curley_sw.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw.gif (1967 bytes)

.......... .
 

ĐẦU  HÀNG

  • VÂN XƯA            

      Vân Xưa là bút hiệu của cụ Hồ Sĩ Khuê, một cộng sư viên gần gũi của ông Ngô Đình Diệm tại Sài Gòn (trong nhóm Tinh Thần của các ông Trần văn Đỗ, Nguyễn Tăng Nguyên, ...), trước khi ông Diệm xuất ngoại năm 1950. Nhưng khi ông Diệm về nước chấp chánh, ông Hồ Sĩ Khuê từ chối không chịu hợp tác với ông Ngô Đình Nhu vì bất đồng chính kiến với anh em ông Diệm đã không chịu huy động người Nam bộ kháng chiến, mà lại dùng người Bắc Công giáo di cư, như chủ lực của miền Nam. Sau đó, ông trở về Huế làm giáo sư tại trường dòng Công giáo Providence.

Sau 1975, ông qua Pháp và đến năm 1992 thì hoàn thành tác phẩm nghiên cứu sử “Hồ Chí Minh, Ngô Đình Diệm và Mặt trận Giải phóng” (Nhà xuất bản Văn Nghệ, California, 1992). Bài “Đầu Hàng” này được viết vào tháng Tư năm 1987, khi phong trào bôi nhọ mạt sát tướng Dương Văn Minh “đầu hàng làm mất miền Nam”, do các sách báo của lực lượng Công giáo ở hải ngoại chủ xướng để chạy tội cho Ngô Đình Diệm, lên đến cao điểm.

Qua bài “Đầu Hàng” nầy, Giao Điểm xin ân cần giới thiệu với bạn đọc một cái nhìn sâu sắc và lương thiện về biến cố 30-4-75, một biến cố đang bị bụi thời gian và bệnh “mất trí nhớ” làm cho những người Mỹ gốc Việt ở nước ngoài nhìn lại lịch sử một cách sai lệch. Rồi từ ảo giác đó, cũng đã nhìn về Việt Nam bây giờ để chuẩn bị cho tương lai “chống Cọng” trên một nền tảng “Cọng hòa Quốc gia” rỗng mục, theo cùng kiểu mất trí nhớ như trên !

Và để nhìn Bagdah hôm nay trong biển lửa của Mỹ mà nhớ đến Sài Gòn 28 năm trước, cũng vào một tháng Tư gần giống như hôm nay.

(Nhật Nam sưu tầm)   

Rảnh rổi mấy tháng ở Úc, thừa thì giờ nên đọc tập hồi ký Bên Giòng Lịch Sử của linh mục Cao văn Luận viết từ hai mươi năm trước để tán dương Ngô đình Diệm sau khi ông Diệm bị lật đổ. Chưa hề xem, nên xem thử một lần.

Vân-Xưa quen biết ông Luận nhiều, từ 1949 đến 1954, ở Huế. Ông được giới thiệu là một tu sĩ Thiên Chúa giáo tiền tiến, du học từ trước 45, rồi hành đạo nhiều năm ở Pháp, sau đó, năm 48/49, về nước phục vụ tông đồ và xứ sở. Vân-Xưa kém linh mục khoảng mười tuổi, nên trọng ông như thầy, và đãi nhau là bạn. Cùng một ưu tư về tương lai đất nước, cùng chưa rơi trong vòng thế lợi, thành ra dễ thông cảm với nhau.

Nhưng đến 54, vì chọn lựa khác nhau nên chế độ Ngô đình Diệm đã ngăn cách đôi bờ, không còn dịp gặp nhau đến một lần trong suốt chín năm ông Luận phục vụ ông Diệm, trong tư thế cố vấn và ở địa vị Viện trưởng Viện Đại học Huế. Tháng 12-63, gặp lại nhau một lần duy nhất, trong bữa cơm một luật sư bạn chung thết, để tiễn ông Luận lên đường sang Hoa Kỳ. Cố nhiên phải đề cập đến chuyện ông Diệm bị lật đổ. Vân-Xưa nửa đùa nửa thực khen: Linh mục thay đổi nhanh và kịp thời quá! Rồi thôi, cho đến khi ông mất trong năm qua, chẳng còn gặp lại nhau nữa, và cũng chẳng buồn xem hồi ký ông cho ấn hành nhiều lần rồi được những người đồng đạo tái bản tại hải ngoài, từ năm 67 thì phải.

Ở Úc quay về Pháp, một người bạn làm ở tạp chí Quê Mẹ cho xem hồi ký Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi, tướng cũ Đỗ Mậu mới xuất bản. Xem mất ba ngày liền.

Vân Xưa có biết ông Mậu, cũng ở Huế, nhưng không quen nhau như với ông Luận, không hề là bạn với nhau. Cả đời gặp nhau có hai bận. Bận trước, năm 1954, ba mươi năm trước đây trong một cuộc hội thảo, cả hai cùng tham dự giữa một số trí thức cố đô theo yêu cầu của Ngô đình Nhu, để đưa ra một đường lối cầm quyền cho chính phủ ông Diệm sắp thành lập. Đóng góp của Vân Xưa về vấn đề “Nam kỳ cũ” có vẻ được ông Mậu chú ý, nên sau ba ngày xong công việc, trong cuộc rượu kết thúc hội thảo, ông Mậu mang ly đến gần nói vài lời ân cần ngỏ ý muốn làm quen với nhau. Rồi cũng hệt như với Lm. Luận, chế độ Diệm đã ngăn cách vì chọn lựa khác nhau. Có khác chăng là ông Mậu không phải bạn như ông Luận nên không còn đi lại với nhau cũng là chuyện thường.

Bận thứ hai, mà cũng là sau cùng, hai mươi lăm năm trước đây, vài tuần lễ trước ngày 1-11-63. Ông Mậu đến tìm, để bàn với Vân Xưa việc quân đội định đảo chánh ông Diệm. Với một người không phải là bạn, chỉ gặp nhau có một bận chín năm trước, ông Mậu đang cầm đầu ngành An ninh Quân đội, không ngần ngại gặp lại một lần thứ hai để nói chuyện âm mưu chết sống ấy của mình, quả thật ông đã gan tày liếp!

Không rõ có phải ông Mậu nhớ đến phần đóng góp của Vân Xưa trong cuộc hội thảo ở Huế chín năm trước để không ngại tiết lộ âm mưu của mình với một người trong đời mình nay mới gặp lần thứ hai, và sau đó không còn gặp một lần nào khác.

Trong phần đóng góp ấy, Vân  Xưa nêu vấn đề “Nam kỳ Cũ”, ghi nhận đất đai và dân tình ở đây là điều kiện tiên quyết cho tương lai của chế độ Sài Gòn trong hoàn cảnh đất nước qua phân: Miền Nam thắng hay bại tùy thuộc quần chúng Nam kỳ cũ, tùy thuộc ở dân quê miệt vườn, trí thức thành thị, anh em kháng chiến quốc gia, và các giáo phái, chứ không phải tùy thuộc hoàn toàn ở cá nhân người lãnh đạo chính quyền quốc gia.

Có lẽ ông Mậu, lúc bấy giờ, đã nhận ra nguồn cơn thất bại và sụp đổ của chế độ nhà Ngô, nên không ngại lậu chuyện mà cả gan tìm đến người chín năm trước đã từng nêu rõ cái lẽ mất còn này của miền Nam chăng? Ông Mậu còn đó chắc có thể trả lời cho câu hỏi này, về tâm sự hai mươi lăm năm cũ của ông chăng?

Cuộc đảo chánh thành tựu, co tiếp tục liên lạc với nhau trong hai tháng liền qua trung gian rồi thôi. Cho đến nay, cùng ly hương, nhưng mỗi bên mỗi ngã, và nay được xem “Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi”.

1950 – 1954 – 1963 – 1975, Cao văn Luận cũng như Đỗ Mậu đều là những người của thời cuộc. Hơn nữa, những người đã làm thời cuộc. Viết hồi ký là chuyện họ phải làm. Vân Xưa được xem những gì mỗi người hồi ký, thấy có bổn phận trình bày bạn đọc cảm nghĩ về những gì đã xem. 

Ở Úc, đọc hồi ký của một người dù sao cũng đã từng là bạn, Vân Xưa thấy ngao ngán cái tinh thần Ngô đình Diệm Linh mục Luận nêu cao trong Bên Giòng Lịch Sử như sau:

Những ai từng có địa vị  vai vế trong nền Cộng hòa Nhân vị đều mang ơn nặng được ông Diệm đưa từ bóng tối ra ánh sáng, cho nên kẻ đã lật đổ ông Diệm đều thuộc hạng phản chủ, phản thầy.”

Thì ra ông, ông Linh mục thấm nhuần nhân vị tính của nền Cộng hòa Ngô đình Diệm, đã hồi ký cho mọi người là chế độ nhân vị này chỉ gồm toàn đầy tớ, học trò của ông Diệm, một bọn người chỉ biết gọi dạ bảo vâng!  Không còn chịu dạ chịu vâng, mà lại lật đổ thầy mình chủ mình, thì chỉ là một bọn phản chủ phản thầy.

Cộng hòa: chế độ chủ và thầy. Nhân vị: một bọn học trò, tôi tớ!

Lm. Luận biết mình cũng chỉ là một đầy tớ và học trò của ông Diệm, như mọi người khác đang phục vụ nhà Ngô theo định nghĩa của chính ông, vì ông cũng là người đã từng được ông Diệm đưa từ bóng tối ra ánh sáng. Nhưng trong thâm tâm, lm. Luận hẳn muốn người xem hồi ký liệt linh mục nằm ngoài bọn người phản chủ phản thầy này. Tuy có một giai đoạn, dù chỉ vài năm, sau ngày 1-11-63 và trước khi viết hồi ký, ông phô trương việc ông đã góp phần lật đổ chế độ Diệm trong tư cách Viện trưởng Đại học Huế (xin xem phát biểu của ông Viện trưởng về biến cố tháng 11-63, ông không nhắc đến trong hồi ký, nhưng đã được ghi trong các tài liệu lưu trữ ở Viện Đại học Huế). Việc chống đối này quả có thực, ông linh mục có tự hào hành động chống đối ông Diệm cũng đúng. Niềm tự hào ấy đã cho Vân Xưa được cơ hội khen đùa ông: Linh mục biết thay đổi nhanh và kịp lúc. Nhưng bước qua năm 1967, trong không khí phục hồi Công giáo Cần lao, danh dự lật đổ chế độ Diệm đã trở nên nặng nề, hai vai nhà tu có lẽ không mang nổi nữa nên ông Luận bèn viết hồi ký để một lần nữa trở mình cho kịp lúc.

Chắc hẳn ông linh mục đã xếp tên của ông Đỗ Mậu vào bọn người phản bội, (trong đó ông linh mục không còn muốn có tên mình). Cũng đúng thôi: đối với ai lấy cái tinh thần Ngô đình Diệm, theo định nghĩa Cao văn Luận, làm một giá trị nhân vị cao cả, như những người hiện nay đang hô hào phục hồi tinh thần Ngô đình Diệm, thì Đỗ Mậu thoát sao khỏi là kẻ phản chủ, phản thầy.

Nhưng đối với nhân dân miền Nam, trong đó có Vân Xưa, thì lại khác: Người miền Nam đã reo mừng suốt ba ngày liền khi nhà Ngô sụp đổ, nghĩa là đã nhìn “bọn phản chủ, phản thầy” theo quan niệm nhân vị của lm. Luận, và trong bọn đó có Đỗ Mậu, là những người con xứng đáng của đất nước, đã biết thoát ly tập đoàn phản dân hại nước, lúc bấy giờ đang hoành hành.

Từ trong tập đoàn phản dân hại nước này, lm. Luận năm 1963 từng cho biết mình đã thoát ra (trong bữa ăn VânXưa đã nhắc đến ở phần trên). Như Đỗ Mậu và cùng Đỗ Mậu. Nhưng đến 1967, khi bọn Cần lao Nhân vị nép sau lưng chính quyền Thiệu Kỳ lại tiếp tục hoành hành, lm. Luận hồi ký quay vào! Không như Đỗ Mậu và không cùng Đỗ Mậu!

Người tu sĩ Thiên Chúa giáo bác học và tiên tiến này đã từng nhiều năm, trước 54, là bạn của Vân Xưa, đã từng là quân sư của ông Diệm, đã từng là viện trưởng đại học, lại chưa vượt qua được tầm mức văn hóa phong kiến! Đáng tiếc: học thức thật không hẳn là kiến thức! Trong một lần trước, Vân-Xưa đã bàn đến cái bản chất hoàn toàn thiếu nhân vị của một nền Cộng hòa mệnh danh là Nhân vị, mà lm. Luận đã nêu làm tinh thần Ngô đình Diệm, và thờ như là một giá trị tinh thần tuyệt đối. 

Về Pháp, lại đọc hồi ký lần này, của một người chưa từng là bạn, “ít học và dốt nát” (chữ ông Đỗ Mậu dùng cho chính ông), Vân Xưa nhận ra một điều: không đợi phải gặp nhau mới thực là bạn. Đỗ Mậu viết: “Nói cho cùng thì có phải chỉ một mình Dương văn Minh đầu hàng đâu, những kẻ bỏ nước ra đi trước hay sau ngày 30 tháng 4 cũng là những kẻ đầu hàng. Kẻ đã có lần sát cánh với Dương văn Minh (tức Đỗ Mậu) mang hoài bão thay đổi một cuộc cờ nay phải sống xa lìa cố quận cũng là kẻ đầu hàng, cũng gửi tâm sự cho chim ngàn cá biển.”

Và, nhắc đến trách nhiệm trước lịch sử đối với hiện tình đất nước, ông Mậu ghi thêm: “Ai là người không có tội.”

Xem đến đoạn vị tướng cũ “thất học”, khiêm tốn nhận mình cũng là người có tội và chia cả “Cái tội đầu hàng kẻ thù với người bạn đồng đội Dương văn Minh, tuy không ai buộc, Vân-Xưa thấy ngượng cho ông cố linh mục “bác học”.

Ông linh mục đã cố đem hết sức học quãng bác của mình để hồi ký cái tội “phản chủ phản thầy”, cái tội, nếu quả là tội, chính mình cũng phạm, trút lên đầu người khác, những người trước đó mình đã một thời minh bạch chia chác với họ công lao chống một chế độ phản nước hại dân! Trong khi ấy, ông Đỗ Mậu “thất học dốt nát”, không hiện diện ở Sàigòn hôm “Dương văn Minh đầu hàng kẻ thù”, vì đã ly hương trước, lại tự buộc mà không ai gán cho mình, cái tội đầu hàng người ta đang tròng vào cổ Dương văn Minh, để thẳng tay nguyền rủa.

Nghĩ cũng tội cho học vấn! Ở một nhà tu, học vấn chỉ đưa đến cho ông Luận một học thức quãng bác ít ai có, và Đỗ Mậu thì nhất định không có rồi, nhưng lương tri ông không tác dụng được trên cái vốn học thức ấy để hoàn bị kiến thức mà kết hợp cho ông một ý thức nhân bản hoàn chỉnh. Thành ra, cũng một việc chính ông đã làm, và đã nói cho người khác biết (nếu Vân-Xưa không phải là người duy nhất được nghe ông) là mình đã làm, việc làm ấy hôm trước ông xem là danh dự nên muốn ai cũng biết là ông đã làm, hôm sau người có quyền lực ngầm bảo là tội ác, ông vội vàng kể tội ác ấy cho người khác, để thiên hạ trong nước tưởng là ông không hề làm!

Có lẽ nhà tu này không bận tâm mấy về chuyện danh dự, hay chuyện tội ác. Mà bận tâm hơn về chuyện thế lợi. Hôm qua, lật đổ ông Diệm là một danh dự, ông linh mục chia cái danh dự ấy để hưởng lợi. Hôm sau, lật đổ ông Diệm là tội ác, ông linh mục bèn gán cái tội ấy lên đầu người khác, để khỏi mất phần thế lợi dành cho những ai đã trung thành với chủ cũ. Thế lợi đã làm ông linh mục quên sống đạo của ông chăng? Việc hôm trước mình cho là phải nên mình làm, nếu hôm nay mới thấy rõ là quấy, thì con Chúa đi xưng tội để được giải tội, không đổ vấy cho ai khác để chạy tội!

Thảo nào thầy Mạnh cứ nói đi nói lại mãi cái chuyện lương tri. Đạo Khổng đặt lương tri lên trên hết các khả năng của mỗi người để thể hiện con người trong bản thân. Thành thực với chính mình là căn bản của lương tri. Chúa Jesus không dạy chi khác hơn, khi dặn: có muốn ném đá vào người, hãy xem mình có cùng tội với người mình định ném đá hay không. Khi lật đổ ông Diệm là một công lao, ông linh mục chia công lao ấy với những người như ông Đỗ Mậu. Khi lật đổ ông Diệm là một cái tội, ông linh mục gán cái tội ông cũng đã phạm ấy để “ném đá” vào những người như ông Mậu hòng chạy tội của mình, bằng ngôn ngữ đạo hạnh của một quan tòa buộc tội người khác! Kể cũng tiện.

Đã bận tâm về thế lợi thi lm. Luận, trước sau cũng vẫn chỉ thủy chung với thế lợi, đâu có dốt nát đến nổi tự buộc vào mình cái tội “đầu hàng” để chia với Dương văn Minh những lời nguyền rủa. Chỉ có người “quê mùa, dốt nát” như ông Mậu mới hồi ký nhận tội mình trước lịch sử, và chia với Dương văn Minh cái tội mà một số người đang phỉ nhổ.! Một sự phỉ nhổ không dấu nổi dụng ý, và bài này dùng nguyên tắc chính danh để lột trần.

Cho nên hôm nay Vân-Xưa xin bàn về từ ngữ Đầu hàng. Gọi là để ghi nhận tấm lòng Đỗ Mậu “đã thủy chung với chính con người mình”. 

Bạn đọc xin hãy cùng Vân-Xưa tìm vào các loại tâm cảnh của đồng bào trong nước lúc Dương văn Minh đầu hàng Cọng sản ở sảnh đường dinh Độc Lập trưa ngày 30-4-1975, để xem hai chữ “đầu hàng” khớp hay không khớp với tâm cảnh nào, rồi chính danh cho mỗi loại tâm cảnh. 

1. Thóa mạ để chạy tội: Dương văn Minh đã đầu hàng Cọng sản

Gần mười hai năm nay, kể từ 30-4-1975, tướng cũ Dương văn Minh được xem là người đã đầu hàng Cọng sản. Ở nước ngoài, đồng bào di tản đến đâu, Dương văn Minh được chỉ đích danh đến đấy là người đã phản bội đất nước, phản bội dân tộc, vì đã đầu hàng Cọng sản.

Không phải những người liều mình vượt biên vượt biển lìa bỏ quê hương sau ngày Dương văn Minh đầu hàng đã lên tiếng thóa mạ vị tướng cũ này như thế. Họ chỉ là mục tiêu mà âm mưu thóa mạ Dương văn Minh nhắm vào. Người ta áp dụng định luật Pavlov, chủ ý tạo cho đồng bào tị nạn các điều kiện tâm lý hướng dẫn, để cho mỗi khi nghe đến tên Dương văn Minh liền phản xạ là ông Minh đã đầu hàng Cọng sản.

Đây là âm mưu của cả một tập đoàn, hai mươi năm trước ngày Dương văn Minh đầu hàng, đã liên tục nắm giữ quyền chính để mưu lợi riêng, lũng đoạn quốc gia, để rồi miền Nam không thoát được tay Cọng sản. Cho đến khi không còn vơ vét thêm được nữa, tập đoàn này đã phân tán như một đàn chó đạp phải lửa, hối hả tháo thân cho kịp trước ngày Sài Gòn sụp đổ. Để lại an hưởng tài sản đã thủ đắc năm này qua năm khác lúc cầm quyền trong nước, trên xương trên máu của lính của dân, mà tiếp tục cuộc sống đế vương ở nước ngoài. Cố nhiên nay ra nước ngoài, bọn họ thừa tài sản, thừa học thức, thừa bộ hạ tay chân, thừa phương tiện. Chỉ thiếu có liêm sỉ nên không ngần ngại sử dụng đủ mọi mánh khóe, kể cả mánh khóe văn hóa, sách có báo có, để hài cái tội đầu hàng của Dương văn Minh.

Một cách để nói mà không phải nói là: bọn họ vô tội, không phản bội đất nước, vì không đầu hàng như Dương văn Minh (bởi đã trốn kịp ra nước ngoài). Chỉ Dương văn Minh là kẻ đã bán đứng miền Nam cho Cọng sản.

Ở trong nước, không cần phải nói, ai không biết tướng Dương văn Minh đã đầu hàng, đã trao quyền chính miền Nam cho phe Cọng sản trưa ngày 30 tháng 4. Biết rõ như thế nên quần chúng miền Nam đã cám ơn ông: Trong con mắt nhân dân miền Nam, Dương văn Minh là người anh hùng ngay cả trong giờ phút đất nước sụp đổ, con người đã kê vai gánh trọn sự sụp đổ của cả một dân tộc lên người mình, hòng tránh cho nhân dân Sài Gòn khỏi phải thảm sát. 

2. Cội nguồn sụp đổ miền Nam: chán ghét chế độ chiến tranh, thờ ơ trước thời cuộc

Lúc Quốc hội Mỹ không chấp nhận viện trợ thêm 700 triệu Mỹ kim cho chính quyền Nguyễn văn Thiệu, mọi người đều biết giờ sụp đổ của chế độ Sài Gòn đã điểm.

Sau biến cố Bình Long thất thủ, Pleiku Kontum bỏ ngỏ tháng 1 và 2-75, sang tháng 3-75, lần lượt Huế mất ngày 25, Đà Nẵng mất ngày 29. Sau khi chiếm Đà Nẵng, Hà Nội thấy phải đánh gấp vào thủ đô miền Nam để Sài Gòn không kịp chuẩn bị đương đầu, nên đã ra lệnh làm ngơ vùng duyên hải, giao Trần văn Trà và Phạm Hùng tập trung lực lượng ở Lộc Ninh, sát nách thành phố, gởi Văn Tiến Dũng vào Nam cùng tổ chức tấn công Sài Gòn. Và Lê Đức Thọ vào tiếp để lãnh đạo chiến dịch, về sau, được gọi là chiến dịch Hồ Chí Minh.

Các tỉnh vùng duyên hải, sau Đà Nẵng, không còn là mục tiêu chính. Cán cân lực lượng, gồm người, vũ khí, phương tiện, nghiêng hẳn về phía Cọng Hòa nên Hà Nội phải dồn tất cả sức mạnh hạn chế của mình ở miền Nam để đánh thẳng vào Sài Gòn.

Thế nhưng lần lượt, sang đầu tháng 4-75, thành phố Nha Trang, rồi Phan Rang, Phan Thiết, Hàm Tân, Bình Tuy đã rụng như sung. Đây là hiện tượng mọi người ghi nhận: Quân dân miền Nam đã tự thất thủ.

Nhắc lại lịch trình sụp đổ không phải để nói chuyện thời cuộc, chuyện chính trị, chuyện quân sự đã xảy ra trong hai tháng 3 và 4-75 ngắn ngủi nhưng rất tai hại cho đất nước, mà là để phơi bày cặn kẽ nguồn cơn của một sự sụp đổ vỏn vẹn chỉ trong vòng hai tháng. Nguồn cơn của hiện tượng tự thất thủ nằm trong tâm cảnh quần chúng miền Nam, trong tâm cảnh quân đội Cọng Hòa. Tâm cảnh phức tạp và đa dạng của quân nhân, đồng bào miền Nam đã là động cơ đưa đến sự sụp đổ mau chóng của một tổ chức nhà nước, gần hai mươi năm liên tục, nằm trong tay bao thầu của một tập đoàn lãnh đạo chóp bu không gốc không rễ trong lòng dân tộc.

Tâm cảnh chung của toàn thể đồng bào từ lâu rồi đã chán chiến tranh vì thù ghét một chế độ Cọng hòa giả hiệu, hết phong kiến đến quân phiệt, mà người Mỹ đã không tiếc phương tiện dựng nên để chống Cọng bất chấp quần chúng trong nước. Cứ nhìn quang cảnh đầu năm 1973, lúc bắt đầu thi hành thỏa hiệp đình chiến thì rõ. Nói cho thật gọn mà cũng thật đúng, quân dân miền Nam không còn một chút tin tưởng nào ở chính quyền do các ông tướng Thiệu Kỳ bám chặt, binh sĩ miền Nam không còn gắn bó với quân đội do các ông tướng Khiêm Viên khống chế. 

3. Tâm cảnh riêng của anh em quân nhân binh sĩ Cọng Hòa: chán chiến tranh.

Hai mươi năm, quân dân miền Nam chịu đựng cảnh người Mỹ bao che bất tài, bất công, tham nhũng, bè phái của một “chí sĩ” lạc hậu và phong kiến và một đoàn quân phiệt tiếp theo sau. Tất cả đều nhân danh đủ mọi thứ giá trị tinh thần tốt đẹp trừ sự ngay thẳng, trừ ý thức trách nhiệm trước lẽ sống còn của quê hương đất nước.

Nhằm mục đích chế ngự các thế hệ đang trưởng thành, không để cho thanh niên sinh viên hoc sinh rảnh tay phát động phong trào chống đối, nhà Ngô từ các biến cố tháng 11-60, tháng 2-62, cho đến tháng 11-63, rồi Thiệu Kỳ từ 1967 đã dùng biện pháp động viên để ngăn chận. Người ta lùa vào các quân trường lớp sinh viên học sinh mà lựu đạn cay và dây thép gai không ngăn được họ biểu tình phản đối vụ ông Diệm đàn áp Phật giáo, phản đối Thiệu Kỳ âm mưu hồi sinh Cần lao Công giáo. Để khi họ tốt nghiệp, dùng quân kỷ mà giam lỏng lớp trẻ có học vấn cao vào hàng ngũ các chỉ huy cấp thấp của quân đội.

Lớp chỉ huy cấp thấp ấy, lớp chuần úy, thiếu úy, đại úy ấy, đã mang vào hàng ngũ anh em binh sĩ vốn liếng trí thức và những nhận xét thiết thân về thời cuộc rất sắc bén của họ. Hàng ngày, họ cùng chia với anh em binh sĩ một ý thức mới, một cái nhìn khác, về xã hội, về chế độ, về lịch sử, về lãnh đạo, về tình trạng áp bức bất công mà toàn thể anh em binh sĩ đang là nạn nhân. Chính lớp sĩ quan cấp thấp nầy, vừa trẻ vừa có học thức, được anh em binh sĩ mến chuộng vì biết tận tụy lo lắng cho anh em, đã gây cho binh sĩ trong đơn vị họ chỉ huy, một tinh thần chiến đấu chống bất công bất kể từ đâu đến. Tất cả dần đà kết hợp nên một thành phần quân đội biết nhận ra chân tướng của bọn đang thao túng xã hội, khống chế binh sĩ, nhận ra giá trị thực sự của quân nhân, và từ đó liên đới với nhau trong một tình cảm huynh đệ.

Họ chống Cọng nên chịu đựng. Chịu đựng trong hy vọng họ sẽ trưởng thành trong quân đội, sẽ cùng một số hiếm hoi thượng cấp trong sạch có tư cách và có tinh thần trách nhiệm, phối hợp thành một sức mạnh để, từ các binh chủng và một lúc nào đó thuận lợi, làm áp lực chính trị mà cải thiện quân đội, chế độ và xã hội. Vì họ biết quân đội đang là cột trụ của chế độ nên người Mỹ quyết tâm giữ cho lớp tham nhũng cầm đầu để dễ sai khiến.

Một Hà Thúc Nhơn vì chống tham nhũng nên đã bị tham nhũng giết ở Nha Trang, một Phạm Mạnh Lương mở chốt lựu đạn ngồi trước thềm Quốc Hội chống cường quyền, đã là những điển hình tâm cảnh chán chường của thành phần quân nhân thanh niên và học thức nầy trong quân đội. Đến một lúc nào đó, họ nhận ra các đàn anh của họ cũng đành bó tay trước sự ngu muội của người Mỹ cho rằng chống Cọng chỉ cần một bọn tay sai nắm trọn quyền hành mà không cần đến quần chúng nhân dân trong nước. Tướng “ngồi chơi xơi nước” Dương văn Minh điển hình tình trạng bó tay nầy. Cho nên dần đà tâm cảnh buông súng đã manh nha ở lớp sĩ quan trẻ.

Trong tâm cảnh buông súng đó, các sĩ quan cấp thấp thuộc các lớp thanh niên bị động viên, đã chỉ huy binh sĩ của họ để đánh một trận oai hùng ở Xuân Lộc với tướng Hưng, và biểu lộ sự dũng cảm của một thế hệ trẻ không vươn lên được trong hàng ngũ quân đội Cọng Hòa. Kỳ dư, họ bỏ mặc cho anh em binh sĩ dưới quyền tan hàng, từ chối chiến đấu sau khi Bình Long thất thủ. Do đó từ Huế vào Bình Tuy, không phải Cọng quân đã chiến thắng mà binh sĩ Cọng hòa đã buông súng, và nhân dân miền Nam đã như nước vỡ bờ, phó mặc tương lai cho những Ngô Đình Diệm, Nguyễn văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, dựa trên những người Mỹ mù quáng, dựa trên Công giáo Cần lao, đã suốt hai mươi năm xếp đặt sẵn cho miền Nam.

Xuân Lộc: bằng chứng của một những người lính dũng cảm nhưng đã tự thất thủ vì ghét tham nhũng, vì chán chiến tranh

4. Tâm cảnh của quần chúng: thờ ơ

Năm 1954, lòng ham chuộng hòa bình được thỏa mãn, và tuy đất nước xẻ đôi nhưng quần chúng trong nước cũng đành lòng để hành sử quyền được lựa chọn: hoặc sống ở miền Nam quốc gia để xây dựng một xã hội tự do, hoặc ra miền Bắc làm cách mạng giải phóng với những người Cọng sản. Quyền chọn lựa ấy được thực hiện cụ thể. Gần một triệu đồng bào rời bỏ đất Bắc quê hương vào nương náu ở miền Nam mong tìm một đời sống có nhân tình. Nhưng đồng bào Bến Nghé Đồng Nai chẳng có mấy ai chọn lựa theo Cọng sản ra Bắc, trừ các cán bộ trung kiên, không kể gốc Nam, gốc Bắc. Tất cả người sống ở miền Nam đều đã chọn lựa tự do, không ai chối cãi được.

Trong tinh thần chọn lựa ấy, đồng bào di cư được đùm bọc đến nơi đến chốn. Cũng không ai chối cãi được sự kiện nầy, khi các khu trù mật Vị Thanh, Cái Sắn được thiết lập riêng cho người Bắc di cư mà không hề gây một xúc động ganh ghét nào của đồng bào tại chỗ.

Dân chúng đất củ Nam kỳ đinh ninh đã đến lúc cùng tất vả các thành phần nhân dân miền Nam xây dựng và mở mang phần đất đã cùng nhau chọn để mà sống với nhau trong tự do. Cũng không ai chối cãi được sự kiện nầy: Quần chúng Nam kỳ cũ không ai hùa theo các giáo phái để chống chính quyền Ngô Đình Diệm tuy chẳng ủng hộ con người họ chưa biết hẳn là thế nào. Chỉ vì ai cũng muốn tránh xáo trộn để sống an lành sau chín năm chiến tranh giải phóng.

Từ bước đầu tốt đẹp nhường ấy, hai mươi năm tiếp theo sau đã diễn ra một cảnh tượng mà ngày nay nhắc đến không ai khỏi bàng hoàng. Một người được xưng tụng là chí sĩ mở đầu một chế độ gọi là Cọng Hòa, sau đó gán thêm vào mỹ từ Nhân Vị để che đậy bản chất độc tài, kỳ thị, gia đình trị, dần đà tách chính quyền xa hẳn nhân dân, đưa đến tình trạng biến Nhà nước và Nhân dân thành hai lực lượng thù nghịch lẫn nhau. Nhà cầm quyền lo củng cố địa vị nên chỉ bận đương đầu với quần chúng trong nước, hơn là lo việc kiến thiết đất nước, hơn là lo việc xây dựng một xã hội đáng sống cho người trong nước. Khi thấy không có ai theo mình lại dùng trò tố Cọng để khủng bố, đàn áp, mà chống nhân dân.

Ai đã từng xem tranh ảnh nhà Ngô đăng trên tờ Paris Match, các anh em xiêm thêu gấm áo, rực rỡ xuê xoang vây quanh ông Diệm, đều ý thức được đến nơi sự phân cách giữa Nhà nước họ Ngô và quần chúng miền Nam. Nhất là bức ảnh chụp sau ngày được giải cứu khỏi cuộc binh biến Nhảy Dù 1960. Ông Tổng thống xun xoe đứng trên bực cao, tay cầm một xấp giấy bạc 500 thả lòa xòa xuống thấp, một lũ quần thần tay chân, bộ trưởng có tướng tá có, chen nhau khom lưng nhặt từng tờ như một món tiền thưởng công, để chia nỗi mừng thoát nạn của chủ. Ai ở Pháp có thể tìm xem bức ảnh nầy ở các thư viện, ở tuần báo Paris Match. Hoặc ông Ngô Đình Luyện còn giữ làm kỷ niệm chăng.

Rồi ngược lại, ai đã từng nhìn cảnh dân chúng miền Nam, suốt ba ngày liền, đã chạy rông ngoài đường phố reo hò vang dội để mừng việc sụp đổ của gia đình nhà Ngô, đủ thấy lòng dân chán ghét chế độ Cọng hòa Nhân vị đến thế nào. Dương văn Minh, người anh hùng Rừng Sát, một lần nữa lại xuất hiện trước mắt quần chúng miền Nam như một anh hùng đất nước. Nhân dân miền Nam nghĩ là khi đã loại bỏ nhà Ngô rồi chế độ mới sẽ đáp ứng được các đòi hỏi của dân tộc dân quyền để xây dựng một xã hội văn hóa và phát triển, trong nhân tình, tự do và công lý.

Nhưng hết Cọng hòa Nhân vị phong kiến lại đến Cọng hòa quân phiệt độc tài. Một số tướng lãnh thối nát nối vòng tay lớn với tàn dư Công giáo Cần lao, để tiếp tục đục khoét miền Nam, biến nước ta thành vùng đất mầu mỡ cho tham nhũng cho bất công.

Hiệp định đình chiến thi hành. Nhóm tướng lãnh cầm quyền phô trương khí thế giả tạo để che đậy mánh khóe vơ vét gấp, hòng thu thập tài sản chợ chiều còn sót, chờ cuốn gói kịp lúc. Đất nước, nhân dân, chưa bao giờ họ đã bận tâm trong giờ phút vơ vét hối hả sau cùng đó. Để hốt cho thật trọn vẹn, chúng bám chặt quyền lực đến cùng, cho đến lúc ngày một ngày hai là sụp đổ chúng mới chịu buông để tháo chạy.

Trong vòng đúng một tuần lễ, Thiệu Khiêm “dọt” trước, hôm 14-4. Rồi lần lượt những Cao văn Viên, Đặng văn Quang “dọt” tiếp theo. Lả lướt hơn cả là ông tướng tàu bay. Một ngày trước khi quân đội Cọng sản tiến vào dinh Độc Lập, chân ông bước lên máy bay để “dọt”, miệng ông dõng dạc tuyên bố quyết tâm không rời bỏ quê hương, kêu gọi đồng bào cùng với ông tử thủ chống Cọng.

Quần chúng trong nước biết trước sự tình rồi sẽ xảy ra như thế. Biết rõ trước sau mình cũng sẽ là nạn nhân. Cảnh tượng tự thất thủ, từ Bình Long đến Pleiku, Kontum, sau đó là miền duyên hải, đã hiện thực nỗi chán chường của toàn thể nhân dân. Tâm cảnh chung là buông xuôi. là phó mặc, biểu thị sự thờ ơ trước tình thế ra sao thì ra. Cọng sản có vào cũng thế thôi, chẳng còn chi khác để chọn lựa.

Tâm cảnh phó mặc, tâm cảnh thờ ơ của quần chúng, cùng tâm cảnh buông súng của thành phần quân đội trong sạch, đã kết hợp dọn đường cho xe tăng Cọng sản tiến vào dinh Độc Lập mau chóng. Bộ Chính trị Hà Nội không đủ quân lực mạnh ở miền Nam để thắng gấp. Nhóm Thiệu Kỳ và tướng tá Sài Gòn lo vơ vét, có nghĩ gì đến việc chiến đấu đâu để thắng để bại. Chỉ có thời cuộc đất nước chúng ta đã ngưng đọng trong tâm cảnh nhân dân và quân đội vào trưa ngày 30-4-75. Quân và Dân miền Nam đã tự thất thủ để chấm dứt chiến cuộc.  

5. Tâm cảnh nhóm tướng lãnh cầm quyền: tháo thân kịp lúc.

Khi nhân dân thờ ơ, khi binh sĩ buông súng, thì có chế độ nào tồn tại được. Nhóm tướng lãnh cầm quyền hiểu rõ

điều nầy trước cả mọi người từ cuối tháng 3-75. Chúng bày trò thiết quân luật, cấm dân thường đi lại ban đêm để tự do di chuyển nhân sự và tài sản riêng của chúng hầu sửa soạn cho trôi chảy việc tháo thân.

Tổng thống, thủ tướng, bộ trưởng nầy khác, tuớng tá đầu não quân đội Cọng hòa, những người trước sau vẫn thao túng đời sống xã hội bằng quyền lực không có kiểm soát, tha hồ tự tung tự tác, nay cấp kỳ có sẵn đủ mọi thứ phương tiện để đào tẩu kịp thời nên vẫn giữ giọng hùng hổ, nhất hô vạn ứng mong đánh lừa quần chúng không cho nhìn thấy sụp đổ đến nơi. Để người trong cuộc không chú ý là bọn chúng đang lo việc tháo thân nhưng chẳng bịp được ai.

Những tâm cảnh tháo thân nầy đa dạng:

Tháo thân nhưng còn phải chuyển tài sản quốc gia, nhất là vàng, theo ra nước ngoài thành của riêng của mình như Thiệu Khiêm.

Tháo thân nhưng còn phải bày trò huê dạng người hùng Cầu Muối, như ông tướng “trừ gian”.

Tháo thân nhưng buộc phải lừa lọc anh em binh sĩ như tướng Viên, tướng Lộc, chia nhau trước sau chức vụ Tổng Tham mưu trưởng, để “tham mưu” việc xa chạy cao bay trốn bỏ quân đội.

Nhưng phải nói đến thành phần nhân viên Nhà nước, những công chức cao không bè phái, không thế lực, không có tài sản lớn; phải nói đến các lớp sĩ quan không biết chia chác luồn cúi đục khoét. Họ mang tâm cảnh bế tắc. Vì thấy rõ mình là nạn nhân bị đàn anh bỏ rơi lại để riêng gánh chịu sự trừng phạt và nguyễn rủa đánh vào cơ thể nhà nước trong giờ sụp đổ. Tâm cảnh sợ hãi khiến họ mong được yên thân rồi có ra sao cũng đành chịu.

Chưa kể đến hai thành phần khác, quan không hẳn ra quan, dân không còn là dân. Thành phần trước là một số lớn những người có chân trong các đoàn thể đảng phái, tôn giáo, trước sau vẫn giữ được không vấy bùn. Họ mang tâm cảnh thản nhiên, thế tục trước sau vẫn không làm họ bận lòng, chỉ mong mỏi hòa bình ngưng chém giết để đồng bào được sống an lành. Và những người sinh hoạt trong các cơ sở kỹ nghệ thương mãi, nhân viên chưa từng chia phần lợi kinh tài của chủ. Trong giờ phút quyết liệt sắp tới, chẳng có quyền lực nào ngó ngàng đến họ, và họ mang tâm cảnh những con tốt phải thí nên chỉ mong được yên thân, ai thắng ai bại không còn là vấn đề họ phải thiết thân nữa.

Thành phần sau, đa số đồng bào di cư người Bắc thiên di vào Nam từ năm 1954, được cột chặt vào hậu cần chính trị cốt tủy và liên tục cho hai nền Cọng hòa miền Nam. Đa số họ kém ý thức, đã phục tùng vô điều kiện cho tập đoàn lãnh đạo của họ gồm một số tu sĩ Thiên Chúa giáo hiếu động và quá khích, và các tay kinh tài chuyên nghiệp trong việc đồng lõa với tập đoàn cầm quyền. Hai hạng người nầy thường xuyên toa rập với nhà nước, đã mau chóng chia được phần thế lực nhờ thế mà mau chóng trở thành tỷ phú triệu phú miền Nam.. Sau hai mươi năm, đoàn thể đồng bào di cư đã bị hai hạng người nầy điều động, chỉ huy, mua chuộc, đẩy ra múa rối trên sân khấu chính trị miền nam. Thành phần nầy thấy rõ trong giờ phút mất còn đang điểm, “lãnh tụ” của họ vội vàng bỏ rơi họ, nên cũng mang tâm cảnh sợ hãi, mong mua chuộc những tội ác không phải do mình.

Nhưng phải liệt ra ngoài thành phần di cư nầy một số nhà tu, một số kinh tài, đồng lõa thường xuyên với tập đoàn tham nhũng, đấu thầu việc bao biến đồng bào di cư để làm hậu cần cho Diệm, cho Thiệu, cho Kỳ. Nên được cất lên hàng lãnh tụ, thừa uy thế thừa tài sản, đủ phương tiện để không cần đến ai vẫn thoát đi được. Có ăn có chia mà không có chịu. Hạng người nầy cũng mang tâm cảnh thoát thân, bất chấp đồng bào đã cùng họ đã từ Bắc di cư vào Nam, mà họ đã đẩy vào ngõ cụt. 

6. Quyền lực Nhà nước vất bỏ trên đường phố.

Trước ngày Sài Gòn thất thủ, trong hoàn cảnh dân chúng thờ ơ, binh sĩ buông súng, tập đoàn cầm đầu nhà nước hối hả lo việc thoát thân, các cơ chế nhà nước bề ngoài tuy còn nguyên vẹn nhưng quyền lực nhà nước đã bị vứt bỏ trên đường phố chẳng ai đoái hoài đến. Dân ngoài phố sợ bọn vô lại và lính đào ngũ làm càn trong những ngày không còn phép nước, nên càng mong thời cuộc kết liễu gấp. Mọi người sẵn sàng chấp nhận một cuộc đổi đời dù không tin rồi sẽ an lành, nhưng không còn tránh được. Chế độ tham nhũng cuốn cờ, ít ra đây cũng là điều làm mọi người thỏa dạ.

Ai cũng biết thủ đô đang bị vây hãm, bà con có thể bị pháo kích, bị tấn công. Quân đội Cọng hòa đã tan hàng, binh sĩ cởi giáp quăng súng khắp các ngõ hẻm thành phố, trục thăng Mỹ di tản rầm rộ trên bầu trời. Ông Trần văn Hương mấy hôm trước nhận làm cầu thang cho Thiệu và Khiêm nhẹ mình lên máy bay chạy trốn, lại lẩm cẩm lên giọng kháng cự tử thủ khi chính phủ đã nhàu như giấy bị nhai, khi quân lực không còn xương sống, khi nhà nước mềm như xác chết ! Ông làm được gì đây, và làm với ai đây ?

Cọng sản muốn “tắm máu”, điều ấy chẳng đợi tuyên truyền thì dân chúng cũng đã nghe đầy trên đường phố. Nhưng làm thế nào thoát được họ đây ? Cọng sản có giết có tha, nhân dân miền Nam tránh sao cho khỏi. Hai mươi năm qua, Diệm và Thiệu và Kỳ và tay chân, trước sau đã thay nhau đặt trọn miền Nam vào trong tay Cọng sản rồi ! Mọi người đều mong rồi ra người trong một nước, dù Bắc dù Nam, dù Cọng sản dù Quốc gia, sẽ dung hợp với nhau trong một đất nước hòa bình, tuy ngờ ngợ chỉ là ảo vọng.

Hà Nội muốn thắng lợi ngàn năm một thuở của họ được hoàn toàn rực rỡ nên buộc chính quyền bù nhìn Sài Gòn phải đầu hàng vô điều kiện. Võ Đông Giang, chỉ huy cuộc tấn công thủ đô đã nói là “đầu hàng nhân dân, không phân biệt miền Nam miền Bắc, Cọng sản đã thắng Mỹ, miền Nam miền Bắc cùng thắng với nhau, giữa hai miền không có thắng không có bại”.

Tất cả bài toán cuối cùng là đây: Ông quyền Tổng thống Hương, mang tâm cảnh chí sĩ cứng cõi, nhất định tử thủ chứ không đầu hàng. Nếu cụ làm như cụ nói thì cụ tử thủ với lực lượng nào ? Dân chúng đã thờ ơ, quân đội đã tan hàng, binh sĩ theo nhau cởi bỏ quân phục vứt cả vũ khí trên đường phố giữa thanh thiên bạch nhật. Cụ nghĩ chuyện tiết tháo, chuyện hão hớn, nhưng không nhìn ra được tiết tháo ở Phan Thanh Giản, hảo hớn ở Võ Tánh, lúc chính quyền cụ giữ trong tay chỉ là một chính quyền ma không dân cũng chẳng quân. Trong tâm cảnh trái chứng muộn màng ấy, cụ muốn quần chúng thủ đô chịu thảm sát để cụ thành hão hớn, thành chí sĩ ? Sự kiện nầy không phải người viết võ đoán mà nêu ra ở đây.

Cụ Hương muốn thủ đô đi vào biển lửa: người chiến sĩ đầu hàng sao được ! Cũng phải, hai chữ đầu hàng này, ngày nay ở nước ngoài, những người đã hai mươi năm dày xéo lên miền Nam đang mang ra thóa mạ Dương văn Minh. Tội nghiệp cho cụ ! Cụ mắc lỡm Thiệu Khiêm, chúng mớm cho cụ hai chữ tiết tháo để chúng được nhẹ nhàng cất cánh, và cụ chờ chúng mang quân về cứu như chúng đã hẹn với cụ ! Cho nên người ta phải khuyên cụ nhường “việc ô nhục người chí sĩ không thể làm” ấy cho tướng Dương văn Minh.

Hai ông Nguyễn văn Huyền và Vũ văn Mẫu được ghép theo Dương văn Minh như là một đảm bảo của hai thế lực tinh thần còn lại, để ông đứng ra chấm dứt một tình trạng không lật ngược được nữa mà nếu kéo dài thì chỉ kéo dài thêm chết chóc thê thảm. Sự kiện đảm bảo nầy cũng không phải người viết võ đoán mà nêu ra ở đây.

Tình trạng không lật ngược được đó ai đã gây nên ? Ngô Đình Diệm, Nguyễn văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, ba người nầy hay là Dương văn Minh ? Những người thay nhau cầm quyền, những tướng tá từng thao túng quân đội đã vội vã tháo chạy giờ đây quay lại thóa mạ Dương văn Minh đã đầu hàng, không chịu tử thủ ! Thế sao chúng không ở lại để tử thủ mà bỏ trốn ? Nếu có chuyện đầu hàng thì Dương văn Minh đã đầu hàng thay cho chúng đấy thôi.

Chính việc chúng tháo chạy mới là hành động đầu hàng Cọng sản. Dương văn Minh đã chịu ô nhục thay cho chúng để thể hiện tâm cảnh muốn khai tử giai đoạn tủi nhục của những người sống trên đất nước miền Nam trong giờ phút bi hùng ấy.

Ông Diệm đã nói với Vân Xưa năm 1946 rằng ý Dân là ý Trời. Nhưng ông chỉ theo Chúa của ông, chẳng bao giờ theo trời cả ! Phải đợi đến ngày 30-4-75, ý dân mới thực là ý trời, trong một hoàn cảnh thật bi đát cho dân !

Đối với một võ tướng chân chính như Dương văn Minh, không thuộc loại chạy trốn như Thiệu Kỳ Khiêm Quang, đầu hàng bao giờ cũng là một việc ô nhục. Nhưng Dương văn Minh đầu hàng để tránh cuộc thảm sát thủ đô. Hiên ngang, dũng cảm như khi ông cầm quân chiến thắng ở Rừng Sát. Trong việc đầu hàng này, người sống ở miền Nam ngày 30-4-75 đã nhận ra ông là anh hùng đất nước. Trong việc đầu hàng này, tập đoàn tham nhũng chạy trốn ra nước ngoài, muốn chạy tội phản quốc, lại vẫn không ngớt chửi rủa ông là phản quốc.

Ông Dương văn Minh đã phải đứng ra khai tử hai chế độ Cọng hòa đầy những tội ác mà ông không dính dự vào. Tiểu nhân cười là ông tham quyền cố vị, nhưng dân trong nước thấy ông đã cúi người xuống đất nhặt một quyền chính bỏ rơi ngoài đường. Để trong 48 tiếng đồng hồ sau đó đứng ra nuốt nhục cứu độ quần chúng thủ đô miền Nam. 

Đến đây, bạn đọc hãy cùng người viết lại quay về các tâm cảnh được tỉ mỉ phân tích ở trên:

Tâm cảnh chung của nhân dân thờ ơ mặc thế cuộc đến đâu hay đó. Chấp nhận đổi cái đời hai mươi năm phải chịu đựng độc tài phong kiến quân phiệt, trong một xã hội thối nát tham nhũng, không lúc nào biết đến nhân dân. Tâm cảnh thù ghét chế độ, đòi hỏi thay đổi: Cọng sản cũng thế thôi.

Tâm cảnh của anh em sĩ quan binh sĩ, khinh bỉ thượng cấp vô tài bất nghĩa, không còn muốn chiến đấu, để đuổi bọn bán dân hại nước. Tâm cảnh đòi chấm dứt một giai đoạn vô vọng: Cọng sản cũng thế thôi.

Tâm cảnh của những thành phần đồng bào ít nhiều có dính líu đến chính quyền thối nát là sợ hãi, nên mong một hình thức giải quyết cho êm thuận có thể tránh cho họ nhiều ảnh hưởng quá nặng nề. Tâm cảnh chịu đựng cầu an: Cọng sản cũng thế thôi.

Tâm cảnh của tập đoàn lãnh đạo nhà nước quân đội là chạy trốn thoát thân. Khi đã thoát thân được thì Cọng sản có chiếm miền Nam cũng chẳng còn bận tâm. Tâm cảnh tháo thân cho kịp: Cọng sản cũng thế thôi.

Cũng thế thôi”, trong đầu óc những người quẳng quyền lực nhà nước để tháo chạy, có nghĩa là “mặc kệ”. Trong tâm tư quần chúng và binh sĩ, lại là một cách để nói “cũng đành” ! Những kẽ hai mươi năm thay nhau cầm quyền phi nhân phi nghĩa đã dọn sẵn đường cho Hà Nội chiến thắng, nhân dân và binh sĩ không muốn đầu hàng cũng không xong. Đầu hàng: một mỹ từ người miền Nam tự dối mình để che một thảm bại.

Dương văn Minh, Nguyễn văn Huyền, Vũ văn Mẫu, nạn nhân một thế cuộc bế tắc mà họ không dự phần chịu trách nhiệm, đã đương lấy cái nhục của Diệm, của Thiệu, của Kỳ, để cứu nạn dân lành.

Khi nhân dân ruồng bỏ chế độ, cảnh sát binh sĩ tan hàng, khi người cầm quyền chạy trốn, thì chế độ phải sụp đổ. Quyền lực nhà nước tự nó đã cáo chung. Cụ Hương muốn làm chí sĩ nhưng không còn nhà nước, nên ông chỉ là một bù nhìn vô nghĩa, bình phong cho Thiệu Khiêm và tướng tá tay chân chuồn đi êm đẹp. Dương văn Minh cũng chỉ là một bù nhìn, nhưng có nghĩa: kết liễu sự sụp đổ của miền Nam, để tránh thảm họa cho dân.

Cho nên quần chúng miền Nam đã thương hại cụ Hương mà biết ơn tướng Minh.

Hà Nội nhìn rất rõ tình trạng ấy. Trưa hôm 30-4-75, khi tướng Dương văn Minh lên tiếng đầu hàng để trao lại quyền lực nhà nước, Hà Nội đã chẳng bảo Dương văn Minh có quyền lực đâu mà đòi trao đổi để nói chuyện đầu hàng. 

Tuy nhiên, thảm cảnh Đầu hàng Cọng sản không phải chỉ mới xảy ra hôm 30-4-75.

Ngay từ khởi thủy chế độ Quốc gia Sài Gòn, Ngô Đình Diệm lo ngại không giữ quyền bính được lâu nên đã làm ngơ, rồi tàn hại, thành phần kháng chiến quốc gia và kỳ thị đồng bào Nam kỳ cũ. Thay vào hai thực lực nội tại ấy của miền Nam, mà chính ông đã thấy rõ lúc chưa cầm quyền, ông dùng hai thế lực ngoại tại (đối với miền Nam) là đồng bào di cư và Cần lao Công giáo, rồi dựa vào đó mà củng cố địa vị cá nhân và gia đình.

Không ai có thể chống Cọng sản miền Bắc mà không cần đến nhân dân miền Nam. Chỉ có Ngô Đình Diệm là không cần như thế. Tham vọng cá nhân đã là mục đích, chống Cọng chỉ là phương tiện để ông củng cố quyền lực cá nhân mà thôi. Vì chỉ là phương tiện nên đầu hàng Cọng sản bằng thỏa hiệp đã nằm trong tâm cảnh ông Diệm từ đầu.  Tướng tá tiếp sau ông dốt nát võ biền làm sao nhìn ra được bài học đó. Họ chỉ thêm được quyền lực địa vị như ông Diệm đã hưởng, đâu có chuyện miền Nam đối đầu với miền Bắc, nên họ cũng mang sẵn tâm cảnh đầu hàng rồi.

Ông Diệm bị giết, Thiệu Kỳ Khiêm và đám Cần lao Công giáo phục hồi chỉ có thể tiếp tục con đường tham quyền cố vị ông đã vạch. Họ nối theo ông đưa miền Nam đến chỗ chết vào trưa ngày 30-4-75. Nay trốn được kịp ra nước ngoài, dùng mọi phương tiện thừa thải trong tay để trâng tráo phỉ nhổ Dương văn Minh về cái tội đầu hàng Cọng sản miền Bắc.

Dương văn Minh đã không thoát thân, gánh chuyện ô nhục vào thân để cứu đồng bào thủ đô Sài Gòn. Rồi giữ im lặng trước những lời thóa mạ của chính những kẻ mà ông đã gánh thay điều ô nhục ấy.

Trong số các bạn, ai còn suy nghĩ đến quê hương đất nước, nếu xem đến bài “Đầu Hàng” nầy, xin xem thận trọng hơn là những người chỉ đọc cho vui. Hình như ông Dương văn Minh đang sống ở Pháp, Vân Xưa viết bài hôm nay hướng về ông và trân trọng ngỏ lời khiêm tốn biết ơn của một người chưa từng cùng ông quen biết hay gặp gở.

VÂN XƯA.

 

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........