curley_sw_03.gif (1967 bytes)   Nghiên Cứu và Đối Thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw_03.gif (1967 bytes)

.......... .


Vài lời của GĐ:

Chúng tôi nghe đồn có một vài vị trí thức thiên tả   “chê” Giao Điểm là “Phật giáo Hố Nai”. Về phương diện từ nghĩa và dụng ý của nhóm từ này, có thể được hiểu và diễn giải theo nhiều cách khác nhau. Chúng tôi lựa chọn cách hiểu tích cực để giải thích nhóm từ này: - đây là tập hợp của một nhóm Phật tử và trí thức ‘Công giáo Hố Nai’. Nếu quả là họ đã nghĩ như vậy thì thật đúng, không sai chút nào. Đúng ở chỗ, dù chúng tôi là một nhóm Phật tử - đã quy y với Tam Bảo hay chưa, không thành vấn đề. Cái chung ở chỗ chúng tôi tin tưởng con đường hòa bình bất bạo động của Phật giáo là chân lý muôn thuở. Đối với kẻ mê muội thì lấy trí tuệ để soi sáng, với kẻ dữ, kẻ ác lấy lòng từ bi mà độ lượng. Vì vậy, Giao Điểm là nơi hội ngộ, chỗ dừng chân không riêng của Phật tử, mà còn của những người từng tự nhận là những kẻ mê muội, kẻ dữ... cho nên hẳn quý độc giả đã không ngạc nhiên khi thấy xuất hiện nhiều bậc trí giả cộng tác với GĐ xuất thân từ Kitô giáo (Công giáo La mã hay Tin lành). Không có niềm hạnh phúc nào nào lớn hơn hạnh phúc của những người đã tỉnh thức, không có sự sung sướng nào vĩ đại hơn là được nói thật về sự sai trái mà bản thân và những kẻ thân thương mình đã cưu mang, về sự nguỵ tín của một tôn giáo mình đã vờ vĩnh tôn thờ.  Họ đến với Giao Điểm trong tinh thần tự nguyện, tự do thênh thang... Phải nói Giao Điểm là diễn đàn của những kẻ đã từng thể nghiệm về sự khổ đau và ý thức được cái cùng khổ đau của tha nhân và mang hạnh nguyện giải trừ sự khổ đau đó. GĐ còn là diễn đàn chung của tất cả những người thấp cổ bé miệng,  nghèo vật chất,  ít phương tiện, nhưng dư thừa hùng tâm và trí lực. Phản ứng trí thức của bạn Minh Nghị trong bài viết dưới đây trước những xảo ngôn và nguỵ ngữ của ông Nguyễn Huệ Nhật (Tin lành) là bằng chứng của cái chung đó.

(Bài viết này đã được updated theo lời đề nghị của tác giả.)

Phụ trách GĐ.

purcube_03.gif (374 bytes)

Ngỗng Chúa Uống Sữa Chừa Nước

Chí Ngộ Tiểu Hạ Ngu (Minh Nghị)

            đời có nhiều thứ để người ta buôn và bán, riêng trong lĩnh vực tín ngưỡng cũng không ngoại lệ: “Buôn Thần bán Thánh”, “Bán Trời không mời Thiên lôi” và nhiều câu nói tương tự để chỉ cho sự dối trá lộng giả thành chơn qua lớp áo tôn giáo; lợi dụng lòng tín ngưỡng, dùng cái “mâu” “nhân danh Thiên Chúa”, “nhân danh đấng Alah”, “nhân danh thập tự giá”, “nhân danh tình yêu” và nhân danh đủ mọi thứ trên đời...để tạo biết bao tội tày trời mà không hề sợ tội lỗi; núp phía sau tấm “thuẫn” “ơn tha thứ” nên được “tha hết mọi tội lỗi” “ơn cứu chuộc” nên được Chúa “gánh chịu mọi tội lỗi  trên thập giá” . Sau khi chết còn được “về nước Thiên đàng để hưởng mọi sự vinh hoa” trong cái gọi là “tình yêu thiêng liêng của Chúa, “của đấng Alah”...mà chúng ta đã chứng kiến trong lịch sử nhân loại những vụ tàn sát cuồng tín, giết người không gớm tay, lập toà án dị giáo, đập phá tượng Phật, đốt hủy kinh sách và kể ra không biết bao nhiêu điều mù quáng và quá khích. Gần đây nhất là vụ chính quyền Hồi giáo quá khích Taliban đã lì lợm phá hủy công trình văn hoá Phật giáo của Tổ tiên họ là hai bức tượng Phật khổng lồ ở Afganistan, và vụ khủng bố 911 tại Hoa Kỳ...

            Những dị biệt giữa các tôn giáo, các truyền thống tín ngưỡng, truyền thống văn hóa từ ngàn xưa qua sự thờ phượng, tu tập, lễ lạy, nghi thức cúng kính...là sự hiện hữu tất yếu; là hương sắc rực rỡ muôn màu muôn vẻ trong vườn hoa tâm linh của nhân loại; là những thắc mắc gắn liền với thân phận con người; là những trăn trở ngàn đời và cũng là đề tài tranh cãi, luận bàn bất tận...

            Không dừng lại ở đó, một số người đã biến những dị biệt nầy thành những hố sâu mâu thuẫn khi đem giáo điều và tín lý trong Kinh Thánh (niềm tin) nhằm so sánh đúng sai, cao thấp, thánh phàm với những giáo nghĩa (phương pháp tu tập), nghi thức thờ cúng, tập tục tín ngưỡng truyền thống của Phật giáo và các tôn giáo khác qua bài viết “Một Cựu Tu Sĩ Phật Giáo Làm Chứng Ơn Chúa” của tác giả Nguyễn Huệ Nhật (NHN), đăng trong đặc san Hướng Đi số 3 từ trang 79 đến trang 84.

            Một đầu óc bệnh hoạn, bất bình thường, trong một con người kiêu căng, ngã mạn khi tự khoe: “tốt nghiệp trường đào tạo tăng tài Phật học Viện Nha Trang và Đại Học Vạn Hạnh”… “Tôi cởi áo nhà tu. Tự xét lấy mình, tôi đã từng thất vọng trong con đường tu. Đã có khi tôi cảm thấy cần tìm một cái chết tự thiêu để giải quyết ngõ bí trong tâm hồn mình. Sau khi đọc hai quyển sách của nhà văn Hermann Hesse: Narsiz und Goldmund và Siddhata, tôi liều lĩnh cởi bỏ chiếc áo thầy tu để ra đời tìm hiểu những ý nghĩa mà tôi thắc mắc. Nhưng sau 15 năm quen sống trong chiếc áo tu hành, tôi trở thành một người thanh niên khờ khạo, vụng về, không thăng bằng và thất bại”…  Cộng với màn “tẩu hoả nhập ma” qua phái thiền ngoại đạo Pháp Hoa Hội Thượng (không phải của Phật Giáo): “Hơn 2 năm tu thiền, pháp môn thiền định  đã giúp tôi gặp Phật, gặp Chúa, gặp Ông Ghandi và gặp vô số loài vật cũng như bà con thân thuộc của mình trong quá khứ mù mờ. Hồi đó tôi nghĩ: hình như họ là kiếp trước của tôi” và không khác con vẹt học tiếng người thuộc làu không vấp một chữ “Y như trong Kinh”: “Những thói hư tật xấu của tôi được loại bỏ để được thay vào bằng những đức tánh mới mẽ nhân từ thánh khiết từ Đức Chúa Trời mà không cần phải khổ công tu luyện như trước đây... Để mặc khải ơn tha thứ, trước hết Ngài đã tha tội cho tôi. Để mặc khải tình yêu thiêng liêng, trước hết Ngài đã yêu tôi và gánh chịu tội lỗi cho tôi trên thập giá”…“Tôi thành tâm kêu gọi anh chị em mạnh dạn trở về trong Chúa Jesus Christ để nhận ơn tha tội, để được tái sinh, để được sự sống đời đời và nhận lại được bản tính nhân lành của Cha thiên thượng. Bất cứ ngày nào còn sống, tôi muốn nói lên chân lý nầy và bất cứ lúc nào lìa khỏi xác thân để trở về với Chúa là tôi được hưởng nước trời vĩnh cữu”…“Gặp Chúa là vô cùng hạnh phúc, không ai có thể ngậm miệng, không ai nỡ mặc nhiên chấp nhận những ý kiến chung chung cho rằng “đạo nào cũng tốt, đạo nào cũng dạy làm lành lánh dữ”. Thế gian có nhiều tôn giáo mê tín sai lầm, cũng có tôn giáo dạy điều sai lạc; nếu không dứt khoát trở về trong Chúa, con người chúng ta không thể giải quyết được vấn đề tội lỗi của mình và chỉ tiếp tục sống trong mù mờ tăm tối cho đến khi linh hồn hư mất trong tối tăm! Kính mong anh chị em sớm trở về trong Chúa Jesus Christ để được hưởng tiên vị thiên đàng ngay hôm nay”

            Đây là một “quái thai nữa người nữa ngợm” được “Nhóm chủ trương Hướng Đi” cho xuất đầu lộ diện với một tay cầm cây “giáo”Làm chứng ơn Chúa”  để đâm thọc, xuyên tạc Phật giáo và những truyền thống tín ngưỡng, văn hóa bản địa… còn tay kia cầm tấm “khiên”Ơn tha tội” để che dấu hành tung, phủi tay rảnh nợ và đứng trong vùng cấm địa “Đấng xét đoán bất cứ ai cứng lòng và vô tín”  nên “phải biết kính sợ Thiên Chúa” để làm chỗ dựa an toàn; đoan chắc là không ai dám đụng đến vì lý do tế nhị và mẫn cảm trong việc tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng.

            Có lẽ đã quen sống trong một môi trường mà thông tin bị bưng bít, thông tin một chiều theo kiểu chỉ biết vâng lời, phục tùng và sợ hãi; ở một nơi mà độc quyền và thần quyền cai trị; nơi lấy tuyên truyền, nhồi sọ, tẩy não làm chủ trương; lấy ngu dân làm chính sách và lấy nói dối, lừa gạt làm lẽ sống còn; như con ngựa bị che hai mắt; chỉ biết có con đường trước mặt và mãi cắm đầu chạy tới mà quên rằng xung quanh còn biết bao thứ mà cả đời nó chưa thấy, chưa biết hoặc biết mà biết không đúng với lẽ thật; nên NHN đã xem thường độc giả; đánh giá quá thấp kiến thức, trình độ phật học của đại chúng và phật tử khi viết như sau:   

            Khi ngồi thiền, thái tử (Tất Đạt Đa) đã thấy những hiện tượng nội tại như ngày nay nhiều người ngồi thiền cũng đã thấy. Từ đó Ngài nghĩ rằng mình đã thành Phật. (Ngày nay một số người ngồi thiền cũng tự xưng mình đã thành Phật). Giáo lý của Ngài bị các thế hệ đến sau thêm thắt quá nhiều khiến cho mâu thuẫn và bị mê tín hóa. Ví dụ Phật giáo Việt Nam có quá nhiều điều không bà con gì với Phật giáo Ấn Độ. Các bộ kinh của Phật chỉ được truyền khẩu qua nhiều thế kỷ trước khi được ghi lại bằng trí nhớ của môn đệ. Đó là lý do khiến kinh Phật bị thất bản và bị thêm thắt thành “thiên kinh vạn quyển” khiến nhiều người học đạo đã lạc đường rồi mà vẫn chưa hay biết gì cả, hoặc có biết phần nào thì cũng cam chịu nhắm mắt đưa chân”....

            Giáo lý quan trọng đầu tiên của đạo Phật là Chân Lý Của Sự Đau Khổ. Muốn diệt đau khổ thì phải diệt sanh sản (diệt dục), diệt già nua (diệt lão), diệt bệnh tật, diệt sự chết. Nhưng chưa đủ, còn phải diệt thương yêu (ái nghiệp), diệt ham muốn (tham), diệt giận hờn (sân si). Muốn diệt khổ tuyệt đối thì phải diệt luôn cả ý muốn thành Phật (vì ai muốn thành Phật là còn tham!)”…

            Chúa dạy phải hiếu kính cha mẹ khi họ còn sống với mình, còn đạo Phật dạy cắt ái từ sở thân (lìa bỏ tình thương cha mẹ) như Đức Thích Ca đã lìa bỏ cha mẹ vợ con, nhưng lại thờ cúng cha mẹ sau khi họ đã qua đời. Chúa dạy chúng ta lấy thân thể mình để làm đền thờ Ngài, nhưng Phật giáo dạy sự thờ phụng hình tượng trên bàn thờ gỗ, đá, xi măng. Chúa dạy con người dâng lời cầu nguyện để mở lòng tương giao với Chúa, nhưng Phật giáo dạy dâng nhang đèn trầm hương lễ vật lên hình tượng để bày tỏ lòng thành.”

            Phần đông tín đồ Phật giáo không hiểu giáo lý của Phật mà chỉ nghe theo các vị tu sĩ”…

            Đức Chúa Trời là Đấng tạo dựng ra vũ trụ và loài người. Các vĩ nhân như Khổng Tử, Lão Tử, Đức Thích Ca đều là người như chúng ta; vì thế, những tư tưởng của họ vẫn có giới hạn nhất định.”…

            Hành xử đúng đắn quyền tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận để rao giảng những điều mình tin là một việc làm đáng khen. Nhưng ngược lại, lạm dụng để chỉ trích và hạ thấp những điều người khác tin; chỉ có đạo của mình, đối tượng tôn thờ của mình là cao cả hơn hết, là thánh; còn của người khác là thấp hơn, là phàm...là một việc làm ấu trĩ; không phù hợp với thời đại văn minh hiện nay. Đó cũng là nguyên nhân dẫn đến những xung đột tôn giáo, những hành động cuồng tín và tương tàn cũng chỉ vì để bảo vệ đạo mình là chân lý, đấng mình tôn thờ là cao tột trên hết...

            Không được may mắn như “cựu tu sĩ Phật giáo” NHN “tốt nghiệp trường đào tạo tăng tài Phật học viện Nha Trang và tốt nghiệp đại học Vạn Hạnh” (theo nguyên văn bài viết của tác giả)  Chúng tôi chỉ là ngư phủ ở một làng đánh cá duyên hải Nam Trung Phần. Lớn lên trong tình thương của biển cả nên tính tình chất phác và hiếu khách như muối mặn thắm vào da thịt; trọng điều nhân nghĩa như hơi thở chở gió lộng đại dương. Lấy trường “Đời” làm trường đại học; lấy “Mười Điều Tâm Niệm” làm trường đào tạo “Nhân Tài”. Vì thế, trước cảnh “trái tai gai mắt” không cầm được lòng; đành phải mượn lời Cổ Đức mà khuyến tĩnh, hầu trước là răn mình; sau nữa nhắc người. Hai chữ Phật Pháp mới bặp bẹ chưa rành nữa chữ; dám đâu lớn tiếng, nặng lời, chê bai, khinh ghét... Vã lại “Bảy mươi chưa khoe mình lành” thì càng nên dè dặt, ý tứ.. Thường được song thân nhắc nhỡ: “Chó ba khoanh mới nằm, người uốn lưỡi bảy lần mới nói” thì càng phải cẩn ngôn, không khéo mang tội vọng ngữ. Khó thay! Khó thay!

            Dù chưa đủ phước duyên nương chốn tòng lâm; cũng xin nguyện học theo đức nhu hòa, nhẩn nhục và khiêm tốn. Lấy hạnh ái ngữ và vô tranh làm chất liệu chuyển tải những gì muốn nói và muốn viết. Lấy Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ...trong Bát Chánh Đạo làm kim chỉ nam cho bài viết này.

            Chúng tôi xin chia xẻ một lời dạy rất hay nhằm đả phá về ý niệm tự tôn tự đại về tôn giáo của mình, về nhận thức của mình, về điều mà mình cho là chân lý.  Đó là giới thứ nhất trong 14 giới cho dòng tu tiếp hiện mà Hòa Thượng Nhất Hạnh đã chắt lọc lại tinh hoa của văn học đại thừa và bồ tát giới để hình thành; như sau: “Ý thức được những khổ đau do thái độ cưồng tín và thiếu bao dung gây ra, con nguyện thực tập để đừng bị vướng mắc vào bất cứ một chủ nghĩa nào, một lý thuyết nào, một ý thức hệ nào, kể cả những chủ thuyết Phật giáo. Những giáo nghĩa Bụt dạy phải được nhận thức như những pháp môn hướng dẫn thực tập để phát khởi tuệ giác và từ bi mà không phải là những chân lý để thờ phụng và bảo vệ nhất là bảo vệ bằng những phương tiện bạo động”.

             Trong phần dẫn nhập, tác giả NHN viết: “Tôi vào chùa tu học. Từ khi còn bé tôi đã thắc mắc tại sao linh hồn người chết có thể về ăn đồ cúng? Tại sao khi sống thì con người bất lực, nhưng sau khi chết thì linh thiêng và có thể phù hộ hoặc gieo họa cho bà con thân quyến? Những thắc mắc nầy thúc đẩy tôi vào chùa tu học. Trong chùa có bàn thờ một vị bồ tát có nét mặt dữ tợn, cái lưỡi của ông dài hơn lưỡi rắn. Tên ông là Tiêu diện đại sĩ. Theo giáo lý nhà chùa thì đây là vị thần cai trị các linh hồn vất vưởng đói rách không được ai cúng thức ăn (cô hồn). Mỗi buỗi kinh chiều, nhà chùa cúng một bát cháo lỏng đặt ngay bàn thờ ông Tiêu diện và tụng bài kinh thí thực. Niềm tin nầy rất thích hợp với người bình dân Việt Nam.”

            Chùa, Thiền môn, ngôi già lam, tu viện, thiền viện...là nơi trang nghiêm, thanh tịnh, uy nghi; dù ai đau khổ, chán chường, thất vọng; dù bận rộn, đa đoan...khi vừa bước chân đến cổng chùa là lòng đã cảm thấy thanh nhẹ, vui tươi, bình an, buông bỏ mọi ưu phiền sau lưng để:

            Lắng lòng nghe, lắng lòng nghe, tiếng chuông huyền diệu đưa vế nhất tâm.*

hoặc:

            Nghe chuông phiền não tan mây khói
            Ý lặng thân an miệng mỉm cười
            Hơi thở nương chuông về chánh niệm
            Vườn tâm hoa tuệ nở xinh tươi.*

và:

            Nghe tiếng chuông
            Lòng nhẹ buông
            Tâm tĩnh lặng
            Hết sầu thương
            Tập buông thả
            Thôi vấn vương
            Lắng nghe thấu
            Tận nguồn cơn
            Học nhìn lại
            Hiểu và thương.
            Nam Mô Đức Bồ Tát Lắng Nghe Quan Thế Âm.*

            Ngược lại, một vị tu sĩ với 15 năm khoác áo nhà chùa; mà chỉ biết có ông Tiêu diện đại sĩ, nét mặt dữ tợn, cai trị cô hồn... Còn ngay trong đại hùng bữu điện thanh tịnh trang nghiêm; sừng sững nét uy nghi, tự tại của Đức Thế Tôn; bậc Giác Ngộ, Đại Hùng, Đại Lực, Đại Từ, Đại Bi , Đại Hỹ, Đại Xã …lại bị bỏ quên không màng nhắc tới. Ôi đáng thương biết dường nào cho “một cựu tu sĩ Phật giáo”! Chùa đâu phải  là nơi chỉ để cúng cô hồn các đảng! Chỉ thấy cái diện để bôi bác (cúng thí thực cô hồn, ngạ quỷ…) mà không biết cái điểm để kính ngưỡng (lòng từ bi, chan rãi tình thương đến cùng khắp chúng sinh đang đói khát…)

            Tác giả Nguyễn Huệ Nhật (NHN) đã tự xưng mình là một “cựu tu sĩ Phật giáo” vì: “Tôi cần mẫn học từng bậc, đến khi tốt nghiệp trường đào tạo tăng tài Phật Học Viện Nha Trang và đại học Vạn Hạnh, tôi tự cảm thấy mình đi tu như thế vẫn không tiêu diệt bớt tội lỗi trong tôi. Chưa kịp tiêu diệt tội củ, tội mới ló mặt ra trong tôi. Nếu có địa ngục chắc tôi phải vào trước nhất. Làm một ông thầy tu phải biết che dấu tội lỗi để được các đệ tử thờ lạy khi mình còn sống. Người tu hành sau khi đã lên tới bậc Đại Đức thì khó hoàn tục, vì được hưởng sự kính trọng quá cao và hưởng nhiều ưu đãi quá lớn”...  

            Xin thưa, Đạo Phật là đạo chuộng thực hành, dạy tu tập để chuyển hoá thân và tâm, chớ không phải là những tín điều buộc phải tin. Vì thế, học thuộc làu vài ba quyển kinh, lấy vài cái văn bằng rồi đòi làm Thầy thiên hạ để được mọi người quỳ lạy; là những vọng tưởng, phóng cuồng...  Người mới phát tâm tu mà với tâm ý kiêu mạn, hẹp hòi như thế không xứng đáng ở trong hàng ngũ tăng đoàn; gọi là Tăng thượng mạn. Đương sự cần được giáo dục và phải phát lồ sám hối và tự sám hối. Đức Thế Tôn là vị Thầy dẫn đường chớ không phải là vị Thần linh; dùng thần quyền bắt mọi người phải kính sợ, tuân theo những điều răn cấm...Người tu xuất gia gọi là Trưởng tử của Như lai, là khất sĩ khất thực (xin ăn); vì hạnh Đại Từ Đại Bi thương chúng sanh mà đi tu, vì hạnh Đại Hỹ Đại Xã cứu hàm thức mà xuất gia; thì làm gì có chuyện ưu đãi, quyền hành, chức tước, địa vị, quyền lợi....như NHN đề cập! (Còn hàng giáo phẩm là tùy thuận thế gian để lập cơ cấu điều hành phật sự, chớ không phải là chỗ phân định giáo quyền như các tôn giáo khác.)

            Trong đạo Phật có một câu nói rất hay: “Kính thầy mới được làm thầy, kính thầy vẫn kém thầy nữa đức”. Quỳ lạy một vị Thầy là hành động của Trí-Tuệ chớ không phải là ám muội, sợ hãi, cầu khẩn, van xin... Quỳ lạy để thể hiện cái Dũng trong việc thực tập tính khiêm hạ; nguyện tu học để được đầy đủ công đức, oai nghi, tế hạnh trong tinh thần tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn. Quỳ lạy là lạy cái Đức, cái Hạnh của vị Thầy; lạy để biểu hiện lòng tri ân với người có công dạy dỗ mình. Vậy Đức, Hạnh đó ở đâu! Và vị Thầy ngồi đó cho đệ tử đãnh lễ là thể hiện đức Từ, Bi, Hĩ, Xã; thực tập tính Vô Ngã, là quán chiếu tính Vô Tướng của tứ tướng: vô tướng Nhân, vô tướng Ngã, vô tướng Chúng sanh và vô tướng Thọ-Giả, là để nguyện độ cùng khắp chúng sanh, tạo cơ duyên lành cho những ai muốn thực tập nghi thức đãnh lễ làm phương tiện tu học.

            Quỳ lạy đến chỗ Tánh Tướng viên dung, vô ngại: “Năng lễ, sở lễ, tánh không tịch, cảm ứng đạo giao nan tư nghị” là một pháp tu quán chiếu sâu sắc trong nghi thức lễ lạy. Trên bình diện tích môn thì có sự hiện diện của mình đây là người lạy (năng lễ) và có đối tượng được lễ lạy kia như Thầy mình, hay vị Bồ tát, hay chư Phật, hay Tổ tiên, Ông Bà Cha Mẹ...(sở lễ). Nhưng bước vào bình diện bản môn; thì bản tánh vốn trống rỗng, tịch lặng; không còn bị vướng kẹt vào bất cứ khái niệm nào về  “đây” và “kia”; đồng thời vừa là “đây” vừa là “kia”; “đây” có mặt trong “kia” mà “kia” cũng có mặt trong “đây”. Thí dụ mình lạy trước bàn thờ Tổ tiên; đâu phải mình lạy cái bàn thờ vô tri đó với mớ lễ vật lỉnh kỉnh đó; mà Tổ tiên mình cũng đâu phải ngồi trên bàn thờ đó. Trang trí bàn thờ cho trang nghiêm để giúp mình có chánh niệm và tĩnh thức; mà chính ngay nơi mình đây cũng đã có sự hiện diện của Tổ tiên từng giờ từng phút, từng tế bào, từng hơi thở nầy...và mượn cái hiển để bày cái ẩn; nương theo nghi thức lễ lạy mà thể hiện tấm lòng cung kính, biết ơn...Trong mình có sự hiện diện của Tổ Tiên; trong Tổ tiên có sự hiện diện của mình. Sự cảm ứng tương giao nội tại trong cung cách thể hiện ý nghĩa siêu thoát ấy vượt ngoài khả năng nghĩ bàn. Ông bà Tổ tiên làm chứng cho tấm lòng thành của con; con nguyện làm một con người tốt để Tổ tiên luôn hãnh diện; không làm điều gì sỉ nhục gia phong... Đó là cảm ứng đạo giao; làm sao diễn tả được, nên nói là bất tư nghị. Tại mình không chịu nghiên cứu, đào bới cái kho tàng tâm linh đồ sộ vô tận của tiền nhân. Nên bơi trong dòng sông mà than khát nước! Đó cũng là chỗ mà “Ngỗng Chúa uống sữa chừa nước” đó! Đó cũng chính là chỗ mà “Đức Chúa dạy lấy thân thể mình làm đền thờ Ngài, mở lòng tương giao với Ngài”.

            Như vậy thì truyền thống tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên có gì là không đứng đắn, không hợp với đạo lý mà tìm cách xuyên tạc? Bàn thờ, hình tượng gỗ, đá, xi măng...nhang, đèn, trầm, hương, lễ vật...có lỗi gì mà bài bác?  Thấy cái diện mà không biết cái điểm, thấy cái hiển mà không biết cái ẩn. Chỉ thấy bùn sình hôi thúi mà không biết từ đó mà hoa sen mọc lên tỏa hương thơm ngát. Thấy đất quặng mà không biết quý kim lẫn bên trong để đãi lọc, vứt bỏ đất quặng là vứt bỏ cả quý kim mà không biết. Người mà suy nghĩ và hành động như vậy là người như thế nào? Vậy cái gì là 4000 năm văn hiến?  Thế nào là Tam Giáo Đồng Nguyên? Đâu là sữa, đâu là nước mà Ngỗng Chúa chỉ uống sữa chừa nước?

            Ông bà xưa mình cũng đã từng dạy để Đức cho con cháu, hoặc ăn ở cho có Đức, chớ đâu có dạy ăn ở cho có quyền đâu! Quyền thì có đó mất đó, nhưng Ân Đức thì lâu bền. Người có quyền thì có uy, nhưng cái uy đó không bền vì là do quyền lực nên người ta sợ, hoặc bắt người ta phải kính sợ, đó là một sự áp đặt, khi hết quyền thì uy biến mất. Điều nầy thấy rất rõ. Còn nét uy nghi khiến người ta kính mà không phải sợ là từ Ân từ Đức mà có, uy nằm sẵn ngay trong đó nên “khẩu phục tâm phục”, không có ai bắt buộc cả. Cho nên  thực hiện nghi thức lễ lạy là do tin tưởng, ngưỡng mộ, khâm phục, là vì “khẩu phục tâm phục” người đó, chớ không phải sợ hãi. Đức của vị Thầy cao vời vợi, Ân của vị Thầy lớn rộng, bao la...nên qua nghi thức đó mà kính dâng lòng thành của mình để được chứng giám và nguyện gia công bồi đức để được như vị Thầy vậy. Cả một đặc tính văn hóa đặc thù của tiền nhân, của Tổ tiên tâm linh để lại mà con cháu không biết duy trì và phát huy, thì thật là đáng trách!

            NHN diễn tả việc thọ trai ở nhà chùa như sau: “Mỗi khi ăn cơm, người tu hành đọc ba câu thề nguyện mà không một ai tin mình làm được. Thậm chí người ta đọc quen đến nổi không cần một ý niệm tha thiết chân thành. Một là từ bỏ tất cả việc ác, hai là làm trọn tất cả việc lành, ba là hóa độ tất cả chúng sanh.”

            Nghi thức thọ trai của Phật giáo rất trang nghiêm và mang tính cúng dường, tri ân và hồi hướng vô cùng cao quý. Tuy có khác nhau đôi chút tùy theo truyền thống tu tập, phong tục mỗi nơi. Ăn không có nghĩa là ăn cho riêng mình, cho xong việc; mà là một sự thực tập thiền quán trong không khí im lặng, trong chánh niệm và quán chiếu. Kímh mời quý vị lắng lòng quán niệm một bài kệ thường đọc trong các bữa cơm chánh niệm mà chúng tôi có duyên được tham dự để thấy những nét đẹp và đáng trân quý của Thiền môn:

            Năm Quán
            Thức ăn nầy là tặng phẩm của đất trời và công phu lao tác     
            Xin nguyện sống xứng đáng để thọ dụng thức ăn nầy
            Xin nhớ ngăn ngừa những tật xấu, nhất là tật ăn uống không có chừng mực
            Chỉ xin ăn những thức ăn có tác dụng nuôi dưỡng và ngăn ngừa bệnh tật
            Vì muốn thành tựu đạo nghiệp nên thọ nhận thức ăn nầy.*

            Trong đạo Phật có một quy chế có ý nghĩa rất là hay gọi là Tam Thường Bất Túc, ba cái thường ngày như ăn, mặc và ngủ phải thiếu, hoặc vừa đủ. Ăn có thiếu hay ăn vừa đủ mới biết quý trọng thức ăn do đàn na thí chủ cúng dường cho mình để luôn quán chiếu công ơn đó mà chuyên cần tu học để không phụ công ơn nuôi dưỡng. Mặc chỉ vừa đủ ba y để đủ ấm, đủ che thân, để giảm thiểu sự phô trương và luôn biết ơn người may, dệt. Ngủ vừa đủ để không bị lôi cuốn hưởng thụ và dành thì giờ cho việc tu tập như tọa thiền, tụng kinh, sám hối...Người tu xưng mình là Tỳ kheo, tức là khất sĩ; kẻ xin ăn, mà xin ăn là một hình thức gíúp người cho mình ăn tức là những thí chủ có cơ hội gieo duyên lành với Phật pháp, gọi là gieo phước điền; cho nên, nếu NHN ứng dụng được những lời dạy đầy đạo lý và đầy nhân tính tương duyên này thì làm gì có chuyện mong đi tu để được đệ tử quỳ lạy, đi tu “vì được hưởng sự kính trọng quá cao, hưởng nhiều ưu đãi quá lớn”.

            Theo như NHN thì động cơ vào chùa chỉ vì tò mò, tọc mạch những chuyện vớ vẫn như: “tại sao linh hồn có thể về ăn đồ cúng? Tại sao con người sau khi chết thì linh thiêng và có thể phù hộ hoặc gieo họa cho bà con thân quyến?..Những thắc mắc nầy thúc đẩy tôi vào chùa tu học”.

            Một người với tâm đạo hời hợt như thế thì làm sao có đủ dũng chí xuất gia cầu đạo như những bậc đồng tu đến với đạo bằng con đường trí huệ và từ bi! Điều đó chứng tỏ NHN không đủ phước duyên, căn cơ cạn cợt, chẳng qua vì hoàn cảnh nhằm lúc loạn ly mà phải chịu xuất gia, khoác áo nhà chùa để được miển quân dịch, nên đâu thấy hết ý nghĩa của chiếc áo cà sa, tuy mang màu hoại sắc; nhưng chứa hạnh giải thoát vô cùng cao quý!

             Phật hóa hữu duyên nhân”. Phật độ cho người có duyên. Nghe có vẻ như mâu thuẫn với tận độ chúng sanh. Nhưng đúng vậy! Vì căn tánh chúng sanh không đồng; phật pháp cũng tùy thuận mà giáo hóa nên gọi là tùy duyên. Ai chưa có đủ duyên thì không cuỡng ép; như trong kinh Pháp Hoa có ghi rõ: “Khi Phật sắp nói pháp tối thượng thừa khó tin, bấy giờ có năm ngàn thính chúng, cho rằng mình đã được giải thoát, không cần phải nghe, nên bỏ ra đi. Đức Phật chẳng hề nổi giận truy cứu hay trách phạt, Ngài chỉ nói: “Cơ duyên của họ chưa thành thục, nếu nghe mà không tin ắt đưa đến phản cảm, tăng gia tội nghiệp, chẳng bằng để họ ra đi”.

            NHN viết: “Tôi cởi áo nhà tu. Tự xét lấy mình, tôi đã từng thất vọng trong con đường tu. Đã có khi tôi cảm thấy cần tìm một cái chết tự thiêu để giải quyết ngõ bí trong tâm hồn mình. Sau khi đọc hai quyển sách của nhà văn Hermann Hesse: Narsiz und Goldmund và Siddhata, tôi liều lĩnh cởi bỏ chiếc áo thầy tu để ra đời tìm hiểu những ý nghĩa mà tôi thắc mắc. Nhưng sau 15 năm quen sống trong chiếc áo tu hành, tôi trở thành một người thanh niên khờ khạo, vụng về, không thăng bằng và thất bại.”

            Nhân gian có câu ca dao hay hay, giống như việc hoàn tục của NHN:

            Ví dầu tình bậu muốn thôi
            Bậu gieo tiếng dữ để rồi bậu ra  

            Người Mỹ cũng có câu nói nầy cũng hay:

Easy come easy go”; Cái gì đến dễ, thì đi cũng dễ! Xuất gia dễ thì hoàn tục cũng dễ, như mặc cái áo; không thích thì cởi, mà “liều lĩnh cởi” thì tội cho nhà chùa quá! Có ai bắt mặc đâu, có ai bắt bỏ cha bỏ mẹ để đi tu xuất gia đâu!

            Lục Tổ Huệ Năng nhận y bát từ Ngũ Tổ Hoàng Nhẫn xuôi về Nam lúc Ngài còn là cư sĩ. Ngài Tuệ Trung đâu cần xuất gia cũng được tôn xưng là Thượng Sĩ. Ngài Suzuki có vợ, có con, đâu có ở trong chùa ngày nào vẫn được tôn là Thiền sư. Quý Ngài đâu cần mặc áo ca sa mới tu được.

            Trong 10 điều tâm niệm cũng có dạy: “Việc làm đừng mong dễ thành, việc dễ thành thì lòng ắt khinh thường, ngạo mạn”. Đi học trường Phật học để lấy bằng tốt nghiệp, để thành một “tu sĩ bằng cấp” thì dễ; nhưng trau dồi đức hạnh để là một Tăng Tài lại là chuyện khác. Đây chỉ mới nói đến Tăng Tài chứ chưa dám nói đến Tăng Đức, Tôn Ðức, Hiền Thánh Tăng... đó mới gọi là Tăng Bảo, chớ đâu phải  “Tăng bảo là hàng ngũ tu sĩ ...là hàng ngũ đáng tôn thờ” theo cái nhìn cạn cợt và loạn tưởng của NHN. Như gieo hạt rồi bỏ thí; không chịu chăm sóc, vun bón, tưới tẩm mà mong có trái ăn liền! Cứ vô trong “hàng ngũ tu sĩ” là được “đáng tôn thờ, được người ta quỳ lạy”!

            Tu xuất gia là gia nhập vào Tăng Đoàn tức là “đoàn thể của những người nguyện sống cuộc đời tĩnh thức”. Xuất là xuất cái tiểu gia đình, để hòa nhập vào cái đại gia đình BI TRÍ DŨNG, với hành trang Lục Hòa Kính: Thân Hòa Kính, Khẩu Hòa Kính, Ý Hòa Kính, Giới Hòa Kính, Kiến Hòa Kính và Lợi Hòa Kính mà bước vào Nhà Như Lai, Mặc Áo Như Lai, Ngồi Tòa Như Lai. Một hành động cao cả phi thường, một sự tự nguyện sáng suốt, một phước duyên nhiều đời do phát nguyện kiên cố chớ đâu phải chuyện đùa như chán đời, thất tình, trốn lính.. mượn nhà chùa để làm bại hoại, mang tiếng cho chùa như “cựu tu sĩ” đã từng làm, mà không biết cẩn ngôn!

            Đẹp thay áo giải thoát   
            Áo ruộng phước nhiệm mầu
            Con cúi đầu tiếp nhận
            Đời đời nguyện mang theo.*

            Đó là hình ảnh trang nghiêm, cao quý trong buổi lễ truyền giới cho bậc Sa Di vừa được tiếp nhận vào trong đoàn thể của những người xuất gia. Là một sự may mắn cho chính bản thân, gia đình và giòng họ khi được sinh làm người, được gặp Bụt, Pháp và được tham dự vào sự sống của Tăng đoàn.

            Tu Phật tức là tu giác ngộ thì đâu phải đợi cạo đầu, mặc áo ca sa mới là người tu, đó cũng chỉ mới là hình tướng bên ngoài. Tu tâm, sữa tánh mới là cái gốc của sự tu. Một người Việt Nam có bệnh cần mua thuốc Tây uống, họ đâu cần ăn mặc như Tây, sống nhà Tây, đi xe Tây hoặc bỏ cha bỏ mẹ sang tận bên Tây ở mới trị nhẹ bệnh; mà chỉ cần chịu nghe theo lời khuyên bảo của vị thầy thuốc và chịu khó uống thuốc đều đặn là nhẹ bệnh. Cũng vậy, phiền nảo là bệnh của chúng sanh; Phật pháp là những toa thuốc để trị bệnh; bệnh nào thì có thuốc nấy; chớ đâu cần cầu xin, van vái để được ban phước, xin đừng giáng họa. Đức Phật là vị thầy thuốc, là vị thầy dẫn đường; chớ Ngài không phải là vị Thần ban phước, giáng họa như những người lợi dụng lòng tin mù quáng dụ dỗ.

            Tu là chuyển hóa thân và tâm; hành là thực tập, là đem những điều hay, lẽ phải của chư Phật, chư Tổ, chư Thánh Hiền, chư Tôn Đức dạy mà áp dụng, sữa đổi từ xấu thành tốt, từ dữ thành lành...Tu từ việc làm dù nhỏ cũng phải dè dặt cho đến lời nói dù một câu cũng phải cẩn ngôn và quán chiếu từng ý tưởng nhỏ nhiệm; gọi là tam nghiệp thân, khẩu, ý...Chỉ những việc bình thường trong nhà chùa mà NHN kể ra có vẻ như bôi bác, đùa cợt; mà không hiểu ý nghĩa thâm trầm trong từng hành động, cử chỉ nhỏ mà chư Tiên Đức muốn chỉ dạy: “Mỗi sáng thức dậy, ai quên đọc câu thần chú trước khi đặt chân xuống đất là mắc tột sát sanh vì vô tình đạp chết côn trùng trong ngày đó. Hoặc quên đọc câu thần chú uống nước là mắc tội ăn thịt 8 vạn 4 ngàn con vi khuẩn trong một ly nước. Cạo đầu mà không đọc thần chú cũng có tội. Ở chùa ăn nhiều rau. Lắm lần tôi thấy sâu chết trong rau muống luộc. Luộc những nồi rau to tướng như thế là giết rất nhìều sinh vật, thế nhưng không ai học câu thần chú luộc rau cả.”

            Người tinh ý là biết ngay; đọc câu thần chú trước khi đặt chân xuống đất có nghĩa là gọi mời Chánh Niệm, là nhắc nhở mình trước khi làm việc gì luôn luôn nhớ làm trong chánh niệm; thân đâu thì tâm đó, không nghĩ vẫn vơ khi đang làm một việc. Khi bước chân xuống đất; từng bước, từng bước trong chánh niệm, tĩnh thức:

            Thức dậy miệng mỉm cười
            Hăm bốn giờ tinh khôi
            Xin nguyện sống trọn vẹn
            Mắt thương nhìn cuộc đời

            Bài thần chú đã được thầy Nhất Hạnh thay bằng bài kệ ngũ ngôn trên. Sáng tạo và tuyệt vời không!

            Còn trước khi uống nước đọc thần chú; công năng của thần chú đâu phải là cứu sống 8 vạn 4 ngàn con vi khuẩn trong ly nước đó đâu; mà là pháp tu Chánh Niệm. Mượn câu thần chú để chú ý và nhờ đó mà biết là mình đang uống nước; bởi vì nhiều khi miệng thì uống nước mà tâm ý rong ruổi đâu đâu, nhớ trời nhớ mây, nghĩ đông nghĩ tây. Cũng vậy cạo đầu mà đọc thần chú là có Chánh Niệm trong lúc cạo đầu, là luôn nhắc nhở để tinh tấn tu học; ý thức vô thường trong từng hơi thở. “Không đọc thần chú cũng có tội” là tội vô ơn. Ơn Chư Phật, Ơn Thầy Tổ, Ơn Cha Mẹ, Ơn đàn na thí chủ cung dưỡng...Đọc thần chú để nhắc nhỡ lập Hạnh Hiếu Sinh, bồi Đức Hiếu Sinh; chan rãi tình thương đến cùng khắp chúng sinh. Ôi! Cao cả biết bao; đẹp đẽ biết bao và phước đức biết dường nào cho những ai được trưởng dưỡng trong một môi trường tu học: “đoàn thể của những người nguyện sống cuộc đời tĩnh thức”! Đó cũng chỉ mới là phần nhập môn sơ đẳng mà NHN đã quờ quạng rồi thì nói chi chuyện giáo lý cao siêu như: “Khi học đến giáo lý cao siêu, tôi được dạy rằng không có tội lỗi, không ai tha tội cho ai, không có địa ngục, không có niết bàn, không ai dựng nên vũ trụ vạn vật mà chỉ do tâm con người tạo ra.”

            Cho nên Người Xưa rất dè dặt “Y kinh giải nghĩa tam thế Phật oan, nhất tự ly kinh tức đồng ma thuyết”. Không khéo thành ra phỉ báng Kinh, phỉ báng Phật; tội xiển đề đọa nặng lắm! Đức Chúa cũng có dạy: “Hảy thấy cây kim trong con mắt ngươi chớ thấy cây xà ngang ở nhà người”. Việc nhỏ làm chưa xong đòi làm việc lớn; những việc nhỏ, tầm thường hàng ngày trong nhà chùa mà chưa hiểu tường tận mà đòi học giáo lý cao siêu thành ra hiểu sai nghĩa; rồi đổ thừa Phật giáo dạy cái gì cũng không hết; gọi là Chấp Không. “Chẳng thà chấp Có như núi Tu Di, còn hơn chấp Không như hạt cải” là vậy!

            Một Thiền sư Trung Hoa đã cảnh tĩnh: “Thật tế lý địa bất thọ nhất trần, Vạn hạnh môn trung bất xã nhất pháp”. Đừng có thấy chỗ lý không tột cùng đó mà tưởng là không có gì hết, rồi mặc tình bắt chước làm những chuyện cuồng loạn; mà phải hết sức dè dặt từng chút một, không dám xem thường bỏ sót một hạnh nào. Từ chỗ liễu ngộ được Tánh Không, Tướng Không của vạn pháp mà lập vạn hạnh, mà bồi vạn đức. Lập vạn hạnh, bồi vạn đức mà không thấy có một hạnh để lập, một đức để bồi , ấy mới gọi là lập hạnh, bồi đức.  Hạnh xỏ kim của Đức Thế Tôn, hạnh lễ lạy Phật của thiền sư Hoàng Bá...Gương xưa còn đó. Khéo thay! Khéo thay!

            Ông bà xưa mình cũng đã từng dạy rất kỹ về hạnh kiểm, đức dục, nết na,  ý tứ… như chưa nói đã cười, chưa đi đã chạy, vụt chạt, vô ý vô tứ...là để chỉ cho việc thiếu Chánh Niệm; thân một nơi mà ý một nẻo; thân ở đây mà tâm ở kia. Như vậy Chánh Niệm đâu phải là sản phẩm gì của riêng Phật giáo đâu; Chánh Niệm đâu phải do quý Thầy bày ra; mà nó là lẽ thật hiển nhiên; là kho báu có sẵn chỉ việc khéo đem ra dùng mà thôi. Chánh Niệm là công thức để giải bài toán phiền nảo; ai khéo biết xữ dụng thì được an lạc, lợi lộc; như “Ngỗng Chúa uống sữa chừa nước” vậy! Vấn đề còn lại là thực hành miên mật, tinh chuyên, rốt ráo hay không thì còn tùy. Lý thuyết bao giờ cũng hay cả! Chúng tôi được quý Thầy chỉ dạy thì thấy thật hay; nhưng không phải chuyện một ngày là xong, mà là chuyện cả ngàn đời chớ không dám lộng ngôn!

            Nho giáo cũng lấy tu thân làm gốc: “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Mà tu thân tức là dọn mình cho nhân từ, thánh khiết, mà có dọn mình cho thánh khiết, nhân từ thì mới đón nhận sự thánh khiết, nhân từ từ Chúa; gọi là hiệp nhất với Chúa. Không thể có hiệp nhất mà một bên thì thánh khiết, nhân từ; còn một bên thì tội lỗi mà không chịu tự tu sữa, đổ cho Chúa gánh chịu tội lỗi của mình trên thập giá!

            Phật giáo đã hội nhập vào các nền văn hóa thế giới theo tính tùy duyên mà bất biến, bất biến mà tùy duyên, phát triển độc lập, vượt ra khỏi biên cương lãnh thổ, quốc gia, dân tộc… trọng lý tính nên không hề bị lệ thuộc vào bất kỳ sự bó buộc nào vì như thế đi ngược lại tinh thần giải thoát và giác ngộ. Giáo lý của Đức Phật như chiếc bè, qua sông thì bỏ bè; như ngón tay chỉ mặt trăng; ngón tay tượng trưng cho phương tiện; mặt trăng tượng trưng cho chân lý; thấy được mặt trăng, đừng chấp vào ngón tay. Chưa có giáo lý nào nhân bản cực độ như vậy! Lời của vị Giáo chủ là phương tiện để nắm bắt chân lý; chớ không phải là chân lý để tôn thờ, để bắt người ta phải tin một cách mù quáng. Đức Thế Tôn! Một nhân cách viên mãn!

            Xuôi dòng lịch sử suốt từ thế kỷ thứ hai đến nay với nền văn hóa Phật giáo Luy Lâu; Phật giáo Việt Nam đã cống hiến những bậc danh tăng, những thiền sư lỗi lạc, những đóng góp về mặt văn hóa, kiến trúc, điêu khắc, thi văn... mà tất cả mọi người dù khác biệt tôn giáo, tín ngưỡng cũng không thể phủ nhận sự thật này. Riêng Phật giáo đời Trần với hệ phái Trúc Lâm Yên Tử cũng là một trong những niềm hãnh diện của chúng ta (thế hệ con cháu thừa kế những gia sản tâm linh quý báu của tiền nhân) để sánh vai với các hệ phái thiền khác trên toàn thế giới mà hiện nay các nhà nghiên cứu đã và đang chú ý học hỏi và biên khảo.

             Trải qua bao thăng trầm của chiến tranh tương tàn, chiến tranh chống ngoại xâm, chống đô hộ; chiến tranh ý thức hệ...đất nước và con người đã bị phân hóa ít nhiều. Đất nước lệ thuộc thì con người cũng mất tự chủ, mất tự tin và đó là cơ hội cho mê tín, thần quyền sai khiến. Những hiện tượng như cúng sao, cúng hạn, xin xăm bói quẻ, xin bùa chú trừ ma, ếm quỷ; thầy tu biến thành “thầy cúng”...dần dần phổ biến trong nhà Chùa là những hủ tục, mê tín; những hình thức trái với đạo lý đã làm tổn thương đến Phật giáo không ít. Sự suy đồi của Phật giáo có thể thấy rõ sau khi Thiền Tông từ từ vắng bóng, nhường chỗ cho Tịnh độ tông và Mật tông thịnh hành; thiên về tín ngưỡng hơn là trí tuệ. Tinh thần “Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc” không được đề cao và dần dần thay vào đó bằng hai thời khoá tụng cho có hình thức để gọi là “đủ trả nợ áo cơm cho đàn na thí chủ” được áp dụng một cách lệ thuộc theo Phật giáo nhà Thanh bên Tàu; chỉ tập trung trong hình thức lễ nghi cúng bái, cầu an, cầu siêu, nương vào tha lực nhiều hơn là tự nổ lực tu sữa thân và tâm...Đạo Phật dành cho người chết nhiều hơn là dành cho người sống; sống thì không ứng dụng lời Phật dạy để tạo nhân lành, phước thiện; đến chết thì cúng giỗ linh đình và rước Thầy cúng cầu siêu, giao bài vị vô chùa là xong chuyện…và bày ra biết bao những hủ tục, tệ đoan; những điều “xưa bày nay làm” nhiều khi lỗi thời, trái với đạo lý, không hợp với văn hóa của mình mà lại  gắn liền với sinh hoạt nhà chùa rồi đổ hết cho Phật giáo....Đó là những đìều mà chúng ta phải thấy xót xa trong cái đau chung của cả dân tộc và đạo pháp; cùng có trách nhiệm giáo hóa, chấn hưng, vun bồi cái gia tài tâm linh của tiền nhân.   

            NHN đã nhập nhằng tung hỏa mù: “Phần đông người ta không đủ can đảm để tự hỏi đâu là chân lý ngoài các nghi thức cố chấp và triết lý mơ hồ. Vì không có chân lý, những mâu thuẫn sờ sờ cũng không ai màng che đậy. Thí dụ nghi lễ quy y thì có ba câu thề nguyện, câu đầu là “Quy y Phật, tôi thề sẽ không quy y trời, thần, quỷ, vật”, nhưng câu nói đầu tiên nơi cữa miệng người ta là”Cầu Trời khẩn Phật”. Nghĩa là cầu Trời trước rồi khẩn Phật sau! Còn thờ lạy thì đủ các loại thần mà họ không biết, kể cả thần Quan Công, thần Hộ Pháp, thần chú, thần hoàng thổ địa, thần cô hồn các đảng...”

            Xin phép thưa rằng; NHN đã quên thêm phần thờ lạy Đức Mẹ Maria, Thánh Cả Giuse... Tổ Tiên, Ông Bà Cha Mẹ...nữa. Không những thờ lạy không, mà còn cúng giỗ, cúng dâng nhang đèn lễ vật nữa! Giỗ Tổ Hùng Vương, Giỗ các vị Thánh như Đức Trần Hưng Đạo… các vị Thần có công với đất nước như Nguyễn Trung Trực... và mỗi ngành nghề đều có Tổ và mỗi năm đều cùng giỗ linh đình như Tổ Kim Hoàn, Tổ Cãi Lương...Giỗ Tổ ở các chùa, các thiền viện...tùy theo dòng thiền được truyền thừa....nói không hết!

            NHN có quyền tự do không tín ngưỡng, nhưng bôi bác, chê bai, công kích... những điều mình chưa hiểu biết tường tận là một việc làm hồ đồ, nông cạn, thiếu suy xét của những kẻ độc tài kém văn hóa.

            Thờ lạy, cúng giỗ để tỏ lòng hiếu đễ, kính ngưỡng, biết ơn ...là một truyền thống tín ngưỡng bản địa ngàn đời, một bản sắc văn hóa cao đẹp, một thuần phong mỹ tục cần được đề cao và gìn giữ. Nhang là hương, tượng trưng cho sự thanh khiết; đèn là đăng, tượng trưng cho trí tuệ sáng suốt. Thức ăn, lễ vật cúng dường tượng trưng cho lòng  tri ân, cho lễ phép biết kính trên nhường dưới. Nhang đèn đồ cúng có lỗi gì mà bài bác, mà kiêng sợ không dám ăn, không dám ngửi. Đó là biểu hiện cao quý của nền văn hóa Á Đông mà Phật Giáo hội nhập vào không những vẫn giữ được nét thuần túy mà còn phong phú hóa đời sống tâm linh trong tinh thần hài hòa, nhân bản và tương kính. Chỉ trích là chỉ trích những hủ tục như đốt giấy tiền vàng mã, cúng sao, cúng hạn, trừ ma, yếm quỷ, lợi dụng bùa chú để gạt gẫm, hại người, ...những điều mà “xưa bày nay làm” không còn hợp thời, hợp cảnh nữa gọi là không khế cơ khế thời, cần được sửa đổi và chỉnh đốn để các thế hệ tương lai có được một gia sản tâm linh phong phú..

            Thờ lạy thần Quan Công (Quan Thánh Đế Quân) là tỏ lòng kính ngưỡng đức hạnh, tiết tháo, nghĩa khí của Ngài. Thờ lạy Thần Hoàng bổn cảnh, Thổ Địa (Ngũ Phương Ngũ Thổ Long Thần, Tiền Hậu Địa Chủ Tài Thần)…là bày tỏ lòng tri ân, ngưỡng mộ công đức các bậc Tiền Hiền, Hậu Hiền… chư vị Công Thần khai sơn lập quốc, chư liệt vị Anh Hùng, Nghĩa Sĩ, Tiền Bối hy sinh thân mạng và cống hiến tiền tài, của cãi, công sức, trí tuệ, đức hạnh…để cho hậu thế con cháu chúng ta được hưởng trên quê hương, xứ sở, đất nước, địa phương…nơi mình sinh sống.

            Và còn biết bao những ý nghĩa cao đẹp mang tính tri ân, cung dưỡng và hồi hướng trong sinh hoạt tín ngưỡng của nhân gian, trộn lẫn với tín ngưỡng Phật giáo mà cũng qua đó sự mê tín dị đoan đồng thời xuất hiện như một ma trận mà nhiều người không chịu nghiên cứu kỹ, vội vàng phê phán đúng sai là một điều đáng trách!

            Còn thần Hộ Pháp, “cựu tu sĩ” có biết là ai không, mặt mũi ra sao? Ở đâu? Làm gì mà người ta thờ lạy Ngài không? Ngài sừng sững ngay trước trán, mở mắt ra là thấy ngay mà không thấy, rồi bảo là không biết!

            Suốt 15 năm đi tu mà vị “cựu tu sĩ Phật giáo” này không đưa ra được một điều gì hay, đẹp (chớ không cần phải nói là thanh cao, siêu thoát gì cả) của Phật giáo Việt Nam!  NHN ngược lại đã đưa ra những hình ảnh sinh hoạt nhà chùa thê thảm và một tăng đoàn đầy quyền uy như sau: “Trên thực tế, con người dễ làm điều ác khó làm điều lành. Có những tu sĩ thật tâm tu niệm, họ tự cấm khẩu hàng tháng trời, cũng có vị tự nhập thất giam mình hằng tháng trong phòng kín để ngồi thiền hoặc tụng kinh. Nhưng bản chất tội lỗi không thể xóa sạch bằng hành vi hãm mình khổ hạnh.. Lắm khi vì hãm mình khổ hạnh, người tu sĩ vấp phải những tội lỗi kỳ cục hơn người ngoài. Trong giới tu sĩ Phật giáo có nhiều người tốt, nhưng người tốt chưa hẳn là người chiến thắng tội lỗi của mình. Thậm chí có người biết mình không tu được đã tự đốt từng ngón tay để thề nguyện, quyết tâm tu; hoặc tự chặt đứt bộ phận kín của mình, nhưng sau đó vẫn phạm giới rất thê thảm. Chỉ có người quyết chí đi tu mới phải đau lòng khi thấy mình không sao tu được. Nhưng đa số tu sĩ khó rời chiếc áo, vì địa vị và quyền lợi của một bậc tu hành trong Phật giáo quá lớn. Người Phật tử phải thờ ba ngôi Tam bảo: Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo (hàng ngũ tu sĩ). Hồi đó tôi sợ nhất là mình được xếp vào hàng ngũ đáng tôn thờ, vì tôi nghĩ đây là lý do khiến tôi dễ vào địa ngục nhất. Khi ngồi trên cao cho hàng trăm người khác lạy, làm sao người ta thể hiện được đức khiêm nhường và vô ngã trong thân tâm”.

            Hoặc: “Là một tu sĩ, tôi phải học nhiều giới cấm. Càng nhiều giới cấm, người ta càng dễ phạm giới vì thế có một giới cấm đặc biệt là tu sĩ cấp dưới không được phép tò mò tìm hiểu giới luật của tu sĩ cấp trên.”    

            Hoặc: “Vì giới luật nhà tu quá chi ly, nên không ai giữ được trọn vẹn một giới nào cả. Chẳng ai muốn tiết lộ sự phạm giới của mình. Đáng tiếc là đạo Phật không nhìn nhận một cách minh bạch về vấn đề tội lỗi. Để phá chấp, người tu sĩ cấp cao học về ý nghĩa của sự phi giới và cao hơn nữa là vô phi giới.”

             Quốc gia có hiến pháp luật lệ, dạy dân giữ luân thường đạo lý. Gia đình có gia phong lễ giáo, dạy con biết hiếu đễ nghĩa nhân. Học đường dạy trí dục, đức dục song toàn. Huống nữa, tu hành là môi trường xuất thế; sao lại không lấy giới luật lễ nghi, thanh quy tế hạnh để làm chỗ rèn tâm, luyện tánh. Giới luật đâu phải là để cho tu sĩ tò mò! Bất hạnh thay!

            Đạo Phật không có chủ trương khổ hạnh mà ngược lại lấy Trung Đạo làm nền tảng và lấy Trí Tuệ làm sự nghiệp “Duy tuệ thị nghiệp” hay “Vô sư trí vi tôn”. Vậy những việc làm đáng thương mà NHN đã kể là trái với đạo lý, bất hiếu, bất hạnh, dại dột, ngu xuẩn, mù quáng, yếm thế, tiêu cực...hoàn toàn trái ngược với lý tưởng giác ngộ, giải thoát cao cả. Tu như thế gọi là Tu Mù; không đúng với tinh thần Bi Trí Dũng của Nhà Phật. Cố Hòa Thượng Thích Thiện Hoa cũng đã thường nhắc nhở: “Tu mà không học là tu mù, học mà không tu là cái đảy đựng sách”.  Xe bò không đi, đánh xe hay đánh bò? Cái đầu (Trí Tuệ) điều khiển từng ngón tay, bộ phận kín...hay từng ngón tay, bộ phận kín điều khiển cái đầu? Cái nào chủ động, cái nào bị động? “Phàm làm việc gì, trước phải xét kỹ đến hậu quả của nó”. Đức Phật đã từng dụ thân người khó được, Phật pháp khó tìm qua câu chuyện rùa mù biết bao nhiêu năm mới chui vào được bọng cây giữa biển khơi nên nói: “Nhân thân nan đắc, Phật pháp nan truy”. Phải biết quý trọng thân mạng này để dụng công phu tu hành đắc đạo hầu đền đáp Tứ Ân, chớ đâu phải chuyện tầm thường! (xin đừng hiểu lầm quý trọng thân mạng với nuông chìu thân thể nầy!)

            Giới càng nhiều, thì Hạnh càng cao, thì Đức càng trọng, Tâm càng bình, Khí càng tĩnh, Ý càng tịnh, Trí càng thông minh. Tri và Hành hiệp nhất, Hạnh và Giải tương ưng, lời nói đi đôi với việc làm, dẩu kiến thức uyên thâm bác lãm vẫn luôn khiêm tốn hạ mình; như ngu như ngơ nên được mọi người quý kính là vậy!nên được mọi người quý kính là vậy!

            Phi Giới, Vô Phi Giới là lẽ sống của người tu. Vì sao? Vì Phi Giới tức là giữ Giới thuần thục đến khi không còn thấy có Giới để giữ. Cho nên Giới mà là Phi Giới là vậy! Chớ không phải Phi Giới là không giữ Giới, nói theo lối cố chấp vào ngôn ngữ thì nguy to! Còn Vô Phi Giới là trú xứ của chư Bồ Tát tức là tự tại trong Giới, vì Giới là lẽ sống, Giới là không gian tự do vô tận. Giới là hạnh phúc lớn không những cho bản thân mà cho cả mọi người, mọi loài. Giới là ý thức nhân bản cao độ trong việc tự trọng và tôn trọng người khác, thực hành triệt để mà không thấy có gì phải thực với hành cả. Giới là một nhu cầu không thể thiếu để tự bảo vệ và bảo vệ tha nhân cho nên đâu còn thấy ranh giới của Giới và Phi Giới nữa. Tất cả những cảm giác khó chịu, bị bắt buộc, cưỡng ép vào khuôn khổ không còn nữa; tự nó đã là khuôn khổ rồi. Mình là Giới, Giới là mình, Giới không rời mình, mà  mình cũng không lìa Giới. Ngôn ngữ diễn tả cũng bằng thừa nên gọi là Vô Phi Giới, là Giới của hàng Bồ Tát, là Hạnh của hàng Bồ Tát, là Đức của hàng Bồ Tát. Giới là Từ, Giới là Bi, Giới là Hĩ, Giới là Xã. Chớ không phải Vô Phi Giới là không giữ Giới, là phạm Giới. Hiểu như thế là nguy, vì thế mà “tu sĩ cấp dưới không được phép tò mò tìm hiểu giới luật của tu sĩ cấp trên” là đúng! Như học cửu chương và bốn phép tính chưa xong mà tò mò tìm hiểu căn số, bình phương, lũy thừa, đại số...có phải hoang tưởng không! Cũng vậy, Giới giữ chưa xong mà tò mò học đòi Phi Giới, Vô Phi Giới, để phá chấp, thì nguy to! Vì có cố chấp nên dạy để phá chấp; đây không phải là chỗ dụng của ngôn ngữ để tò mò rồi châm biếm; mà là thực hành, là lẽ sống, là chỗ chúng ta phải kính trọng và thấy hổ thẹn khi mình chưa đủ nghị lực và trí tuệ để làm được như vậy!

            Để đáp lại, chúng ta hảy chiêm nghiệm một trích đoạn sau đây của Thầy Thích Chân Pháp Niệm trong bút ký chuyến đi tháp tùng Tăng đoàn Làng Mai hoằng pháp tại Đại Hàn; để thấy đâu là sự thật và là cái hay cái đẹp của Giới: “...Giới luật của đạo Bụt không phải chỉ giới hạn trong phạm vi thực tập của các khất sĩ Phật giáo, mà còn có thể đóng góp cho các truyền thống tu tập khác một nếp sống tâm linh an bình và đẹp đẽ. Bởi vì đây không phải là những giới luật cấm cản làm mất tự do, mà đây chính là những kinh nghiệm sống, là nền tảng văn minh, văn hóa, đạo đức có công năng đem lại hòa bình, an lạc, hiểu biết và thương yêu cho muôn loại. Bất cứ người nào cũng có thể nghiên cứu, học hỏi những phép thực tập trong cuốn Giới Bản Khất Sĩ Tân Tu nầy và đem áp dụng trong đời sống hằng ngày những điều mình nghĩ là có thể đem lại an bình và hạnh phúc trong cuộc sống. Học và biết về giới không phải để rồi chỉ trích, chê bai các vị xuất gia mà là để hiểu và tìm cách bảo vệ. Như vậy thì đạo Bụt mới không bị mai một và đi tới tình trạng hủ nát....”

            Vật hữu dụng mà trong tay người trí thì xứng đáng là hữu dụng; còn qua tay kẻ không ra gì thành ra vô dụng hoặc phản tác dụng, gây tai hại không lường được. Như vậy dao bén cắt đứt tay; tại dao bén hay tại người không khéo sữ dụng?

            NHN có kể điển tích như sau: “Ngày xưa Đức Phật cấm nam tu sĩ đứng tiểu tiện, nhưng sau đó dân chúng tưởng rằng tất cả đệ tử Phật là phụ nữ, Đức Phật phải hủy giới cấm ấy để tránh bị hiểu lầm."

            Xin thưa rằng, người tà thì thấy cái gì cũng tà; dù chánh pháp có trước mặt cũng là tà pháp. Còn người chánh; thì dù tà pháp cũng thấy có chánh trong đó. Câu chuyện trên NHN kể với dụng ý gì tùy ý! Có thật hay truyền thuyết cũng không thành vấn đề. Nhưng đối với chúng tôi; những người học Phật, thì giá trị vô cùng! Nó là bằng chứng hùng hồn cho đức độ bao dung, tôn trọng lý tính, dân chủ cực độ! Thật là tuyệt vời trong nhân cách của bậc Giác ngộ! Còn việc NHN dùng chữ “cấm” chúng tôi thấy không đúng. Vì Đức Thế Tôn chỉ dùng lời hay lẽ thật mà khuyên dạy; những điều sai, không hợp lý thì chỉ bảo để tránh, sữa đổi chứ chưa bao giờ dùng uy quyền mệnh lệnh cấm hoặc bắt buộc...Cố tình nói thêm thắt để phàm tục hóa Đức Thế Tôn với mục đích hạ tiện là đại vọng ngữ. Mà lại là “một cựu tu sĩ Phật giáo” thì hết ý!

            NHN nhận định: “Đối chiếu Phật học và Kinh Thánh, nhất là kinh nghiệm tu hành theo đạo Phật với kết quả kỳ diệu trong đức tin Chúa ban cho tôi, tôi nhận thấy rằng thái tử Tất Đạt Đa là một người tha thiết tìm con đường giải thoát sau bốn lần ra khỏi cung vua để nhìn thấy cuộc đời toàn là đau khổ. Với bản tánh một người Ấn Độ, thái tử đã suy nghiệm sâu xa về sự huân tập đức tánh xấu trong con người, nhưng thái tử chưa thấu đạt nguyên nhân của sự huân tập ấy từ tội lỗi của con người như Thánh Kinh đã nói rõ. Vì thế Thái tử cho đó là nghiệp lực thay vì là tội lỗi. Tiếc thay thời đó Kinh Thánh Cựu Ước chưa được truyền qua Ấn Độ, mặc dù Thái tử đã học nhiều tôn giáo khác nhau.....Khi ngồi thiền, Thái tử đã thấy những hiện tượng nội tại như ngày nay nhiều người ngồi thiền cũng đã thấy. Từ đó Ngài nghĩ rằng mình đã thành Phật. (ngày nay một số người ngồi thiền cũng tự xưng mình đã thành Phật). Giáo lý của Ngài bị các thế hệ đến sau thêm thắt quá nhiều khiến cho mâu thuẫn và bị mê tín hóa. Ví dụ Phật giáo Việt Nam có quá nhiều điều không bà con gì với Phật giáo Ấn Độ. Các bộ kinh của Phật chỉ được truyền khẩu qua nhiều thế kỷ trước khi được ghi lại bằng trí nhớ của môn đệ. Ðó là lý do khiến kinh Phật bị thêm thắt thành “thiên kinh vạn bản” khiến nhiều người học đạo đã lạc đường rồi mà vẫn chưa hay biết gì cả, hoặc có biết phần nào thì cũng cam chịu nhắm mắt đưa chân”.

            Người Trí sáng suốt, học Phật, học giác ngộ; biết chắt lọc những tinh hoa mà ứng dụng tu học; đem lại kết quả cho bản thân và an lạc, lợi lộc cho mọi người...như “Ngỗng Chúa uống sữa chừa nước” thì dù có “thêm thắt thành “thiên kinh vạn bản” cũng không ngoài hai chữ Phật Pháp. Phật Pháp không phải là sản phẩm sở hữu của Phật giáo. Phật Pháp là lẽ thật, là chân lý bất biến. Người Tây Phương đa số theo Thiên Chúa Giáo, Chánh Thống Giáo…cũng biết làm phước giúp người, tạo nhân thiện lành…Vậy tạo nhân lành, làm phước…đâu phải chỉ có riêng ở Phật giáo đồ! “Nhân chi sơ tánh bổn thiện” là vậy!

             Người Trí biết nắm bắt những điều hợp với lẽ phải (chân lý phổ biến, Phật Pháp) mà không lệ thuộc vào người diễn bày chân lý; nên gọi là “Y Pháp bất y nhân”. Thí dụ: Những lời dạy của Lục Tổ Huệ Năng được ghi lại, gọi là kinh: “Pháp Bảo Đàn Kinh” thay vì gọi là ngữ lục. Là vì những điều Tổ dạy (Pháp) chỉ thẳng tâm người để thấy tự tánh không qua huân tập từ nhận thức, luận giải “Trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật” khế hợp với những Kinh tối thượng thừa liễu nghĩa diễn đạt cứu cánh.

            Người Trí biết căn cứ vào những ý nghĩa cao thâm của chân lý (cứu cánh) qua lời dạy mà không lệ thuộc vào ngữ cú văn tự; lời, câu, chữ, cách hành văn...(phương tiện); nên gọi là Ý nghĩa bất y ngữ”. Được ý quên lời; thấy được mặt trăng, đừng chấp vào ngón tay. Lời, ngón tay là phương tiện diễn bày chân lý; như lá trong nắm tay. Ý, mặt trăng tượng trưng cho chân lý; như lá trong rừng là ý nầy vậy!

            Người Trí biết căn cứ vào Trí Tuệ Bát Nhã, chớ không lệ thuộc vào những hiểu biết do nhận thức, do huân tập, học hỏi từ bên ngoài... nên gọi là “Y trí bất y thức”. Nhân vật hư cấu Tề Thiên Đại Thánh trong Tây Du Ký thông minh lanh lợi, tài nghệ cao cường cách mấy (Thức), cũng không ra khỏi bàn tay Phật Tổ (Trí) là ẩn dụ diễn đạt ý nầy!

            Người Trí biết căn cứ vào những kinh diễn bày chân lý bất biến (Chân đế); thuộc về Bản Môn; khai thị ngộ nhập tri kiến Phật (chỉ bày cho thấy để nhận ra và sống được với Tánh Giác) tức Pháp Thân Phật, không lệ thuộc vào hình tướng, thời gian, không gian...còn gọi là Như Lai; chớ không chấp chặt vào những kinh diễn bày phương tiện; tức những điều dạy tùy duyên, tùy thời; hợp với địa phương, dân tộc và văn hóa bản xứ…(Tục đế); thuộc về Tích Môn. Cho nên những điều Đức Phật Thích Ca (lịch sử) hay còn gọi là Báo Thân Phật thị hiện dạy cho dân chúng xứ Ấn hơn 25 thế kỷ trước không thể đem bắt chước rập khuôn vào thời đại internet nầy được! “Tùy duyên mà bất biến, bất biến mà tùy duyên” là vậy! Tùy duyên thuộc Tục đế. Bất biến thuộc Chân đế; nên gọi là “Y liễu nghĩa kinh, bất y bất liễu nghĩa kinh”.

            Đó cũng là bốn nguyên tắc y cứ để học đạo được trình bày trong Kinh Lăng Già mà người tu học giác ngộ cần để ý. Ngỗng Chúa ẩn dụ cho Người Trí, sữa dụ cho Phật Pháp, nước dụ cho thế gian pháp. Sữa và nước chung một thể, như Phật pháp không ngoài thế gian pháp. Chẳng lìa thế gian mà thành đạt trí tuệ viên mãn; thì đâu đâu chẳng là Phật pháp! Như rác mà khéo ủ thành phân thì bón cho cây thành hoa, trái…Người Trí nhìn thấy rác thì lập tức thấy hoa trái có mặt ngay trong rác rồi! Người mà thấy được như vậy gọi là thấy được lẽ thật, ngộ được chân lý; chớ đâu cần “Gặp Phật, gặp Chúa, gặp Ông Ghandi…” làm chi cho phiền quý ngài!

            Chúng ta cũng đã từng chứng kiến một số người “tẩu hoả nhập ma” xưng mình đã thành Phật,  giống như NHN kể “Pháp môn thiền định đã giúp tôi gặp Phật, gặp Chúa, gặp Ông Ghandi và gặp vô số loài vật cũng như bà con thân thuộc của mình trong quá khứ mù mờ. Hồi đó tôi nghĩ: hình như họ là kiếp trước của tôi. Phái thiền Pháp Hoa Hội Thượng gọi đó là mật pháp. Nhiều bạn thiền của tôi cũng đã đạt đến kết quả như thế.”

            Trước hết chúng tôi xin xác nhận là NHN đã tu thiền xuất hồn của ngoại đạo; mặc dù mượn tên Pháp Hoa để đánh lừa là của Phật giáo. NHN đã hoàn tục và đi học thiền ở ngoài; không dính dáng gì đến thiền của Phật giáo, Thiền Tông. Đây là chỗ mà chúng tôi muốn nhấn thật mạnh để giúp đại chúng khỏi phải hoang mang; mặc dù Thiền Tông đã được phục hưng và quảng bá rộng rãi khắp thế giới. Những trạng thái mà NHN đã kể là những vọng tưởng, ma chướng, bệnh hoạn do vọng cầu; tư tưởng thấp hèn, ngu tối nên loạn tâm cuồng trí... mà người tu sáng suốt minh mẫn không thể chấp nhận. “Phùng Phật sát Phật, Phùng Ma sát Ma” là viên thuốc kháng sinh trị bệnh nhiểm trùng loạn tưởng hữu hiệu nhất. Phật, Chúa , Ông Ghandi... được NHN đem vào danh sách tiền kiếp. Vậy thâm tâm của NHN định làm gì sau khi được một tổ chức tôn giáo nào đó công nhận và tuyển chọn nhân chứng hóa “Làm Chứng Ơn Chúa”? Chúa biết !

            Thật là đại vọng ngữ! Cho nên Cổ Đức dè dặt với pháp tối thượng thừa khó tin là vậy! Như thuốc trụ sinh phải có toa Bác sĩ và lời khuyên sữ dụng rất kỹ lưỡng về liều lượng và thời gian, tuổi tác và cách dùng…chớ không phải cho uống bừa bãi để bị phản tác dụng hoặc để vi trùng lờn thuốc rồi thành bất trị…Một người bình thường họ không hiểu mà nói sai cũng không có tội; còn đây là một người có văn bằng “tốt nghiệp Đại học Vạn Hạnh, tốt nghiệp trường đào tạo Tăng tài và với 15 năm khoác áo nhà chùa” mà nói như thế thì quả là “phỉ báng Phật pháp”!

            NHN đã chụp một cái mũ ngược vào đầu mà không biết: “Có thể một vài anh chị em trong hàng ngũ Phật giáo cực đoan cảm thấy khó chịu khi đọc bài làm chứng này. Nhưng đó là do bản tính con người bình thường vừa tốt, vừa xấu, vừa đúng, vừa sai trong mỗi chúng ta. Tội lỗi rất tinh vi, nó khiến chúng ta ưa phân rẽ, ưa hận thù vì những khác biệt về tôn giáo, văn hóa, dân tộc...”

            Xin nhường hai chữ “cực đoan” này lại cho NHN. Trong tự điển Phật học không có cụm từ “Phật giáo cực đoan” nầy. Hai chữ “cực đoan” dành cho những kẻ thấy đạo mình là trên hết; lôi kéo, dụ dỗ người khác theo bằng đủ mọi hình thức; hoặc những kẻ cuồng tín, chủ trương Thánh chiến, bạo động, gây xung đột tôn giáo, quá khích; dùng khủng bố để tiêu diệt đạo khác vì cho đạo của mình là chánh, đạo của người khác là tà... tranh giành tín đồ như “những con sói đói mồi”... mà mọi người đã chứng kiến đầy rẫy trên thế giới suốt mấy ngàn năm nay!

            Tu Phật là tu giác ngộ, tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn thì cần gì phải tranh giành, lôi kéo, dụ dỗ, bắt buộc, hù dọa…nhưng nếu ai cần, ai thích, ai muốn tìm hiểu để ứng dụng tu sữa, học hỏi, nghiên cứu… thì giới thiệu, giúp đỡ tận tình trên tinh thần bình đẳng; đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu; tương duyên tương tác...Như người trí biết sữ dụng năng lượng ánh sáng mặt trời để đem lại biết bao ích lợi cho nhân loại. Ánh sáng mặt trời dụ cho Tuệ Giác, chính là Huệ Nhật thường chiếu sáng soi, cũng là Phật pháp trùm khắp thế gian, đâu phải sở hữu riêng của Phật Giáo, chỉ có Phật tử mới có, mới biết sữ dụng! Nếu ngộ được lẽ thật nầy thì bao dung sinh khởi, bác ái hiện hành, vị tha trùm khắp; từ, bi, hỹ, xã không còn là ở cữa miệng của Phật giáo đồ; mà là Hạnh của Mẹ Terisa… là Đức của Ngài Đạt Lai Lạt Ma…và triệu triệu Đức Bồ Tát Bất Cầu Danh đang có mặt khắp hang cùng ngõ hẽm, đang đến tận chốn lao tù, địa ngục ở thế gian nầy để từng giờ, từng phút âm thầm bằng đủ mọi cách cứu khổ, ban vui cho những ai đang đau khổ, thiếu hạnh phúc…chớ chưa nói đến sanh linh khắp trong ba cõi, sáu đường luân hồi…Vậy Nguyễn Huệ Nhật có nhận ra được ý nghĩa hai chữ Huệ Nhật mà song thân đã chắt chiu gởi gắm vào cái “tên cúng cơm” đó không?

            Sữa lúc nào cũng có sẵn trong nước, chỉ khéo uống sữa chừa nước thì được gọi là Ngỗng Chúa, đơn giản chỉ có thế thôi!

            Trong nghệ thuật truyền thông cũng như rao giảng tin mừng, làm nhân chứng… muốn cho người ta tin và ngưỡng mộ; điều cần yếu là phải lương thiện, khách quan, thành thật và chính xác; tránh những điều lố lăng, tránh sữ dụng những thủ đoạn hạ tiện như bêu xấu, thêu dệt vô căn cứ, mang tính chủ quan, tư kiến; xem thường đại chúng…Hậu quả là phản tuyên truyền, phản tác dụng, chôn vùi thanh danh chính mình và đức tin của mình. Như ngữa mặt lên trời mà phun nước bọt, chính mình lãnh đủ. Nhân gian cũng có câu: “ngậm máu phun người, trước nhơ miệng mình” hoặc “gậy ông đập lưng ông”…là vậy!

            Tại sao lại phải “cảm thấy khó chịu” đối với&nb