curley_sw.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw.gif (1967 bytes)

.......... .

 

Mùa Phật Đản Đẫm Máu (tiếp theo)

Chính Đạo

VII. Kết từ:

Cuộc chính biến 1/11/1963 – dù có nguyên nhân quan trọng là cuộc tranh đấu của tăng ni, Phật tử - nằm trong một sách lược chung của Liên Bang Mỹ.

"Sức mạnh" của Phật giáo đã được khuyếch đại lên, không vì quyền lợi Phật giáo Việt Nam nói riêng, hay quyền lợi quốc dân Việt nói chung. Trong suốt 30 năm máu lửa từ sau Thế chiến thứ II (1939-1945), quyền lợi quốc dân Việt chẳng bao giờ được những người hoạch định sách lược của Mỹ quan tâm. Anh em Diệm-Nhu-Thục-Cẩn, hay nhóm quân phiệt thay thế Diệm, hoặc chế độ "Diệm mà không có Diệm" từ năm 1968, chỉ là những công cụ bản xứ của các chính phủ Mỹ. Người Việt không có tiếng nói quyết định nào trong việc thiết lập, duy trì hay thay thế họ. Đây là lỗi lầm chiến lược của Mỹ trong việc can thiệp vào Việt Nam cũng như Trung Hoa trong thập niên 1940: Dùng một thiểu số Ki-tô và quân phiệt làm cai thầu cai trị một xã hội cổ thời đang hừng hực cơn sốt bạo lực cách mạng. Bom đạn Mỹ có thể tiêu hủy làng mạc, ruộng đồng, nhưng khó thể hủy diệt được khát vọng chính đáng đòi độc lập, tự chủ của đa số người Việt. Nếu không phải là siêu cường Mỹ, miền NamViệt Nam khó thể tồn tại tới năm 1975.

Kết cuộc bi thảm của Diệm-Nhu cũng là tấm gương ố máu cho người Việt soi chung. Những thành tích của anh em Diệm-Nhu từ 1954 tới 1963 chỉ là thành tích ảo tưởng, vay mượn. Từ Paris về nước ngày 25/6/1954, Diệm chẳng có gì khác hơn hai bàn tay trắng, và quyết tâm chống Cộng. Thế giá của Diệm, dưới mắt người Mỹ, chỉ có vậy—chống Cộng. Mọi thứ khác—tiền bạc, vũ khí, kế hoạch và chuyên viên—đều do Mỹ cung cấp. Để giúp Diệm chống Cộng, người Mỹ đã làm tất cả những gì có thể làm—nào chống lại ý muốn đòi loại bỏ Diệm của Pháp và Bảo Đại; nào huấn luyện, tái tổ chức và trang bị quân đội, cảnh sát quốc gia; nào xây dựng những thế lực chính trị bản xứ, kể cả việc đưa hơn 800,000 người Bắc vào Nam; và giúp khai sinh cả Đảng Cần Lao.(54)

54. Theo Lansdale, Đảng Cần Lao do Bộ Ngoại Giao Mỹ bảo trợ [năm 1954], và là đứa con tinh thần của một viên chức ngoại giao Mỹ. Vài tuần sau khi biết việc này, Lansdale đã cảnh cáo về mối nguy hại lâu dài của nó; nhưng vô hiệu. Lansdale nhận xét: Sau này, nhiều viên chức Mỹ đả kích Cần Lao, nhưng người ta quên rằng sau khi giúp lập nên một chế độ phát xít, cách nào có thể giận dữ khi thấy nó không có vẻ dân chủ; Phiếu trình ngày 17/1/1961, Lansdale gửi Bộ trưởng QP; US-Vietnam Relations, 11:9. Về Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia, trong buổi họp báo ngày 22/1/1956, tổ chức này tự nhận đã thành lập từ năm 1933; Thêm, 20 năm, tr. 189.

Sau 9 năm cầm quyền, Diệm khiến mục tiêu chống Cộng của Mỹ ngày thêm xa vời, biểu hiện những dấu hiệu thất bại. Trong khi đó, những ngọn lửa sinh đăng của các tăng ni, máu và nước mắt của các Phật tử trong mùa Hè 1963 chấn động dư luận Mỹ và lương tâm nhân loại. Những lời cáo buộc phong trào tranh đấu của Phật giáo là Cộng Sản, bị Cộng Sản xúi dục, hay do tham vọng của các nhà sư thích làm chính trị, và ngay cả lời miệt thị những cuộc tự thiêu là "nướng thịt sư," hay CIA và báo chí Tây phương đã xúi dục, khích động dân chúng chống đối chỉ khiến uy tín chế độ Diệm băng hoại dần.(55)

55. Trong buổi tiếp kiến Đại sứ Lodge vào ngày Thứ Hai, 9/9/1963, Diệm còn cáo buộc nhiều ngôi chùa đã biến thành "nhà chứa" (bordellos), cảnh sát tìm thấy quần áo lót đàn bà, hình ảnh khiêu dâm, một nhà sư đã phá trinh tới 13 thiếu nữ. Thuộc hạ Diệm mới chỉ tấn công “vài ba chục chùa” trên tổng số 4700 chùa. Phải tấn công chùa Xá Lợi vì những thành phần khiêu khích ném đồ vật lên đầu khách đi đường. Phần học sinh, sinh viên bãi khoá vì họ là Cộng sản và hiện chỉ giữ “70 tù nhân” tham dự biểu tình. Giọng lưỡi của Diệm khiến Lodge nhận xét rằng Diệm nặng mang tinh thần [thập tự giáo] Trung cổ; FRUS, 1964-1968, IV:Tài liệu 77.

Tuy nhiên, những chiếc đinh cuối cùng đóng lên nắp quan tài Đệ nhất VNCH chính là việc hai anh em Diệm-Nhu tự biến họ thành những phần tử mà guồng máy tuyên truyền miền Nam thường lên án là "phiến Cộng" ngay tại Dinh Gia Long. Ý định ve vãn (flirtation, theo chữ của McNamara, Taylor và Hilsman) Hà Nội này khiến chính phủ Kennedy—qua một nhân vật lãnh đạo hàng đầu của Đảng Cộng Hoà ở Toà Đại sứ  Sài Gòn—quyết định rút lại sự yểm trợ hầu như không điều kiện của Mỹ. Dù "ngựa mới" hay hoặc dở, với Lodge và Kennedy, Diệm đã hết. Sống cũng như chết.

Dù dùng danh xưng nào đặt tên cho cuộc chính biến 1/11/1963—"cách mạng" như phe quân đội sính dùng, hay "đảo chính" như những người trung dung thường gọi—có một sự thực khó chối cãi: suốt 30 năm dài, quốc dân Việt đã bị đẩy đưa vào hai đường hầm đầy độc khí, chia phe thảm sát nhau chỉ vì quyền lợi và mục tiêu chiến lược của các siêu cường. Sự vinh hiển hay những cảnh tượng bi thảm của những người được ủy thác cầm quyền ở cả hai miền Bắc và Nam, so với chiều dài vô cùng tận của lịch sử, chỉ tựa lớp bọt biển, mỗi sớm, mỗi chiều bị xô giạt lên những bãi cát.

Chính Đạo

(Trích: Tôn Giáo & Chính Trị: Phật Giáo, 1963-1967, tái bản có bổ sung)

Phụ Bản:

Mùa Phật Đản Đẫm Máu

Thứ Hai, 28/10/1963:
* Sài Gòn: Nhu phát động chiến dịch đả kích Mỹ.
Thứ Hai, 28/10/1963:
* Sài Gòn: Bùi Diễm, "một tay Đại Việt thời cơ," yêu cầu nhân viên Mỹ cho gặp Conein để làm gạch nối trong trường hợp liên hệ với các Tướng bị cắt đứt.
Diễm thường gặp Lê Văn Kim, và là môi giới giữa Phan Huy Quát cùng các Tướng lãnh. (FRUS, 1961-1963, IV, Tài liệu 228)
* Washington, DC: Taylor cử Krulak tới gặp Dân biểu Zablocki của Wisconsin. Zablocki mới hướng dẫn một phái đoàn Dân biểu qua thăm Nam Việt Nam trong 3 ngày rưỡi. Theo Zablocki không thấy một ai có thể thay Diệm. Không đề cập gì đến vấn đề Phật giáo, coi đó như vấn đề "chính trị." (FRUS, 1961-1963, IV, tài liệu 222)
Thứ Ba, 29/10/1963:
* Sài Gòn:  Lodge báo cáo về diễn tiến kế hoạch đảo chính: Âm mưu đảo chính của nhóm Phạm Ngọc Thảo và những người khác tạo bất lợi cho kế hoạch của các Tướng. Đã có nỗ lực móc nối các chính khách. Bùi Diễm báo cáo mình là liên lạc giữa Lê Văn Kim với những người như Đặng Văn Sung, Phan Huy Quát. Trần Trung Dung cũng có vẻ biết đến âm mưu đảo chính, mặc dù phủ nhận. Mỹ không dính líu vào cuộc đảo chính, chỉ không ngăn chặn nó. Dù đảo chính thành công hay thất bại, Mỹ phải sẵn sàng gánh chịu lời phê bình. (IV, tài liệu 226)
* Honolulu: Bộ Tổng Tư lệnh Thái Bình Dương cho lệnh Hải và Không lực chuẩn bị di tản kiều dân Mỹ khỏi Việt Nam, nếu cần.
* Washington, DC, 16G20 [5G20 ngày 30/10/1963 VN]: Phiên họp đặc biệt tại Bạch Cung về Việt Nam. Colby, Giám đốc CIA Viễn Đông, mở đầu bằng tường trình về Việt Nam. Theo Colby, lực lượng trung thành và muốn làm đảo chính ngang ngửa nhau, mỗi phe khoảng 9,800 và khoảng 18,000 trung lập. Thay đổi duy nhất so với tháng 8/1963 là hai tiểu đoàn TQLC nghiêng về phía Diệm. Có hai loại người chủ trương đảo chính: Thành phần Cần Lao bất mãn, và các Tướng. Họ có liên lạc, nhưng không chặt chẽ.
Kennedy có vẻ không tán thành đảo chính; nhưng cho Lodge toàn quyền quyết định. Lodge cần về Washington tham khảo. (FRUS, 1961-1963, IV, tài liệu 234, 235)
- 19G22: Bundy chỉ thị Lodge phải thông báo cho Harkins biết rõ chi tiết cuộc đảo chính. Phe đảo chính cũng phải chứng minh là có thể chiến thắng nhanh chóng. (FRUS, 1961-1963, IV, tài liệu 236)
- Tướng Taylor, Tổng Tham Mưu trưởng Liên Quân, yêu cầu Harkins báo cáo về liên hệ với Đại sứ Lodge.
- CIA cho lệnh Sở CIA Sài-gòn báo cáo về các đơn vị trung thành với Diệm. (FRUS, 1961-1963, IV, tài liệu 237)
Ngày 1/11/1963, lúc 13G00, Sở CIA Sài-gòn báo cáo:
 1. LĐPVPTT: 2 tiểu đoàn, gồm 2500 người. Có 18 thiết giáp M-24, 4 TVX M-114, 4 TVX M-113. Thiếu kinh nghiệm chiến đấu. Được coi như trung thành, dù Đôn tuyên bố 1 đại đội bất mãn; trong khi Albert Thảo và Trần Kim Tuyến cho rằng có 2 đại đội không trung thành.
2. Liên Đoàn Nhảy Dù: Gồm 6 tiểu đoàn, khoảng 4800 lính. Hai tiểu đoàn ở Biên-hòa, 4 tiểu đoàn trong Biệt khu Thủ đô. Theo Đôn, một nửa theo đảo chính; Tuyến cho rằng các TĐ 5, 1, 6 và 8 không trung thành. Nhiều sĩ quan bất mãn; nhưng lòng trung thành của Cao Văn Viên có những báo cáo trái ngược nhau.
Theo CIA Sài-gòn [viết tắt CAS], Tiểu đoàn trưởng 3, 5, 7 và 8 Dù thân thiết với Thiếu tá Hồ Tiêu, Chỉ huy phó Liên đoàn, chắc chắn sẽ theo đảo chính. Tuy nhiên, BCH/TĐ 3 kém, và có thể không tham dự. Trần Kim Tuyến tổ chức TĐ 7. BCH TĐ 1 và 7 bày tỏ sự chống đối chế độ với các cố vấn. CIA Sài-gòn không đồng ý với Tuyến về TĐ 6: TĐ này trung thành với chế độ, và Tiểu đoàn trưởng sắp bị thay ngày 31/10/1963. Ngày 31/10 này, vị trí các TĐ Dù như sau: TĐ 1 ở Hậu nghĩa; TĐ 3 cấm quân ở Tân Sơn Nhất; TĐ 5 và 7 ở Bình-dương; và TĐ 6 huấn luyện tại Vũng-tàu.
3. Thủy Quân Lục Chiến [TQLC]: Gồm 4 tiểu đoàn, 4500 người. TĐ 1 và 3 ở Sài-gòn; 2 và 4 ở vùng IV. Lập trường Trung tá Lê Nguyên Khang không rõ. Chiến đoàn 2 ở Mỹ-tho có vẻ nghiêng về đảo chính. Theo CAS, TĐ 2 và 3 ở Sài-gòn, TĐ 1 và 4 hành quân ở Bình-dương. Lê Nguyên Khang bắt đầu chống chế độ từ ngày đàn áp Phật giáo, và đang chờ đợi đảo chính, dù có thể ngồi ngoài. Đại úy Mã Viết Bằng, TĐT/TĐ 3, và Trần Văn Nhựt, TĐT/TĐ 1, nghiêng về đảo chính.
4. Thiết Giáp: Ngoài đơn vị ở Phủ Tổng thống, tại Sài-gòn có Trung đội 2 của Đại đội 1, Thiết đoàn 2 (5 chiến xa M-24) ở Tân Sơn Nhất; Trung đội 3, đại đội 1, Thiết đoàn 2 (5 xe M-24) tại Bộ TTM; 2 TVX M-113, 2 M-24 và 6 M-8 tại Bộ Chỉ Huy Thiết đoàn 1 Gò-vấp; Đại đội 5 Cơ giới của Thiết đoàn 1 trong vùng Sài-gòn; 10 chiến xa của Thiết đoàn 1 tại vùng Sài-gòn, 5 chiến xa ở Biên-hòa, và 15 Thiết vận xa M-113 ở Gò-vấp. Đại đội 5 Cơ Giới đã theo Thiếu tá Nguyễn Văn Tư, Trung đoàn trưởng TrĐ 8 ở Bình-dương. Chỉ huy trưởng trường TG ở Long-hải hứa sẽ đóng góp từ 40 tới 50 xe.
Một sĩ quan cao cấp của BCH Thiết Giáp nói sẽ đích thân dẫn Thiết đoàn 1 và một phần của đơn vị Thiết Giáp thuộc LĐPVPTT tham dự đảo chính.
5. Lực Lượng Đặc Biệt [LLĐB]: Có khoảng 1200 người. Do Trung tá Lê Quang Tung chỉ huy. [Lê Quang Tung thuộc Quân ủy của Đảng Cần Lao]
Một số sĩ quan LLĐB bất mãn với chính phủ; nhưng trên đại thể, họ được coi như trung thành với chế độ. Hiện 4 đại đội LLĐB không có ở Sài-gòn.
6. Cảnh Sát: 4500 cảnh sát sắc phục; và, 800 cảnh sát chiến đấu. Theo CAS, lực lượng Cảnh sát không có tính cách quyết định.
7. Sư đoàn 5 BB: Đại tá Nguyễn Văn Thiệu chỉ huy. 9200 người. Cả Tuyến và nhân viên CAS ghi nhận Thiệu tham gia đảo chính.
8. Sư Đoàn 7 BB: Đại tá Bùi Đình Đạm có thể tham gia đảo chính, nhưng không chắc. 9200 người.
CAS cho rằng Đạm nhu nhược và không hết lòng. Trung tá Nguyễn Văn Tư khá hơn. SĐ 7 chỉ có 3 tiểu đoàn lưu động.
9. Không quân: Không có yếu tố quyết định trong đảo chính. CAS cho rằng Đại tá Hiền trung thành, nhưng nhóm Nguyễn Cao Kỳ và Đỗ Khắc Mai có thể nắm quyền chỉ huy. CAS cho rằng lực lượng KQ rất quan trọng trong việc đánh chiếm Dinh Gia Long, hoặc ngăn chặn lực lượng tăng viện pgản đảo chính từ Vùng IV. [Cho tới 1 giờ chiều ngày 1/11/1963, Đôn vẫn chưa báo cáo kế hoạch hành quân hay các đơn vị tham dự. (FRUS, 1961-1963, IV, Tài liệu 254)]
Thứ Tư, 30/10/1963:
* Sài Gòn: Harkins gửi cho Oat-shinh-tân 3 công điện, giận dữ phản đối thái độ của Lodge khi dấu kín ông ta mọi sự. Harkins không muốn "thay ngựa" quá mau.
- Kế hoạch đảo chính Diệm bị tạm thời đình hoãn; nhưng sau đó lại tiến hành.
Thứ Năm, 31/10/1963, Buổi chiều:
* Sài Gòn: Đôn tới Bộ Tư lệnh Quân đoàn III gặp Đính.
Trước đó, Đại tá Lâm Văn Phát, đã được Diệm phong làm Tư lệnh Sư Đoàn 7, lúc này sắp được sát nhập vào QĐ IIỊ Đính từ chối tiếp kiến Phát, hẹn vào một bữa khác. Trong khi đó, Đính sai Nguyễn Hữu Có xuống Mỹ-tho nắm Sư Đoàn 7, để nếu cần chặn đường tiến về thủ đô của lực lượng Quân Đoàn IV của Thiếu Tướng Cao, một thủ hạ trung thành của Diệm.(NYT, 14/9/1964) Theo Tôn Thất Đính, Phát bị nhóm sĩ quan tham mưu của Nguyễn Hữu Có bắt giữ. (Đính 1998, tr. 437) Phần Đính, mãi tới đêm ngày 31/10/1963 mới được lệnh từ Đà-lạt về Sài-gòn. (Đính 1998, tr. 440-1)
- 17G40: Lodge báo cáo về các nhóm đảo chính. Đáng chú ý nhất là nhóm các Tướng, và nhóm Thảo/Lang. Nếu nhóm Tướng ra tay trước họ sẽ thành công. Các Tướng không muốn nối kết với Thảo vì nghi ngờ Thảo, nhưng họ muốn lợi dụng nhóm Thảo/Lang. (IV, tài liệu 250)
* 24G00: Ranh giới mới của hai quân khu III & IV bắt đầu có hiệu lực.
Khu Tiền Giang và Sư đoàn 7 thuộc về Quân khu III của Tôn Thất Đính.
Thứ Sáu, 1/11/1963:
- 8G30 sáng: Đính điện thoại cho Đôn, cảnh cáo hãy coi chừng Khiêm. Một lúc sau, Khiêm tới nói đã lấy dầu nóng bôi vào mắt để giả khóc, yêu cầu Đính đừng đảo chính, hầu thử lòng Đính.
- 11G30: Đôn ra phi trường tiễn Đô Đốc Felt.
- 12G00:  Đôn trở về Bộ Tổng Tham Mưu, mọi người đã tề tập đông đủ.
"Big" Minh cho biết đã ra lệnh đảo chính sớm hơn vì Đại Tá Hồ Tấn Quyền, Tư lệnh Hải Quân, đã bị giết.
- 13G30: Cuộc đảo chính bắt đầu.
Lê Quang Tung (Tư lệnh Lực Lượng Đặc Biệt), Cao Văn Viên (Tư lệnh Dù), Lê Nguyên Khang (Tư lệnh TQLC), Chỉ huy trưởng Dân Vệ, Chỉ huy trưởng Cảnh sát Đô thành bị cầm tù trong Bộ Tổng Tham Mưu vì phản đối. Tại Tân Sơn Nhất, Trung tá Nguyễn Cao Kỳ yêu cầu Đại tá Huỳnh Hữu Hiền đầu hàng. (FRUS, 1961-1963, IV, tài liệu 253)
- 13G45: Đôn điện thoại cho Tướng Stilwell, thông báo bắt đầu làm đảo chính. (FRUS, 1961-1963, IV, tài liệu 251)
- 14G00: Quân đảo chính, gồm 2 tiểu đoàn Dù, 2 tiểu đoàn TQLC và 30 thiết giáp, chiếm lĩnh hầu hết các cơ sở quan trọng: Ty bưu điện, đài phát thanh, Tổng nha Giám đốc Cảnh Sát, phi trường, Bộ Tư lệnh Hải quân, v.. v...
- 15G00: Sư Đoàn 5 của Nguyễn Văn Thiệu cùng chiến đoàn Vũng-tàu (gồm 1 tiểu đoàn Dù, 1 Trung đoàn của Sư Đoàn 7 [5?] và một số chiến xa của Trường Thiết Giáp) do Trung tá Vĩnh Lộc chỉ huy từ Vũng-tàu kéo về, bao vây Dinh Gia Long và Thành Cộng Hoà.
Lâm Văn Phát tình nguyện xin chỉ huy chiến đoàn Vũng-tàu. Đính chấp thuận.
- 15G15: Hai chiến đấu cơ AD-6 xuất hiện trên không phận Sài-gòn, khoảng 10,000 bộ.
- 15G30: Diệm điện thoại cho Đôn, được Đôn thông báo tin đảo chính; và yêu cầu lên đài phát thanh tuyên bố đầu hàng.
Nhu và Diệm cố gắng liên lạc với Đính, nhưng không có hồi âm.
- Giao tranh gần Dinh Gia Long.
Pháo binh SĐ 5 cũng pháo kích liên tục thành Cộng Hòa, do Liên Đoàn Phòng Vệ Phủ Tổng Thống trấn giữ.
- Từ Bộ TTM, Conein báo tin Dinh Gia Long gửi công điện cho SĐ 21, QĐ II và I, cho biết đang có đảo chính, nhưng những kẻ phản loạn đã bị bắt giữ. (IV:511)
- 16G00: Kỳ cho lệnh hai phi cơ khu trục T-28 bắn hoả tiễn vào Thành Cộng Hoà.
[Khoảng 17G00, các binh sĩ đồn trú đầu hàng].
-  Lodge báo cáo các tướng lãnh từ chối giao tối hậu thư trực tiếp cho Dinh Gia Long, và nhờ Tòa Đại sứ giúp sức. Lodge dự định nhờ đại diện Roma làm trung gian. (Ibid., tài liệu 256)
- Các Tướng lãnh thay phiên nhau điện thoại cho Diệm. Theo Đôn, Nhu khuyên Diệm không từ chức. Theo Lodge, điều này chứng tỏ Nhu là "một thiên tài ác quỉ trong đời Diệm." (FRUS, 1961-1963, IV:559)
- 17G00: Tòa Đại sứ báo cáo: Theo lời Conein, các Tướng đảo chính liên tiếp gọi điện thoại yêu cầu Diệm đầu hàng. Diệm từ chối nghe điện thoại, giao cho Nhu thương thuyết. "Big" Minh, Nguyễn Văn Là, Tám, Trần Tử Oai, và Ngọc (?), rồi Đại tá Hoàng Xuân Lãm, Trung tá Khang, Trung tá Khương đều nói chuyện với Nhu. Để uy hiếp, các Tướng bắt Tung nói chuyện điện thoại với Nhu, thông báo đã bị bắt. Sau đó, mang Tung đi giết. Minh nói với Nhu nếu không đầu hàng trong vòng 5 phút, sẽ cho lệnh oanh tạc dinh Gia Long. Sau đó, Minh cắt điện thoại. (FRUS, 1961-1963, IV, tài liệu 258)
- Diệm ra hiệu triệu kêu gọi các Tướng lãnh và quân sĩ trung thành tới giải cứu.
Không ai đáp ứng.
- 17G10: Đài phát thanh loan tin Diệm đã từ chức.
- 17G15: Minh lại gọi điện thoại cho Diệm.
Diệm gác máy, không tiếp chuyện. Đây có lẽ để trả lời cho bản tuyên cáo trên đài phát thanh. (FRUS, 1961-1963, IV, tr. 512n2)
- 18G25: Harkins báo cáo dân chúng kéo ra đầy đường.
Lính Mỹ được lệnh không xuất hiện trên đường phố. (IV, tài liệu 267)
- 18G53: CAS báo cáo theo Big Minh, các đơn vị bắt đầu tấn công dinh Gia Long; hy vọng chiếm dinh lúc 19G00.
Các Tướng hy vọng Mỹ sẽ công nhận chế độ mới càng sớm càng tốt. Quân đội chỉ nắm quyền vài ba ngày, sau sẽ bàn giao cho dân sự. Nỗ lực chuyển giao cho dân sự trong 1 tuần lễ.
- 20G00 [21G00?]: Diệm và Nhu được Cao Xuân Vỹ, lãnh tụ Thanh Niên Cộng Hoà (5 sao), lái xe khỏi Dinh Gia Long.
Liên lạc tư dinh Đại tá Cao Văn Viên, Tư lệnh Nhảy Dù, xin bảo vệ nhưng bị từ chối. Hai anh Diệm sau đó vào Chợ-lớn; tới ẩn náu ở nhà Mã Tuyên, Phó thủ lãnh TNCH (4 sao), cũng một "trùm" người Việt gốc Hoa. Sau đó, Vỹ bỏ đi gọi điện thoại (?). Mã Tuyên đưa Diệm và Nhu sang nhà thờ cha Tam. (Phỏng vấn điện thoại Huỳnh Văn Lang, 8/1999)
Theo Tôn Thất Đính, Đính, Khiêm và Đôn đã mở cho Diệm và Nhu một lối thoát để chạy khỏi Dinh Gia Long. (Đính 1998, tr. 445) Nhưng Diệm và Nhu lại chọn nhà Mã Tuyên, nơi bị tình nghi là trung tâm liên lạc với Cộng Sản. (Ibid., tr. 443-4)
Theo Trần Văn Đôn nói với Lodge, Diệm đã trốn khỏi Dinh Gia Long, tới một địa điểm đã chọn sẵn trong Chợ-lớn, từ đây có thể điện thoại và liên lạc với bên ngoài. Đôn và những người chủ trương đảo chính đều muốn cho Diệm và Nhu rời nước. Bởi thế đã cung cấp thiết vận xa đón họ hầu tránh cảnh họ bị dân chúng xử tử bằng bạo lực đám đông. (FRUS, 1961-1963, IV:559)
- 21G00: Pháo binh và thiết giáp đảo chính bắn phá thành Cộng Hoà và Dinh Gia Long.
* Cà-Mau: Từ khoảng 11G00, Huỳnh Văn Cao phải tiếp một phái đoàn Ngũ Giác Đài Mỹ từ Sài-gòn xuống, do Tướng York hướng dẫn. (Cao 1992:109-110)
Sau đó, bay về Cần-thơ.
* Cần-Thơ: Cao liên lạc với Hội đồng tướng lãnh. (Cao 1992, tr. 111)
- Tối: Cao ra tuyên cáo ủng hộ cách mạng. (Cao 1992, tr. 112)
* Hà-Nội: Đài Tiếng Nói Việt Nam nhận định:
Cuộc đảo chính do Mỹ tổ chức, một khi đã giải quyết xong Ngô Đình Diệm, muốn tăng gia sự kiểm soát miền Nam để gia tăng cường độ cuộc chiến tranh xâm lược mà chúng đã thất bại nặng nề.
Thứ Bảy, 2/11/1963:
- 3G00 sáng: Đôn được thông báo anh em Diệm Nhu đã tẩu thoát khỏi Dinh Gia Long.
- 3G30: Thiết giáp lại tấn công Dinh Gia Long.
- 5G00: Dưới áp lực của các cánh quân dưới quyền Phạm Ngọc Thảo, Dinh Gia Long kéo cờ trắng đầu hàng.
- 6G20: Đại úy Đỗ Thọ thông báo cho Đỗ Mậu biết rằng Diệm và Nhu đã mất tích. (Mậu 1993, tr. 633)
- Theo tin MACV, Diệm gọi điện thoại cho Đôn lúc 6G20, đề nghị được đầu hàng trong danh dự. Diệm xin được an toàn tới phi trường và rời nước cùng Nhu. Minh đồng ý và dàn xếp ngưng bắn tại Dinh Gia Long. (FRUS, 1961-1963, IV:525n2)
- Thảo chạy vào Chợ-lớn tìm bắt Diệm-Nhu trong các biệt thự ở Chợ-lớn và Sài-gòn, và rồi tư gia Mã Tuyên, nhưng hai người đã rời qua một chỗ trú ẩn khác.
- 6G40: Theo công điện của MACV, Diệm và Nhu đã bị bắt. (FRUS, 1961-1963, IV, tr. 525n3)
- 6G45: Diệm điện thoại cho Khiêm, thông báo chỗ đang lẩn trốn, và xin che chở. (?)
- 7G00: Đôn báo cho "Big" Minh biết chỗ trú ẩn của Diệm.
Minh sai Tướng Mai Hữu Xuân, Đại tá Nguyễn Văn Quan, Đại tá Dương Ngọc Lắm, Thiếu tá Dương Hiếu Nghĩa, Đại úy Francois [Phan Hòa] Hiệp, và Đại úy Nguyễn Văn Nhung, cận vệ của Minh, đến mang về Bộ Tổng Tham Mưu.
Đỗ Mậu chống lại việc giết Diệm. Nguyễn Ngọc Lễ nói "nhổ cỏ phải nhổ tận rễ." Phạm Xuân Chiểu cũng từng có ý kiến tương tự. (Mậu 1993, tr. 634)
- Đài phát thanh loan tin Cách Mạng đã chiếm được Dinh Gia Long.
- 8G30: Diệm và Nhu bị giết khi Mai Hữu Xuân dẫn giải từ nhà thờ Cha Tam về Bộ Tổng Tham Mưu.
Tuy nhiên, đài phát thanh Sài-gòn loan tin Diệm và Nhu tự tử. (NYT, 3/11/1963)
Theo André Đôn, Minh có lẽ là thủ phạm. Sau này, Thiếu Tá Nhung, cận vệ của Minh và bị tình nghi là giết anh em Diệm, "treo cổ" tự tử trong ngục. Theo lời Đôn, năm 1967, Đại tá Nguyễn Văn Quan tiết lộ chính Nghĩa dùng tiểu liên bắn xả vào anh em Diệm trong thùng Thiết vận xa; Nhung dùng dao găm bồi thêm cho chắc.
Tướng Đính ghi nhận Minh có kế hoạch giết Diệm, và Đại úy Nhung là thủ phạm. (Đính 1998, tr. 454-5) [Xem 4/11/1963]
- 12G00: Lodge báo cáo dân chúng trên đường phố vui mừng hơn cả lễ Tết. Trên đường Lodge tới Tòa Đại sứ, dân chúng vỗ tay hoan nghênh. Xe tăng được dân chúng choàng vòng hoa, và các binh sĩ được dân chúng khen ngợi, cổ võ. Tại công trường Mê Linh, có tượng Hai Bà Trưng phỏng theo khuôn mặt hai mẹ con Lệ Xuân, đám đông đang tranh nhau phá tượng. (FRUS, 1961-1963, IV, tài liệu 270; Mậu 1993, tr. 634-5)
- 16G00: "Big" Minh sai Đôn và Kim qua gặp Đại sứ Lodge. Lodge cho biết chính phủ Kennedy ủng hộ chính phủ "cách mạng." Dẫn qua gặp Trí Quang, đang tị nạn trong Toà Đại sứ Mỹ.
- Buổi chiều: Nguyễn Ngọc Thơ bắt đầu thương thảo với Minh và một số Tướng lãnh về việc thành lập chính phủ.
Thơ sinh ngày 26/5/1908 tại Long-xuyên. Phục vụ cho chính quyền thuộc địa Pháp từ năm 1930. Sau một thời gian làm Bộ trưởng Kinh tế, Thơ được cử làm Phó Tổng Thống từ ngày 2/12/1956.
- Trong một buổi họp báo, Bộ trưởng Nội Vụ Tôn Thất Đính tiết lộ việc Nhu liên lạc với Hà-nội, qua trung gian Maneli. (Maneli 1971:112-4)
- Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng ra tuyên cáo 5 điểm:
1. Quân đội làm cách mạng lật đổ một chế độ độc tài thể theo ý nguyện toàn dân.
2. Cuộc cách mạng được toàn thể mọi tầng lớp nhân dân tham gia.
3. Sẽ thành lập một chính phủ lâm thời để điều hành quốc gia.
4. Một Hội đồng Nhân sĩ sẽ được thành lập để cố vấn cho chính phủ trong giai đoạn chuyển tiếp.
5. Khi các định chế dân chủ được thực hiện, HĐQNCM sẽ trao quyền cho dân.
- Huỳnh Văn Cao cùng Trung tá Đoàn Văn Quảng về Sài-gòn trình diện Hội đồng tướng lãnh.
Được lệnh bàn giao chức vụ cho Đại tá Bùi Hữu Nhơn. (Cao 1993:114)
* Huế: Ngô Đình Cẩn cử hai đại diện tới Tòa Lãnh sự Mỹ xin tị nạn.
Bị từ chối vì Tòa Lãnh sự Huế có thể bị đám đông tràn vào; và phải giao nạp cho chính phủ mới nếu có yêu cầu. (FRUS, 1961-1963, IV:Tài liệu 292)
* Paris: Trần Văn Hữu, 67 tuổi, kêu gọi Bắc Việt ngừng chiến tranh du kích; để thiết lập một nước Việt Nam trung lập, dân chủ, theo tinh thần Hiệp định Geneva. (NYT, 2/11/1963).
* Beverly Hills, California: Lệ Xuân ra tuyên cáo về tin đảo chính tại Việt Nam. Lên án việc phản bội của Mỹ. (NYT, 3/11/1963)
* Oat-shinh-tân, DC, 2G50: Dulles chỉ thị phải báo cáo rõ ràng về việc anh em Diệm-Nhu tự sát. (IV, tài liệu 271)
- 16G30-17G35: Kennedy mở một phiên họp bán chính thức khác. Không còn một tài liệu nào về buổi họp này.
- BNG chỉ thị Lãnh sự Huế cho Cẩn được tị nạn chính trị, nếu tính mạng bị nguy hiểm.
* New York: Báo New York Times nhận định:
Điều đáng ngạc nhiên duy nhất là cuộc nổi dạy không xảy ra sớm hơn.
Chủ Nhật, 3/11/1963:
* Sài Gòn: HĐQNCM ra tuyên cáo chấm dứt thi hành Hiến Pháp 26/10/1956, giải tán Quốc Hội.
Ra mắt báo chí với thành phần: Chủ tịch: Tr. Tướng Dương Văn Minh; Đệ I Phó Chủ tịch: Tr. Tướng Trần Văn Đôn; Đệ II Phó CT: Tr. Tướng Tôn Thất Đính; TTK kiêm Ủy viên Ngoại Giao: Tr. Tướng Lê Văn Kim.
Ủy viên: Chính trị, Th Tướng Đỗ Mậu; Quân sự: Tr. Tướng Trần Thiện Khiêm; Kinh tế, Trần Văn Minh; Phạm Xuân Chiểu; Tr. Tướng Lê Văn Nghiêm, Mai Hữu Xuân, Th. Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Hữu Có.
- Đôn và Kim vào Toà Đại sứ yết kiến Lodge.
- Thuần nói với Lodge là ít tuần trước, một chiêm tinh gia Ấn Độ dự đoán sẽ có một cuộc thảm sát một đại gia đình quan trọng.
* Cần-Thơ: Huỳnh Văn Cao bàn giao chức vụ cho Đại tá Nhơn, rồi mang gia đình về Sài-gòn. (Cao 1992:114-5)
* London: Ngô Đình Luyện từ chức Đại sứ.
* Mat-scơ-va: Báo Pravda (và Izvestia ngày hôm qua, nêu ra những nhận định sau về việc lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm:
(1) Cuộc đảo chính này báo hiệu sự thất bại của chính sách can thiệp của Mỹ vào VN suốt 8 năm qua.
(2) Chính phủ Mỹ đã khuyến khích việc lật đổ họ Ngô.
(3) Chế độ mới ở Sài-gòn, qua lời tuyên bố theo đuổi chính sách chống Cộng, đang theo đuổi một chính sách "chống lại những người yêu nước;" không thể giải quyết được vấn đề bằng cách thay những ngọn lưỡi lê này bằng những ngọn lưỡi lê khác. (CĐ ngày 3/11/1963, Maurice Dejean gửi BNG; CLV, SV, d. 18)
 * Washington, DC: Bộ Ngoại Giao Mỹ khẳng định Diệm-Nhu bị giết. (NYT, 4/11/1963)
- Chỉ thị cho Lãnh sự Huế là nếu vì giúp Cẩn mà tính mạng Mỹ kiều bị đe dọa, Helbe cần liên lạc Tướng Đỗ Cao Trí, yêu cầu bảo vệ và di chuyển Cẩn. (FRUS, 1961-1963, IV:562-3)
Thứ Hai, 4/11/1963: Lãnh sự Helble báo cáo: Ngô Đình Cẩn đang tị nạn tại nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế (Redemporist), nhưng Tướng Đỗ Cao Trí định giải giao vào Sài-gòn trong ngày. Dinh thự của Cẩn bị dân chúng cướp phá. Đại học và các trường trung học đều mở cửa. Một số học sinh Quốc Học định truy lùng Mật vụ cũ, nhưng bị giải giới. Tỉnh trưởng cho lệnh khoảng 2,000 công chức phải báo cáo tất cả những chỗ cất dấu vũ khí của chế độ cũ. (FRUS, 1961-1963, IV:Tài liệu 292)
* New York: Báo NY Times nhận định: Việc lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm có lẽ là cơ hội cuối cùng để thiết lập một chính phủ hướng về dân chủ, đươc đa số dân chúng ủng hộ, một chính phủ có thể điều khiển cuộc chiến chống cộng đến một đoạn kết vui mừng.
Thứ Hai, 4/11/1963:
* Sài Gòn: Ban hành Hiến Ước Tạm thời. Đài phát thanh Sài-gòn loan tin Nguyễn Ngọc Thơ được cử làm Thủ tướng.
- Tân Trung tướng Tôn Thất Đính, Đệ II Phó Chủ tịch HĐQNCM, tuyên bố đã làm đảo chính vì nếu không sẽ thua trận. Theo Đính, lực lượng sử dụng là một trung đoàn của SĐ 5, hai tiểu đoàn TQLC, và 12 thiết giáp. 4 lính PVPTT chết, 44 bị thương. 9 quân nhân đảo chính, gồm 1 đại úy (Bùi Nguyên Ngãi), chết và 46 bị thương. (NYT, 5/11/1963).
- Dương Văn Minh cho một nhân viên Mỹ biết là Trần Kim Tuyến, mới từ Hong Kong trở về, bị bắt giữ vì âm mưu phản đảo chính.(FRUS, 1961-1963, IV:558)
* Paris: Phạm Ngọc Thạch, nhân cơ hội thăm Paris, tiếp xúc Trần Văn Hữu, Chủ tịch Ủy Ban Trung Lập Việt Nam. (CLV, SV, 18)
* Roma: Paul VI gửi lời chia buồn với Thục. Thục đang tham dự Công đồng II (Ecumenical Council) tại Roma. (NYT, 5/11/1963)
[Sau cuộc đảo chính 1/11/1963, Thục bắt đầu chống lại Giáo hội Roma, bị rút "phép thông công." Cuối cùng, chết già ở Mỹ năm 1984, sau khi đã "trở lại" với Giáo Hội].
* Beverly Hills, CA: Lệ Xuân gửi thư cho Ngoại trưởng Dean Rusk, xin cho ba con được đoàn tụ tại Los Angeles.
Tuy nhiên, ba con Lệ Xuân—15, 11, và 4 tuổi—được đưa từ Đà-lạt xuống Phan-rang [rồi qua Roma dưới sự hướng dẫn của một nhân viên ngoại giao Mỹ]. Mặc dù đang mổ mắt [giải phẫu thẩm mỹ], chưa lấy hết chỉ, Lệ Xuân vẫn lên đường qua Roma ngày Thứ Tư, 6/11/1963. Cùng đi có Lệ Thủy, con gái lớn, và Nguyễn Thị Thuần, thư ký. (NYT, 5/11/1963)
5/11/1963:
 Họp báo ở Bộ Tổng tham mưu để ra mắt Hội đồng Quân Đội Cách Mạng và Tân chính phủ.
Trần Tử Oai là phát ngôn viên của Hội đồng cách mạng. Có Huỳnh Văn Cao xuất hiện. (Cao 1993:117)
Công bố thành phần chính phủ mới.
Dương Văn Minh là Chủ tịch HĐ/CMQĐ; Thơ làm Thủ tướng.
Danh sách chính phủ Thơ như sau:
01. Thủ tướng, kiêm Kinh tế-Tài Chính: Nguyễn Ngọc Thơ.[thoạt tiên dự trù kiêm Bộ Nội Vụ]
02. Quốc Phòng: Trung tướng Trần Văn Đôn, Quyền Tổng Tham Mưu Trưởng.
03. Ngoại Giao: Phạm Đăng Lâm [vì Vũ Văn Mẫu từ chối].
04. Thông Tin: Thiếu tướng Trần Tử Oai.
05. Giáo Dục: Phạm Hoàng Hộ.
06. Công Chính & Giao Thông: Trần Ngọc Hoành.
07. Lao Động: Nguyễn Lê Hải [Giang? CLV, 18]. (NYT, 5/11/1963)
08. An-Ninh: Tôn Thất Đính.
09. Tư pháp: Nguyễn Văn Mậu.
10. Nông thôn: Phạm Lê Quang
11. Y tế: Vương Quang Nhường (Phan Huy Quát từ chối không nhận).
12. Thanh niên-Thể thao: Nguyễn Hữu Phi [thoạt tiên Đính muốn giao cho Đỗ Mậu, nhưng Nguyện Ngọc Lễ và Trần Văn Minh chống đối]
13. Bộ trưởng Phủ Thủ tướng: Nguyễn Thanh Cung.
14. Tài chính: Lưu Văn Tính.
15. Kinh tế: Âu trường Thanh; (CLV, SV, 18:256). [Chức này, trước dự trù trao cho Huỳnh Văn Lang; FRUS, 1961-1963, IV:558].
- Đôn ghé thăm Lodge. Nói Cẩn đang được bảo vệ ở Quân đoàn I, và sắp bị giải giao vào Sài-gòn. Về những ngôi mộ trong nhà Cẩn, Cẩn chẳng có liên hệ gì--đó là mồ mả của những người đã sống ở đó nhiều đời.
Đôn nói thêm là sáng nay Lệ Xuân gọi điện thoại, lên án Đôn và nhóm đảo chính là "những tên sát nhân và bán mình cho Mỹ." Đôn nói không liên quan gì đến cái chết của Diệm và Nhu. Lệ Xuân xin cho các con được rời Việt Nam. Đôn nói bọn nhỏ đã rời Sài-gòn tối qua, và có thể đã tới Roma vì việc đổi phi cơ ở Bangkok rất trôi chảy. Đôn cũng cho biết hiện Tướng Lê Văn Nghiêm cai quản Lực Lượng Đặc Biệt và Nhảy Dù. Phần Lê Quang Tung không biết tính mệnh ra sao. (FRUS, 1961-1963, IV:Tài liệu 298)
6/11/1963:
* Huế: Ngô Đình Cẩn bị dẫn giải về Sài-gòn.
7/11/1963:
* Sài Gòn: Lực lượng Đặc biệt qui thuận HĐ/QNCM.
8/11/1963:
* Sài Gòn: Chính phủ Thơ ra mắt. Lodge trao cho tân Ngoại trưởng Phạm Đăng Lâm văn thư nhìn nhận chế độ mới của Mỹ. Lodge hy vọng Ngô Đình Cẩn sẽ được đối xử tử tế.
15/11/1963:
* Sài Gòn: Các đại học mở cửa trở lại.
16/11/1963:
* Sài Gòn: Thành lập “Ủy ban Điều tra Tội ác” và "Ủy Ban Điều Tra Tài Sản Thủ Đắc Bất Hợp Pháp” của chế độ Diệm.
17/11/1963:
* Hà Nội: MT/DTGPMN ra tuyên cáo đòi (1) Mỹ chấm dứt can thiệp vào Việt Nam; (2) thành lập chính phủ liên hiệp tại miền Nam; và, (3) thống nhất đất nước.
18/11/1963:
* Sài Gòn: Toà Đại sứ Philippines trao trả Ngô Trọng Hiếu, cựu Bộ trưởng Công Dân Vụ. Hiếu, theo một tài liệu Mỹ, bị tình nghi là cán bộ tình báo chiến lược CS.
20/11/1963:
* Honolulu: TT Kennedy chủ tọa phiên họp Hội đồng chính phủ để duyệt xét vấn đề Việt Nam. Công bố NSAM 263 đã biểu quyết ngày 11/10/1963.
21/11/1963:
* Báo New York Times loan tin là tại Hội nghị Honolulu, chính phủ Mỹ quyết định triệt thoái 1,000 trong số 16,500 binh sĩ Mỹ tại Nam Việt Nam, hiệu lực từ ngày 1/1/1964.
Thứ Sáu, 22/11/1963:
* Dallas, Texas: Kennedy bị ám sát. Phó TT Lyndon B. Johnson lên thay.
Thứ Bảy, 23/11/1963:
* McNamara làm phiếu trình lên Johnson, yêu cầu tăng quân viện cho VNCH. Khẳng định vùng châu thổ Cửu Long là mục tiêu chính.
Chủ Nhật, 24/11/1963:
* Oat-shinh-tân: Lodge họp với TT Johnson, Rusk, McNamara, Ball, Bundy và McCone. Lodge lạc quan về tình thế VN sau đảo chính. Báo cáo sẽ gặp Giáo hoàng Paul VI để trình bày về viễn ảnh căng thẳng Giáo-Lương. Theo Lodge, Thục liên quan vào nhiều cuộc thanh trừng và bỏ tù nhiều người, kể cả ba linh mục Ki-tô. Cẩn cũng giết hại nhiều người, và chôn vùi họ trong một nghĩa trang riêng. Lodge nói chính mình đã cứu mạng sống Cẩn. (FRUS, 1961-1963, IV:Tài liệu 330)
25/11/1963:
* Sài Gòn: Lễ truy điệu và cầu hồn cho TT Kennedy. Sinh viên, học sinh diễn hành tưởng niệm Kennedy.
26/11/1963:
* Long-Xuyên: Dương Văn Minh dự lễ tuyên hứa trung thành của Hòa Hảo. Nhân dịp này Georges Perruche, Đại biện Pháp, có dịp nói chuyện với Minh, Lê Văn Kim và Phạm Đăng Lâm. (91:266)
Thứ Bảy, 30/11/1963:
* Sài Gòn: Lodge gặp Minh và Kim. Minh và Kim cho biết sẽ đặt trọng tâm vào việc bình định khu vực Sài-gòn/Chợ-lớn và vùng châu thổ. Giao cho ba Tướng Phát, Thiệu và Có trách nhiệm. Minh và Kim cũng xác nhận không có ý định giết Ngô Đình Cẩn. (FRUS, 1961-1963, IV:646)
13/12/1963:
* Quân báo Mỹ (DIA) báo cáo quân VC đã gia tăng hiệu năng.
16/12/1963:
* Sài Gòn: Tịch thu tài sản của gia đình Ngô Đình Diệm và 21 thuộc hạ, cùng các phong trào chế độ cũ như Cần Lao Nhân Vị, Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia, Phong Trào Phụ Nữ Liên Đới, Hội Việt Nam Cao Đẳng Giáo Dục.
18/12/1963:
* Sài Gòn:  Hủy bỏ Sắc Luật 12/62 (Bảo Vệ Luân Lý), cho mở cửa vũ trường, nhưng đánh thuế nặng.
* Phnom Penh: Trần Chánh Thành sang Nam Vang gặp Sihanouk.
19/12/1963:
* Oat-shinh-tân: Bộ Quốc Phòng đệ trình kế hoạch hành quân (OPLAN) 34-Ạ
Bao gồm các chiến dịch đánh phá Bắc Việt, kể cả việc oanh kích.
Thứ Sáu, 20/12/1963:
* Sài Gòn:  Sinh viên biểu tình trước Tòa Đại sứ Pháp, phản đối chủ trương trung lập của de Gaulle.
30/12/1963:
* Sài Gòn:  Bãi bỏ lệnh chào cờ trước khi chiếu bóng hay hát tuồng.

flash-5sac.gif (367 bytes) Trở về trang “Mùa Phật đản đãm máu” của Chính Đạo

 

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........