văn Thiệu vào gặp Nhu trong Dinh Độc Lập. Khi gặp Lộc và Bộ Chỉ huy Chiến đoàn Vũng Tàu, Thiệu nói có lẽ nội trong ngày đó quân đội VNCH chỉ còn lại Hạ sĩ quan chỉ huy. Chẳng hiểu Thiệu có hàm ý gì. (Phỏng vấn điện thoại tháng 2/2001 tại Houston)

Dưới sự chỉ huy của Thiếu tá Nguyễn Hữu Duệ, Tham Mưu trưởng Liên đoàn PV/PTT, các binh sĩ PV/PTT quyết không đầu hàng. Một đại đội đóng ở Sở Thú còn bắt được hai sĩ quan Hải quân ngả theo đảo chính; trong đó có người đã hạ sát Đại tá Quyền. Tuy nhiên, cánh quân đến giải tỏa Đài Phát Thanh bị thất bại, ngả theo phe đảo chính. (49)

49. Nếu tin được Thiếu tá Duệ, Duệ còn có kế hoạch mang thiết giáp tới chiếm đóng Bộ Tổng Tham Mưu, bắt gọn hết những người cầm đầu đảo chính. Nhưng giấc mơ này chỉ thuần là giấc mơ. Có lẽ Thiếu tá Duệ không biết gì về lực lượng ta và địch, cũng như sự dàn xếp của người Mỹ.

Tại Tân Sơn Nhất, vì đã được Đại tá Mậu móc nối từ trước, Trung tá Đỗ Khắc Mai, Tham Mưu Trưởng, và Trung tá Nguyễn Cao Kỳ làm chủ tình hình. Lúc 16G00, Khiêm yêu cầu Kỳ cho hai phi cơ khu trục lên vùng, bắn vào thành Cộng Hoà hai hỏa tiễn. Binh sĩ phòng thủ phải xin đầu hàng. Khiêm cũng cho lệnh Kỳ sử dụng không lực để uy hiếp Cao. Theo Kỳ, sau khi nhận được tối hậu thư do một khu trục ném xuống Bộ Tư lệnh QĐ IV ở Cần Thơ, Cao ngừng mọi mưu toan chống đối. (Kỳ 1976:41)

Nửa giờ sau, 16G30, Hội đồng Quân Nhân Cách Mạng [QNCM] phát thanh lời hiệu triệu. Lúc này, Diệm-Nhu mới rõ sự thực. Không những chỉ có một nhóm Tướng, tá "bất mãn," "vô kỷ luật" như Minh, Kim, mà ngay cả Đính, Khiêm, và Mậu—những người một thời thân tín—đã theo phe đảo chính. Diệm bèn điện thoại cho Đại sứ Lodge, yêu cầu xác định lập trường của Mỹ.

Diệm: Vài đơn vị đang làm loạn và tôi muốn biết: Thái độ của nước Mỹ ra sao?

Lodge: Tôi không cảm thấy được thông báo đầy đủ để có thể trả lời ông. Tôi nghe tiếng súng, nhưng tôi không biết rõ mọi dữ kiện. Vả lại bây giờ là 4 giờ rưỡi sáng ở Oat-shinh-tân và chính phủ Mỹ khó thể có một quan điểm.

Diệm: Nhưng ông phải có một ý chung chung nào đó. Quan trọng nhất, tôi là chủ một nước. Tôi đã cố gắng thi hành bổn phận của mình. Tôi muốn làm những gì mà bổn phận và lẽ thường tình đòi hỏi. Tôi tin tưởng ở bổn phận trên hết.

Lodge: Ông chắc chắn đã làm bổn phận của ông. Như tôi đã nói với ông sáng nay, tôi ngưỡng mộ lòng can đảm và sự đóng góp lớn lao của ông với đất nước ông. Không ai có thể lấy đi những điều tốt ông đã làm. Bây giờ tôi lo ngại cho sự an toàn thể xác ông. Tôi được báo cáo rằng những người cầm đầu đề nghị cho ông và em ông an toàn rời nước nếu ông từ chức. Ông đã nghe chưa?

Diệm: Chưa. (Rồi sau một lúc ngập ngừng) Ông có số điện thoại của tôi.

Lodge: Vâng. Nếu tôi có thể giúp gì cho sự an toàn thể xác của ông, xin gọi tôi.

Diệm: Tôi đang cố tái lập trật tự. (FRUS, 1961-1963, IV:513)

Trong một nỗ lực tuyệt vọng, Diệm sử dụng một đài phát thanh bí mật, kêu gọi các Tướng trung thành tới giải cứu. Không ai đáp ứng. Kể cả Cao và Khánh, Tư lệnh QĐ IV và QĐ II. Cao đã bị chế ngự, đưa xuống tận Cà Mau để tiếp đón Tướng York; trong khi Khánh ngả theo đảo chính đã lâu. Tại Đà Nẵng, Đỗ Cao Trí, Tư lệnh QĐ I, cũng tập họp công chức và quân đội để cô lập họ với Thanh Niên Cộng Hoà cùng những thành phần khả nghi khác. Nếu tin được lời khai của Tướng Khánh với viên chức Mỹ vào tháng 11/1963, Trí đã ngả theo đảo chính, dù được mật lệnh phải bắt giữ  bất cứ ai muốn móc nối đảo chính.

Sau khi chiếm thành Cộng Hoà, từ 17G00, các Tướng đảo chính liên tiếp gọi điện thoại vào Dinh Gia Long, yêu cầu Diệm đầu hàng. Diệm mời các Tướng vào Dinh thảo luận, nhưng họ chưa quên bài học hoãn binh của Diệm-Nhu ba năm trước. Để uy hiếp Diệm, họ bắt Tung nói điện thoại với Diệm, thông báo đã đầu hàng. Sau đó, mang Tung và em trai đi giết.

Lực lượng theo đảo chính ngày một đông. Buổi chiều, Có cùng hai Trung đoàn của SĐ 7, và Chi đoàn Thiết Vân Xa của Lý Tòng Bá từ Mỹ Tho về tới thủ đô. Từ Cần Thơ, Cao cũng tuyên bố ủng hộ "cách mạng." Trước tình thế tuyệt vọng, khoảng 20G00, Diệm và Nhu bí mật chạy khỏi Dinh Gia Long vào Chợ Lớn tìm cách phản đảo chính; rồi tới ẩn náu ở nhà Mã Tuyên, Tổng Hội trưởng các Bang Hoa kiều.

Khoảng 21G00 tối 1/11, Minh triệu tập một phiên họp khác tại văn phòng Khiêm để kiểm điểm tình hình. Viên vẫn không chịu ngả theo đảo chính, chỉ xin được trở lại Liên Đoàn Dù. Các Tướng tá hiện diện đều đọc tên mình vào cuốn băng hiệu triệu thứ hai của Hội Đồng QNCM. Đính cũng phóng thích ngay các sinh viên, học sinh cùng số tăng ni, Phật tử bị giam tại Tổng Nha Cảnh Sát và trại Lê Văn Duyệt. Hàng chục ngàn cựu tù nhân chính trị của chế độ (kể cả các lãnh tụ đảng phái, hay học sinh, sinh viên tranh đấu) này lập tức mang theo những ngọn lửa nhiệt tình cách mạng xuống đường phố, hoặc mừng mừng tủi tủi tìm về mái ấm gia đình sau nhiều ngày tháng khổ nhục. Nhiều người còn bị tàn phế, tật bệnh vì cực hình tra tấn cùng tình trạng thiếu dinh dưỡng lâu ngày. Chỉ có một điều chắc chắn: Cho đến cuối đời, chẳng bao giờ họ hay thân nhân họ muốn vinh danh anh em Diệm-Nhu là người ái quốc hay lãnh tụ khả kính để lập kỳ đài tưởng niệm.

Khoảng 3G30 sáng ngày 2/11, Thiết giáp và các cánh quân đảo chính mở đợt tấn công mới vào Dinh Gia Long. Binh sĩ phòng thủ kéo cờ trắng đầu hàng lúc 5G00. Không thấy hai anh em Diệm và Nhu trong Dinh, Albert Thảo vội chạy vào Chợ Lớn tìm bắt, nhưng hai người đã rời nhà Mã Tuyên chạy qua nhà thờ cha Tam. Albert Thảo, một cán bộ tình báo chiến lược CS, hẳn có mục đích khác hơn lập công cho HĐ/QNCM khi truy tìm tông tích Diệm-Nhu.

Khoảng 6G45, Diệm điện thoại cho Khiêm, thông báo chỗ đang lẩn trốn, và xin che chở. Mười lăm phút sau, Đôn cho "Big" Minh địa chỉ của Diệm. Minh sai Tướng Mai Hữu Xuân, Đại tá Nguyễn Văn Quan, Đại tá Dương Ngọc Lắm, Thiếu tá Dương Hiếu Nghĩa, Đại úy Francois [Phan Hòa] Hiệp và Đại úy Nguyễn Văn Nhung đến bắt hai người về Bộ Tổng Tham Mưu. Đôn, cũng như Lodge, muốn cho anh em Diệm an toàn ra đi. Vì một lý do nào đó, khi Conein yêu cầu dàn xếp máy bay, thì được trả lời là phi cơ đủ khả năng đưa anh em Diệm qua thẳng nước xin tị nạn chỉ sẵn sàng ngày hôm sau.

Trong khi đó, trên đường dẫn giải từ nhà thờ Cha Tam về Bộ Tổng Tham Mưu, theo bản tin sơ khởi sáng 2/11 của đài phát thanh Sài Gòn, Diệm và Nhu “tự tử.” (NYT, 3/11/1963) Lời dối trá này, cùng lời biện bạch “tự tử vì tai nạn” do Trần Tử Oai đưa ra sau đó, chẳng thuyết phục được ai. Người đầu tiên lên án phe đảo chính, với sự tiếp tay của Mỹ, đã giết chết Diệm và Nhu là Lệ Xuân. Từ Beverly Hills, California, dù vết chỉ cắt mắt chưa khô, Lệ Xuân ra tuyên cáo lên án việc phản bội của Mỹ.(NYT, 3/11/1963. Xem thêm thư xin qua Mỹ để “quảng cáo cuốn hồi ký sắp ấn hành” của “Bà Ngô Đình Nhu” vào tháng 6/1964; trích in trong VNNB, Tập I-D: 1964-1968 (đang in)) Ngày 3/11, Bộ Ngoại Giao Mỹ cũng khẳng định Diệm-Nhu bị giết.(NYT, 4/11/1963) Hôm sau, Đại tá William K. Ellisco, cận vệ của Lệ Xuân, tiết lộ là một ông Tướng [André Đôn] tại Sài Gòn cho [Lệ Xuân] biết Nhu đã bị giết bằng dao.(NYT, 5/11/1963) Từ Sài Gòn,  Lodge báo cáo rằng thi hài anh em Diệm đang quàn tại nhà thương St Paul, chờ giao trả cho thân nhân. Anh em Diệm-Nhu bị bắn vào gáy; riêng thi hài Diệm có dấu tích bị xô đẩy. Theo tin từ một nhà thờ gốc Hoa, họ đang quì trong nhà thờ thì bị mang ra ngoài bắn chết, rồi bỏ vào thiết vận xa.(FRUS, 1961-1963, IV, tài liệu 290)

Ngày 4/11, đích thân Lodge gặp Minh, yêu cầu giải thích về cái chết của hai anh em Diệm. Nhưng nhiều năm trôi qua, lớp sương mù nghi hoặc còn phủ dầy quanh cái chết của Diệm-Nhu. Đại úy Nguyễn Văn Nhung, cận vệ của Minh "lớn," bị cáo buộc là thủ phạm, và bị thảm sát trong đêm “chỉnh lý” 30/1/1964. Khi được gạn hỏi về cái chết của Diệm-Nhu, Tướng Minh chỉ nói hãy hỏi André Đôn. Theo lời André Đôn, năm 1967, Thiếu tướng Quan tiết lộ chính Thiếu tá Nghĩa dùng tiểu liên bắn xả vào anh em Diệm trong thùng Thiết vận xa; và Nhung dùng dao găm bồi thêm cho chắc. Tướng Nguyễn Chánh Thi cũng cho rằng Nghĩa giết Diệm.(Tiếp xúc ngày 7/7/1992). Dẫu vậy, chưa ai có thể khẳng định tên người đã cho lệnh giết Diệm-Nhu. Ngoài ra, những lời cáo buộc Thiếu tá Nhung hay Nghĩa đã giết anh em Diệm-Nhu đưa ra những chi tiết trái ngược sự thực: Cả hai anh em Diệm-Nhu bị thiệt mạng vì bắn vào gáy, không hề có dao đâm hay dấu vết đạn tiểu liên!

Về nguyên do việc thảm sát anh em Diệm, một số người trút trách nhiệm lên người Mỹ. Có tác giả khẳng quyết chính Lodge đã ra lệnh giết—dù chẳng có một bằng chứng nào ngoài suy luận "nhổ cỏ, nhổ tận rễ." Lại cũng có tác giả phỏng đoán Lodge đã gián tiếp trao Diệm và Nhu cho nhóm đảo chính, vì có thể Diệm đã cho Lodge biết địa chỉ chỗ mình đang trú ẩn, và Lodge đã chuyển địa chỉ này cho Conein, mà không phải Diệm đã tiết lộ với Minh "lớn." Hai dữ kiện giúp đưa đến kết luận này là Diệm từng gọi điện thoại cho Lodge thêm một lần vào sáng ngày 2/11, nhưng không một tài liệu chính thức nào ghi chép; và, cách đối xử của Lodge với Cẩn: Sau ba ngày che chở cho Cẩn, Toà lãnh sự Huế đã đưa Cẩn vào Sài Gòn để Conein giao Cẩn qua HĐ/QNCM. Tuy nhiên, cho tới khi tài liệu văn khố chứng minh ngược lại, kết luận duy nhất có thể có được là cái chết của anh em Diệm-Nhu chỉ là một thứ “thiệt hại bên lề” (collateral casualties).

Việc giết Diệm-Nhu có thể chỉ vì động lực rất đơn giản như muốn xóa bỏ đi một dĩ vãng, hay chặt cắt một mối họa tâm phúc trong tương lai của những người cầm đầu cuộc chính biến. Nó cũng có thể chỉ là một quyết định đột khởi ở lúc điều binh, khiển tướng—dập tắt hy vọng "cứu chúa" của những người có tham vọng, hay còn trung thành với chủ cũ. Cũng có thể chỉ do tư thù giữa Tướng Minh với anh em Diệm-Nhu. Hoặc cả bốn nguyên do trên. Về trách nhiệm của người Mỹ, vấn đề khá phức tạp. Chưa tài liệu văn khố nào chứng tỏ Kennedy hay các cố vấn cao cấp của Tòa Bạch Cung muốn thấy Diệm chết. Theo Tướng Taylor, Kennedy luôn luôn nhấn mạnh là Diệm không thể bị trừng phạt nặng hơn việc bị lưu vong, và đã được thuyết phục hoặc tự thuyết phục rằng đảo chính sẽ không có đổ máu." Kennedy cũng xúc động mạnh khi được tin anh em Diệm bị giết. Sáng ngày 2/11, khi Forrestal vào trình công điện báo tin Diệm và Nhu đã “tự sát,” Kennedy ngồi phắt dạy, rảo bước ra ngoài phòng họp cố vấn, với vẻ mặt xúc động và giận dữ. (50)

50. Taylor, Swords and Plowshares, tr. 301; Schlesinger, Thousand Days, tr. 997-998.

Nhưng Kennedy và Lodge hẳn phải dự đoán được cái chết khó tránh của bầy ngựa ra công hãn mã chống Cộng 9 năm ở miền Nam. Nói cách khác, phải chăng việc mở rộng cửa hậu dinh Gia Long và sự hiện diện của Cao Xuân Vỹ tại đây để đưa anh em Diệm vào Chợ Lớn—một hộp thư của Nhu trong khi liên lạc với Cộng Sản—có liên hệ đến kế hoạch bảo vệ, hoặc rút lại sự bảo vệ, Diệm? Nếu anh em Diệm-Nhu tìm đến tòa Đại sứ Mỹ hay một làng Ki-tô giáo nào xin tị nạn, chờ phi cơ Mỹ đưa ra khỏi nước, có lẽ đã thoát khỏi cảnh thảm sát trước nhà thờ Cha Tam. Nhưng họ đã chọn Chợ Lớn, và nhất là nhà Mã Tuyên, một địa điểm đầy nghi hoặc. Có lẽ vì thế Lodge và các quan chức Mỹ đã rút lại sự bảo vệ. Và chỉ cần người Mỹ rút lại sự bảo vệ, anh em Diệm-Nhu không bị thảm sát mới là chuyện lạ. Họ Ngô có quá nhiều kẻ thù, mang đủ màu sắc chính trị, tôn giáo. Việc gia đình Trần Trung Dung không dám nhận thi hài Diệm-Nhu để lo việc tang ma, hay các Tướng tá không dám tiết lộ huyệt mộ của họ suốt bao năm sau phải chăng vì lo sợ sẽ có người đào mộ họ lên mà  trả thù—như Ngô Đình Khả và Nguyễn Thân từng đào mộ lãnh tụ Cần Vương Phan Đình Phùng, rồi đốt thành tro, bắn xuống sông Lam năm 1896?(51)

51. Tác giả Trần Trọng Kim, trong cuốn Việt Nam Sử Lược, nhắc đến “lời chứng” của một vị quan lớn đã về hưu rằng không có việc trừng phạt này.(VNSL, II:341) Tuy nhiên, nhân chứng của học giả Kim không đáng tin cậy bằng chính báo cáo của Khâm sứ Pháp. Xem Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối, tập II, tr. 602. Nguyễn Văn Hòe, người từng theo Ngô Đình Khả ra Quảng Bình vây đánh phong trào Cần Vương của Phan Đình Phùng, cũng xác nhận việc nhóm Thân-Khả tung xác Phan Đình Phùng đi tứ phương theo “hình phạt truyền thống.” Người học sử lương thiện phải biết dè dặt khi sử dụng truyền khẩu sử, nhất là với những lời chứng của các “quan lớn” phục vụ Pháp.

Dù đích thân Tướng Minh đã cho lệnh Đại úy Nhung hạ sát như các Tướng Đính và Khánh khẳng quyết, hay tất cả các Tướng đều đồng ý “nhổ cỏ, nhổ tận rễ” để ngừa hậu hoạn đều là chuyện phụ.(52)

52. Đính, 1998, tr. 454-455. Ngày 18/8/2001, qua một e-mail cho tác giả, Tướng Nguyễn Khánh tiết lộ đích thân Tướng Minh mật lệnh cho Đại úy Nhung hạ sát anh em Diệm-Nhu. Nguồn tin này, theo ông Khánh, là do các Tướng Đà Lạt (Đôn, Xuân, Kim, Vỹ, Đính) khai báo năm 1964. Tưởng nên ghi thêm, ngày 26/5/1964 Đại sứ Lodge viết thư cho Ngoại trưởng Rusk, thông báo rằng ngày hôm trước, 25/5/1964, Khánh nói với Lodge rằng khi Diệm bị bắn chết trong tay có một cặp da đựng một triệu Mỹ kim tiền mặt, giấy lớn. Khánh nói Tướng Minh đã giữ số tiền trên, nhưng không giao lại [cho Khánh]. Khánh thêm rằng Minh còn lấy 40 ki-lô vàng [của Bình Xuyên năm 1955]. Lodge khuyên Khánh đừng công bố tin này, sợ dư luận sẽ mất tin tưởng ở các Tướng. Khánh hy vọng rằng Tướng Minh sẽ lặng lẽ rút lui. (FRUS, 1964-1968, tài liệu 176; in lại trong Chính Đạo, VNNB, I-C:1955-1963, tr. 139)

Trên khía cạnh nên hay không nên giết Diệm-Nhu, đã có nhiều cuộc tranh luận gay go, đưa đến những lời nhục mạ cá nhân đầy ác ý. Thực ra, mối quan tâm về hai cái chết này—ngoài những mưu toan chính trị—thuần do sự độ lượng truyền thống của người Việt, một dân tộc văn minh nông nghiệp hàng ngàn năm, không đủ ác tâm hớn hở vỗ tay nhìn thây ma đẫm máu của một đồng loại (nói chi cảnh tượng tăng ni, Phật tử tự hoá thân cho Phật pháp, hay tín đồ Ki-tô giáo chấp nhận chém đầu hơn bước qua thập tự giá). Trong những giờ phút cực kỳ hân hoan của ngày 2/11, không ai, kể cả những nạn nhân tội nghiệp của chế độ suốt 9 năm dài, đủ nhẫn tâm bắt chước Lệ Xuân để tuyên bố sẵn sàng vỗ tay hay tặng một lưỡi dao hầu đâm thêm vào xác chết Diệm-Nhu. Những người bi phẫn, căm hận nhất cũng chỉ nói đến luật nhân-quả. “Sung chín thì rụng,” vài sĩ quan cao cấp của chế độ nhận định.(53)

53. Người thích dùng lối diễn tả này nhất là Tướng Phạm Xuân Chiểu, và một Thiếu tướng yêu cầu được giữ kín tên.

Dù tội ác vi phạm nhân quyền [crimes against Human rights] của họ Ngô suốt chín năm cầm quyền—đặc biệt là những cuộc tấn công chùa chiền, đàn áp các đoàn biểu tình, tra tấn, bắt giữ mà không đưa nghi can ra xét xử—ngàn năm sau hậu thế cũng khó tha thứ.

Về phần những người còn lại của họ Ngô, ngày 3/11, Luyện từ chức Đại sứ Bri-tên. Sau đó, định cư tại Pháp. Ngày 4/11, tại Roma, Paul VI gửi lời chia buồn với Thục.(NYT, 5/11/1963) Tại Huế, ngày 6/11, Cẩn bị dẫn giải về Sài Gòn, chờ ngày xét xử nhiều tội trạng, kể cả tội thủ tiêu Nguyễn Văn Yến, một thương gia giàu có miền Trung. Gia tài của "cậu," theo lời đồn, lọt vào tay Raymond Khánh, Trí và Trần Văn Minh. HĐ/QNCM cũng vội vã cho đổi tên khúc đường dẫn ra phi trường, từ “Ngô Đình Khôi” thành "Cách Mạng 1/11/1963." Phần Lệ Xuân, ngày 4/11, từ Beverly Hills gửi thư cho Ngoại trưởng Rusk, xin cho ba con được đoàn tụ tại Los Angeles. Sài Gòn chỉ đồng ý đưa ba con Lệ Xuân—15, 11, và 4 tuổi—qua Roma. Ngày 6/11, Lệ Xuân rời Mỹ sang Roma đoàn tụ gia đình. Cùng đi có Lệ Thủy, con gái lớn, và Nguyễn Thị Thuần, thư ký. (NYT, 5/11/1963) Trước ngày Lệ Xuân lên đường, cựu Đại sứ Chương ghé thăm con gái tại Beverly Hills vào sáng ngày 4/11, nhưng không bị Lệ Xuân xiết chặt giây treo cổ cho xác đong đưa trong công viên như Nhu từng đe dọa. Những người đàn bà và con trẻ còn sót lại của họ Ngô chìm lãng dần theo thời gian.

flash-5sac.gif (367 bytes) đọc tiếp phần VII: Kết từ và phần Phụ bản

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........