
CÁC VĂN KIỆN
8. Phó đề
đốc Rigault de Genouilly, Tổng tư lệnh các lực lượng Pháp và Tây Ban Nha
ở Nam Kỳ gởi Đô đốc Hamelin, Bộ trưởng Hải quân và thuộc địa. Tổng
hành dinh Đà Nẵng ngày 29-01-1859.
... Bệnh kiết lỵ rất nhiều và đang lan rộng
làm suy yếu những binh sĩ chưa chết. Chính phủ đã bị lầm lẫn về
tính chất của cuộc chinh phục Nam Kỳ. Nó đã được trình bày như một
công việc cỏn con. Giờ đây nó không còn có thể được coi là như vậy
nữa. Những tài nguyên trước kia nghe nói là có ở đấy, nay không thấy.
Thái độ dân chúng ở đây thật khác xa với những gì đã được tiên
đoán. Quyền lực của các quan vẫn được coi là yếu ớt, thì lại thật
mạnh mẽ và hữu hiệu. Quân lính có vũ trang chẳng phải là không có, mà
rất đông đảo và dân quân thì bao gồm tất cả các trai tráng khoẻ mạnh
trong nhân dân. Khí hậu hiền hoà vẫn được tán dương... nhưng người ta
chỉ cần gặp những bộ mặt xương xẩu, hốc hác của các thừa sai đến
từ khắp mọi miền trong xứ, để tin chắc rằng Đà Nẵng cũng chẳng
hơn gì Hồng Kông, mà Hồng Kông thì đã nổi tiếng là một xứ chẳng hiền
hoà gì. Đọc lại bản phúc trình của uỷ ban liên bộ nộp tại Bộ ngoại
giao, chúng tôi vẫn tin rằng vấn đề đã bị chìm đắm trong những lời
khẳng định sai lạc và những khó khăn thực sự đã bị bỏ quên trong
bóng tối.
Tôi nhận thấy rõ ràng các phe phái có quyền
lợi muốn đưa chính phủ vào cuộc, vì biết rõ rằng khi đã can dự vào
đó, chính phủ khó mà thối lui được, nếu không nói là không thể thối
lui.
Việc chinh phạt bằng đổ bộ vào đất liền
là không thể thực hiện. Những người lính khoẻ mạnh nhất cũng không
chịu đựng nổi các cuộc tiến quân trên bộ dù rất ngắn. Để đảm bảo
thành công cho cuộc chinh phục Huế, các chiến thuyền có đại bác và đi
được vào những vùng nước cạn như những chiếc đã được phái đến
vùng Baltic là cần thiết… Và Huế là nơi trọng yếu của vấn đề. Tôi
sẽ không nhận lấy trách nhiệm về việc này, nếu không có được lực
lượng mà tôi vừa kể.
Vì tin mãnh liệt vào sự thành công của cuộc
chinh phạt Sài Gòn, nên tôi sắp sửa đi vào thị trấn ấy. Sài Gòn có một
con sông mà các chiến thuyền nhỏ và các thuyền vận tải của ta có thể
ra vào được. Quân đội có thể đổ bộ lên ngay điểm tấn công và họ
không phải di chuyển xa và không phải khiêng vác quân nhu quân dụng. Cuộc
chinh phạt này hoàn toàn nằm trong khả năng thể chất của các binh sĩ. Tôi
không rõ Sài Gòn sẽ được phòng hủ chắc chắn hay tồi tệ, vì báo cáo
của các thừa sai về đất này thật lúng túng và trái ngược nhau, vả lại
tôi cũng đã hoàn toàn mất tin tưởng vào những tin tức của họ. Dù sao
đi nữa, Sài Gòn vẫn là nơi trung gian trên con đường chuyên chở lúa gạo
cung cấp cho Huế và quân đội Việt Nam, đồng thời ra cả miền Bắc nữa:
vào tháng ba chúng ta sẽ chặn đứng được con đường cung cấp lúa gạo
này. Việc đánh chiếm Sài Gòn cũng chứng minh cho chính phủ Việt Nam thấy
rõ ràng trong lúc chiếm đóng Đà Nẵng, chúng ta vẫn có thể thực hiện một
cuộc hành quân ở bên ngoài và điều này sẽ làm cho họ mất mặt với
các lân quốc, vua Thái Lan và Cao Miên, những người vẫn ghét cay ghét đắng
họ và sẽ không bỏ lỡ cơ hội để đoạt lại những gì đã bị họ
chiếm lấy. Nghe nói các thương buôn ở Hồng Kông cũng đang thúc đẩy nhà
cầm quyền Anh quốc chứng tỏ sự có mặt của mình ở nơi đây. Đối với
tôi, điều quan trọng là phải ngăn chặn sự hiện diện có thể xảy ra
đối với quân Anh trong phạm vi hoạt động của chúng ta. Mặt khác, chính
phủ Phi Luật Tân đã bày tỏ quan điểm của họ thật quá rõ ràng về xứ
Bắc Kỳ và các thừa sai Đa minh người Tây Ban Nha đang tuyên bố cuộc
chinh phục xứ ấy như mục tiêu duy nhất và thật sự của cuộc chinh phục.
Chúng ta phải bỏ qua một bên tất cả những ý nghĩ đó. Bắc Kỳ hiện
nay không thể làm gì được xét về hai mặt: Thứ nhất vào mùa này trong
năm, các con sông đều cạn và để lộ cả phù sa, bệnh dịch tả rất dễ
hoành hành. Thứ hai là muốn đến được bất cứ nơi nào quan trọng quân
lính đều phải thực hiện những cuộc đi bộ mà họ không chịu nổi...
Điều ngài khó có thể tin được là cuộc
chinh phạt Sài Gòn lần này, khi được quyết định, đã trở thành đề tài
đả kích và lên án kịch liệt và độc địa nhất của Đức Cha Pellerin,
Giám mục Biblos, người mà mới tháng trước đây đã đòi hỏi điều ấy
và đến đây chỉ đề làm thông ngôn. Bị thuyết phục bởi Lm.Gaentza, người
cầm đầu các thừa sai Đa minh Tây Ban Nha, lúc nào cũng chỉ mơ đến Bắc
Kỳ và muốn đưa ngọn cờ chiến thắng của Tây Ban Nha tới đó, Đức Giám
mục Pellerin đã công khai giảng trong phòng ăn của các sĩ quan những ý kiến
chống lại các kế hoạch và quan điểm của vị Tổng tư lệnh, và đã
tuyên bố rằng tôi đã hiểu lầm ý định của chính phủ, rằng chỉ có
mình ông ta là hiểu được những suy nghĩ của chính phủ, rằng chỉ có
mình ông ta là hiểu được những suy nghĩ của chính phủ và rằng tôi sẽ
phải chịu trách nhiệm về hành động của tôi. Tình hình thật căng thẳng,
đến nỗi tôi thiếu điều muốn bắt và gửi Giám mục Pellerin đi Hồng Kông.
Tuy nhiên, trước khi dùng đến một biện pháp
quyết liệt thật có hại cho cuộc chinh phạt với mục đích chủ yếu là
tôn giáo và có thể gây nên sự kinh ngạc ở Pháp, tôi có nhờ các thừa
sai đồng sự của Đức cha, đặc biệt là Lm.Pellettier, người phân phát của
bố thí ở vùng này và có đôi chút ảnh hưởng đối với vị giám mục
nông nổi kia, thuyết phục cho ngài hiểu rằng, Ngài đã tự làm cho mình
thành người không ai chịu nỗi nữa và Ngài nên trở về Hồng Kông. Sau
khi đã tranh luận với ngài rất nhiều và điều mà Ngài coi là nhiệm vụ
chính trị của mình, các thừa sai này đã thành công và làm Ngài chịu
thôi không chống đối nữa và chính Ngài đã đích thân xin phép tôi trở
về Hồng Kông. Bằng những đề nghị và thái độ của mình, Ngài đã chỉ
gây cho chúng tôi sự bối rối và lầm lẫn, Ngài đã đích thân can dự
vào tất cả các âm mưu và đã chẳng làm được điều gì hữu ích cho
chúng tôi. Tất cả những điều Ngài đã nói, đã tuyên bố, đã hứa hẹn
ở đây, cũng như trước mặt uỷ ban tại Paris đã được kinh nghiệm cho
thấy, đều là sai sự thật, cả những điều thông thường nhất, như tính
chất của khí hậu và những cơn mưa kéo dài… Đức Cha Pellerin không phải
chỉ muốn chứng kiến các cuộc hành quân của chúng tôi, mà Ngài còn muốn
can dự vào đó nữa, đến mức độ tạo ra một màn đầy khích động khi
Ngài cố buộc tội phải chấp nhận cả kế hoạch về chiến dịch hành
dung của Ngài… Sự loan báo về Đức cha Pellerin ra đi đã làm đại tá
Lanzarotte bớt xía vào công việc và có lý do để nghĩ rằng những việc này
cũng là do tinh thần gây rối và không chịu ngồi yên của Lm.Gaenza, người
trên thực tế đã ảnh hưởng Đức cha Pellerin nhiều hơn là bị Đức cha
ảnh hưởng lại… (văn khố quốc gia, Pariasérie BB4, tập 769).
9. Phó đề
đốc Page, Tư lệnh đoàn quân viễn chinh Nam Kỳ, gởi Bộ trưởng Hải quân
và thuộc địa. Trên tàu Primauguet, ngày 30 tháng giêng năm 1860.
Các cuộc đàm phán đã tan vỡ. Thế là ngay
cả những điều kiện cuối cùng thật ôn hoà của hoàng thượng về một
chút tự do tư tưởng và đôi chút tôn trọng tự do tín ngưỡng cũng đều
vô hiệu…
Lý do thực theo như linh tính các quan biết
được là như sau: Việc chấp nhận các thừa sai vào nước sẽ gây nên một
cuộc nổi dậy của quần chúng, một cuộc cách mạng, và việc người Anh
tự do ra vào buôn bán nhất thiết sẽ mở đường cho hạm đội Anh vào
xâm lấn xứ sở và tàn phá đất nước…
Tỉnh Sài Gòn là cuộc chinh phạt tốt đẹp
nhất, là thuộc địa đẹp mắt nhất mà hiện nay Pháp có thể mơ tưởng…
Nếu nước Pháp chối bỏ điều mà Đấng quan phòng có vẻ như muốn đặt
ngay vào tay mình, không phải chỉ đơn giản là một thuộc địa mà là một
vương quốc thật giàu có, chẳng gây cho Pháp một tốn kém nào, mà lại
mang tới lợi lộc cho nó, tôi chỉ biết cúi đầu chấp nhận. Ông Bộ trưởng
cần phản ánh thật cẩn thận về tình hình mới này, rằng tôi không phải
chỉ chuyển đạt tin tức về các thừa sai, các thương buôn và các du
khách: mà chính là Ngài Đô đốc đang nói. Giờ đây tôi hiểu rõ về Nam
Kỳ, dân chúng và việc hành chánh ở đó. Tôi sắp sửa mở cửa cảng
Sài Gòn và lá ơ Anh quốc sẽ lợi dụng cơ hội đó : Nếu lá cờ nước
Pháp được rút đi, thì lá cờ nước Anh sẽ thay thế vào…
Cuộc chinh phạt Nam Kỳ của ta sẽ gián một
đòn sinh tử vào uy quyền của nhà vua Việt Nam đối với các tỉnh ở miền
Nam phồn thịnh. Ai sẽ là người gặt hái được phần thưởng của gia tài
trù Pháp hú này? Đó là nước Pháp hay nước Anh? Tôi có thể nói một
cách chắc chắn rằng người đó sẽ là một trong hai nước. (Bộ ngoại giao các biên bản và văn kiện: Châu
Á tập 27).
10. Đức
Cha Lefèbvre, Giám mục Isauropolis, đại diện Tông toà địa phận Tây Đàng
Trong, gởi các vị Giám đốc Hội thừa sai Hải ngoại Paris, ngày 2 tháng 2
năm 1860.
…Đúng là một cuộc chinh Pháp phạt hoàn
toàn có tính cách tôn giáo và lạy Chúa, chính phủ cũng như các đại diện
chính của chính phủ không có mục đích nào khác hơn là phục vụ Đấng
quan phòng. Nhưng chẳng may, tất cả những người được đặt để làm chỉ
huy cuộc chinh phạt, lại chỉ coi tôn giáo là vấn đề thứ yếu, chẳng
đáng cho họ quan tâm. Khi họ bó buộc phải yêu cầu chúng tôi một việc
gì họ không quên nói rằng họ đến đây vì chúng tôi, và khi có việc
gì xảy ra, chẳng hạn như khi một sĩ quan chết, chắc chắn họ sẽ nói
đó là người cuối cùng hy sinh cho các thừa sai. Nhưng khi chúng tôi đến
yêu cầu họ làm một việc hết sức nhỏ cho Giáo hội, thì họ tuyên tố
thẳng thừng là họ không phải đến đây vì việc ấy, và họ tự dối
mình qua việc nghe lời đề nghị của vị quan Việt Nam về một hiệp ước
hoà bình, nhằm chứng tỏ sự dối trá của các thừa sai lúc nào cũng luôn
miệng nói với họ rằng không thể có hiệp ước nào với những người
hoàn toàn ở về phía ma quỷ. Chúng tôi nhẫn nhục và chờ cho đến khi
kinh nghiệp dạy họ điều mà chúng tôi không thể làm cho họ hiểu được.
Sau tất cả những cuộc thương thảo lâu dài và những việc đại diện,
hết đề đốc Rigault ở Đà Nẵng, đến Trung Tá Jauréguiberry tại ngay
Sài Gòn, rồi đến Phó đề đốc Page ở đây mới rồi nữa, họ bắt đầu
cảm thấy vỡ mộng. Page tự cho mình là một thương thuyết khôn lanh hơn
các người tiền nhiệm, nhưng ông cũng chẳng thành công gì hơn họ. Hôm
nay rõ ràng là ông ta hết kiên nhẫn và lấy làm tiếc phải từ chối
khéo kéo dài cuộc ngưng chiến và đã lên đường sáng nay cùng với mười
chiến thuyền đến tấn công thành luỹ của kẻ thù. Chính phủ đã rất
lầm lẫn, nên mới phái đến đây quá ít quân sự. Sự thật là mặc dù
quân số ít ỏi, nếu tấn công vào Huế ngay từ đầu
thì vẫn có thể được và có lợi, nhưng vì thiếu hiểu biết về địa
phương ấy và vì thiếu tin tưởng vào những ý kiến và tin tức do Đức
Cha Pellerin cung cấp, họ đã quá nhút nhát và đã làm quá ít những gì đáng
lý ra phải làm… Nhưng giờ đây số quân nhỏ nhói được phái đến chỉ
còn phân nửa vì bị ốm và chết, việc tấn công vào kinh đô nhà vua
không thể thực hiện được nữa, nó đã được tăng cường phòng thủ
khá nhiều trong khoảng thời gian mà ta đã phí phạm. (Văn khố Hội thừa
sai Hải ngoại. Tập 755 (Miền Tây Nam Kỳ), 1845-1866 No 148).
11. Vua Tự
Đức. Chiếu chỉ ngày 4 tháng 11 năm 1860.
Chiếu chỉ thánh thượng.
Bọn man rợ lì lợm hải ngoại này, giống
như một bầy sâu bọ ghê tởm, quen thói lừa lọc, lăng loàn. Sau khi quấy
phá Đà Nẵng, cách đây hơn một năm ho 5 đã quất nhiễu và phân chia Gia
Định. Ta vẫn thường phái các tướng đi ngăn chặn giống người độc
ác này, và chúng ta đã chặn đứng và bao vây họ gần k inh đô. Bọn rợ
này thiện chiến khôn sánh. Trước khi gây rối và làm mất trật tự, họ
kêu gọi hoà bình. Nếu như họ biết lễ độ và tôn trọng tục lệ,
chúng ta không do dự việc quan hệ với họ, và sau cùng, chúng ta đã nhường
cho họ điều họ muốn là cảng Đà Nẵng, để binh sĩ của chúng ta được
nghỉ ngơi khỏi phải hành quân cực nhọc. Nhưng ta nhận thấy rõ ràng là
không thể nào tin tưởng được những người lòng lang dạ thú ấy. Vì thế,
ta ra lệnh cho tất cả các dân cư miền duyên hải phải xây dựng thành luỹ
và công sự phòng thủ, đồng thời chăm sóc cẩn thận các công trình ấy,
hòng đầy lùi bằng sức mạnh mưu toan xâm lấn nước ta của bọn man rợ
ấy. Hiện nay, bọn này chỉ cầu lợi và ngày càng đòi hỏi nhiều hơn.
Nếu chúng ta nhượng bộ theo ý muốn của họ
thì việc gì sẽ xảy ra cho nước ta và sau đó chúng ta còn hy vọng gì?
Vì thế, ta đã chăm lo tăng cường phương tiện để đánh đuổi họ và
chặn đứng những đòi hỏi quá lố của họ. Nhưng các người hãy xem,
khi hy vọng của họ bị chặn đứng, họ càng tỏ cho thấy nhiều bằng chứng
là họ thiếu thành thật. Dần dà họ tìm cách dò xét khuyết điểm trong
chiến lược phòng thủ của Tổng đốc Quảng Nam, nhằm tiêu diệt quân đội
ở đấy bằng một cuộc tấn công khốc liệt và bất thần. Cuộc xâm lược
điên cuồng đã khiến bọn mọi rợ xử sự như vậy thật là kinh tởm.
Nay ta ra lệnh cho hết thảy mọi người có trách nhiệm ở các cửa biển
hoặc ở bất cứ điểm phòng thủ nào, phải tăng cường cảnh giác gấp
đôi để không có gì cần phải làm lại…
Có bậc sĩ phu hoặc trượng phu nào lại
không nghiến răng căm giận, hoặc còn phí thời giờ lột da, khi nghĩ đến
việc ăn thịt? Đó chính là lý do chúng ta không thể ngồi chờ một nhân
tài nào hoặc chờ đến một buổi sáng hay một buổi tối nào trước khi
hành động! Có ai sống nhớ hoa quả của đất đ ai mà lại không nhớ đến
lòng trung thành và nghĩa vụ của mình? Ta ra lệnh cho hết thảy các quan chức
ở tỉnh phải làm tất cả mọi việc để động viên các sĩ phu và dân
chúng trong vu 2ng đứng lên kháng chiến. Bây giờ là lúc cần thiết phải
bỏ đi lối nói tối tăm khó hiểu. Chỉ khi nào không còn gì phải lo sợ
nữa, người người mới được yên vui cày cấy, chăm sóc bản thân và
giúp đỡ láng giềng. Nhưng đứng trước m ối nguy đang kề cận, mọi
người phải tập hợp lại và củng cố xã tắc nhằm tìm ra những phương
cách kháng chiến và đầy lùi mối nguy. H ơn nữa bây giờ chính là lúc tất
cả những ai có kinh nghiệm và khả năng trong nước, thi thố tài năng của
mình. Bất cứ làng nào có mười hộ chắc chắn cũng có ít nhất một người
có uy tín. Làm sao mà bất cứ điều đáng tán thưởng hoặc đáng kính trọng
trong các ngôi nhà tranh ấy, lại có thể không được ai biết đến…? Làm
sao để nhận rõ điều ấy?
Ta hạ lệnh cho hết thảy các giới chức có
thẩm quyền ngoài cấp làng xã ra, từ các quan huyện, cai tổng thuộc nhất
phẩm (Cai tổng, quan huyện không phải là quan nhất phẩm) và nhị phẩm trở
xuống, phải điều tra để tìm cho được bất cứ người nào có thể đề
ra các chiến lược hay nhằm tiêu diệt và đánh đuổi bọn rợ điên cuồng
này. Quan chức địa phương có nhiệm vụ tiến cử lên Ta để Ta lựa chọn.
Tuy nhiên, ai cũng muốn gởi tin tức hãy thận trọng, chớ làm cho các trạm
phu quá mệt mỏi một cách không cần thiết. Ta cũng thông báo cho các quan
văn võ ở khắp các quận huyện được biết, là bất cứ ai thực sự
thông minh, có năng lực và óc thực dụng và bất cứ ai có chí khí và phương
thế tiêu diệt quân cướp này phải xin theo các võ quan, và các quan chức
địa phương phải đặt họ đúng chỗ, trước hết xem người ấy hợp với
binh chủng nào, rồi ghi tên họ vào sáu tỉnh phía Nam cùng với Bình Thuận
và Khánh Hoà phải theo lệnh Tổng trấn Gia Định. Tất cả các tỉnh từ
Bình Định đến Quảng Nam phải theo lệnh Tổng trấn Quảng Nam. Thừa Thiên
Huế và tất cả các tỉnh phía Bắc cho tới kinh đô, phải làm theo lệnh
Ta ban để chống trả cuộc tấn công. Sau đó, tất cả những ai được đất
nước tri ân sẽ được triều đình khen ngợi và trọng thưởng cho công
lao của họ. (Từ L. Pallu, Histoire de l’expédition
de Cochinchine en 1861, trang 291-293).
12. Hiệp
ước Sài Gòn ngày 5 tháng 6 năm 1862.
Điều 1:
Từ nay trở đi sẽ có hoà bình vĩnh viễn giữa một bên là Hoàng đến
nước Pháp và hoàng hậu nước Tây Ban Nha, và một bên là nhà vua An Nam.
Tình hữu nghị giữa thần dân của ba dân tộc cũng hoàn toàn và vĩnh viễn
như vậy ở bất cứ nơi nào họ gặp nhau.
Điều 2:
Thần dân của hai nước Pháp và Tây Ban Nha được phép thờ phượng Chúa
Kitô trong vương quốc An Nam, và thần dân của vương quốc An Nam, bất kể
là ai, có ước muốn đón nhận và tin theo đạo Chúa Kitô, đều được phép
làm như vậy một cách tự do và không bị hạn chế. Nhưng không một ai muốn
trở thành Kitô hữu mà lại bị bắt buộc làm như vậy... (L. De Reinach,
Recueit des traités conclus par la France en Extrême Orient (1684-1902) (Paris 1902)
trang 94).
12. Phó
đề đốc Bonard, toàn quyền đầu tiên tại Nam Kỳ, gởi hầu tước
Prosper de Chasseloup-Laubat, Bộ trưởng Hải quân và thuộc địa Sài Gòn,
ngày 24 tháng 7 năm 1862.
Giờ đây tình hình cuộc chinh phạt Nam Kỳ của
chúng ta đã hoàn toàn thay đổi, bởi việc ký kết hiệp ước với vua An
Nam, tôi nghĩ mình có nhiệm vụ cung cấp cho Ngài một dấu hiệu về những
hậu quả và những khó khăn mà nó có thể gây ra để báo trước và trang
bị trước cho Ngài, nhằm chống lại những lời lẽ phóng đại quá lố của
những kẻ chắc chắn bị khêu gợi bởi việc ký kết bản hiệp ước và
có ý định đầy những hệ luỵ của nền hoà bình vượt ra ngoài giới hạn,
mà tôi nghĩ việc ta tự giới hạn trong ấy là một chính sách hay.
Tôi chắc rằng chính phủ An Nam hiện nay
đang tin rằng họ không thể thắng được các đại bác của ta và sự sụp
đổ của họ là là kết quả của việc họ công khai thù địch với ta, nên
họ hy sinh nhượng các tỉnh ấy cho ta, để cứu nguy cho những phần đất
còn lại của An Nam.
Có nhiều cơ sở chắc chắn
đề hy vọng rằng nếu chúng ta duy trì chương trình này một cách thận trọng
và cương quyết, thì sẽ chỉ xảy ra những khó khăn, về chi tiết mà
chúng ta có thể dàn xếp tại chỗ, không cần phải điều động nhiều lực
lượng.
Những điều phiền toái nghiêm trọng nhất
có thể xảy ra liên hệ đến các thừa sai, nếu vì lý do tôn giáo lại
ủng hộ họ trong các hoạt động chính trị nhằm lật đổ nhà vua đang
trị vì, nhưng hoạt động mà rất không may là phần lớn các thừa sai thường
để bị lôi kéo vào và tất cả đều còn lâu mới chịu từ bỏ. Chúng
ta nên tự giới hạn mình trong việc bảo đảm cho họ một mức độ bảo
vệ công bằng. Việc ủng hộ những hoạt động can thiệp của họ là một
điều nguy hiểm, vì chính họ có thể là những người gây rối, chứ
không phải là những người tử đạo.
Thưa Ngài Bộ trưởng, việc lượng giá này
đặt căn bản trên các điều sau đây. Không ai có thể phủ nhận rằng cuộc
chiến tranh ở Nam Kỳ phần lớn là do lời kêu gọi của các thừa sai
Pháp và Tây Ban Nha, những người đã kêu ca về sự ngược đãi bất công
mà họ phải gánh chịu bởi triều đình Huế.
Giờ đây, tinh thần và tính chất hoạt động
của các nhà tu ấy giống như thế này.
Nam Kỳ được chia thành mất địa phận, mỗi
địa phận được một Giám mục coi sóc. Các Giám mục có lẽ cùng nhận
được một sự điều động chủng từ Hội chính ở
châu Âu. Nhưng mỗi vị trong địa phận của mình đều ít nhiều làm theo
ý thích riêng và rất tức tối khi giám mục thuộc địa phận lân cận
can thiệp chút xíu vào cái lãnh thổ rộng lớn mà vị ấy đã được bổ
nhiệm làm chủ chặn tinh thần. Tất cả các vị Giám mục đều nuôi tam vọng
trở về cái thời mà Giám mục Adran thực sự là ông vua ở Nam Kỳ, cái
thời không có Giáo gì được thực hiện mà không có ý kiến hoặc phép của
Ngài. Phương tiện để thực hiện mục đích này như sau: Một số giám mục
thấy rằng các vua kế vị Gia Long đã cản trở khát vọng của họ, nên
đã đặt vấn đề về quyền kế vị chính đáng của các vua ấy và tìm
cách đưa ra một hoàng tử khác để nếu người này lật đổ được nhà
vua cai trị sẽ có thể mang lại cho họ một bảo đảm tốt hơn nhằm đạt
được một mục đích riêng. Để thực hiện được việc tiềm ngôi, một
nhóm đã lấy việc Gia Long chỉ định người con trai thứ hai kế vị ông,
thay vì người con cả là một duyên cớ.
Đây là một phong tục thông thường tại Viễn
Đông, và các thừa sai Pháp ở địa phận Tây Đàng Trong đã chụp lấy ý
tưởng này và đứng về phía những người ủng hộ vị trưởng nam của
vua Gia Long. Những người ở Trung Kỳ gần Huế, một tỉnh nói cho đúng nằm
giữa Bắc và Trung Kỳ, còn đi xa hơn nữa là dám đặt thành vấn đề chính
danh của cả dòng họ đang cai trị. Họ coi Gia Long như người đã cướp
ngôi và đưa ra một người trong số dòng dõi nhà Lê để đòi lại Ngai
vua cho dòng họ này, nhà Lê đã mất ý chí trị vì và bị một trong các
đại thần trút ngôi.
Tôi cho rằng các thừa sai Đa Minh người Tây
Ban Nha, còn sốt sắng và cực đoan hơn các thừa sai Pháp, cũng về phe với
nhóm này.
Một người thuộc dòng dõi nhà Lê, có lẽ
thật mà cũng có lẽ giả, được người ta tìm thấy trong một tu viện
ở Truing Quốc, rồi sau khi làm chi anh ta phải nhẫn n hục và chịu đựng
đến độ biến anh thành lao công trong tu viện, các nhà tu cốc tiên này liền
đưa anh ra làm kẻ tranh đoạt ngôi vua vì cảm thấy chắc chắn về ảnh hưởng
của họ đối với anh ta, nếu họ thành công trong kế hoạch ấy.
Trong tình trạng hiện nay của
sự việc, và theo những lời lẽ và hành động của các loại thừa sai
Pháp ở Nam Kỳ thuộc Pháp, có khuynh hướng giảm bớt những mục tiêu
chính trị mà họ đòi hỏi. Họ hy vọng rằng ảnh hưởng mà cuộc chiếm
đóng của chúng ta mang lại. Mặc dù không bằng cái quyền tuyệt đối của
Đức giám mục Adran nhưng cũng sẽ cho phép họ hành xử được nhiều quyền
hơn trước đây. Hiện nay, họ có vẻ đang hài lòng về điều này. Vì thế,
chúng ta có thể kỳ vọng bằng sự cương quyết và thận trọng, áp lực
họ phải tự kiềm chế việc đòi hỏi ảnh hưởng của họ trong những
giới hạn hợp lý.
Các thừa sai ở trong vùng
gần Huế thì khó mà tán thành giải pháp trung hoà này. Một s ố chỉ đồng
ý với giải pháp ấy cách thụ động, nhưng đa số qua ngôn ngữ và hành
động, chứng tỏ rằng họ sẽ không từ bỏ những tư tưởng cực đoan của
mình.
Giám mục và những người cộng sự thông
minh nhất của ông, những người chịu nghe theo lời khuyên của tôi là sẽ
không khởi xướng một điều gì, hiện vẫn còn ở Nam
Kỳ và đã hứa sẽ hành động thận trọng khi họ trở về địa phận, một
khi hoà bình được thiết lập vững chắc hơn.
Nhưng những người nhiệt
thành hơn đã ra đi tay làm dấu thánh giá, cùng bọn với một số người
thật đúng là những kẻ cướp. Những phiền toái nghiêm trọng sẽ xảy
ra việc này, nếu chúng ta không đặc biệt thận trọng khi đáp ứng những
đòi hỏi bảo vệ của họ với tư cách là công dân pháp và tín đồ Kitô
giáo, điều mà họ chắc chắc sẽ làm một khi họ đã tự ý dính líu
vào những hoạt động chính trị trái với lời khuyên của tôi.
Còn về các thừa sai Đa minh người Tây Ban
Nha thường ở phía Bắc bắc Kỳ, họ khó khép vào khuôn khổ hơn: sốt sắng và cực đoan đến cùng cực, một số khá đông
trong họ là cựu du kích quân và thuộc phe các lốt, những người đã từng
mang kiếm và súng trường cùng với cây thập giá và hiện đang phó thác cả
linh hồn và xác cho cuộc nổi dậy đang hoành hành Bắc Kỳ.
Tôi nghĩ rằng những khó
khăn mà họ đang tạo ra cho chính phủ của Nữ Hoàng công giáo (nước Tây
Ban Nha) cho thấy sự đòi hỏi bản hiệp ước vừa được Pháp và Tây Ban
Nha ký kết với Huếphải được thi hành riêng rẽ bởi mỗi nước nếu
không, nó sẽ mất hết tất cả những lợi ích vật chất, điều chắc chắn
sẽ phải đến do một cam kết hoà bình thẳng thắn… (Bộ ngoại giao các
biên bản và văn kiện: Châu Á tập 28 trg. 85-88).
D. VIỆC
CỦNG CỐ.
Việc chinh phạt Nam Kỳ đã khó khăn và tốn
kém bội phần hơn sự tiên liệu. Vì không muốn nhìn thấy sự dính líu của
Pháp về quân sự và tài chính leo thang, Napoléon III đã chỉ miễn cưỡng
chấp thuận việc chiếm đóng ba tỉnh miền Đông năm 1861. Trong những năm
kế tiếp, giới ủng hộ cuộc xâm lăng của Pháp bị bó buộc phải bảo
vệ sự tồn tại và phát triển của vùng thuộc địa mới, chống lại sự
tấn công của người Việt Nam. Họ đã gặp một trường hợp khó xử.
Trong những năm đầu tiên dưới sự cai trị của Pháp, Nam Kỳ không thu
được bao nhiêu tiền thuế, mà việc phòng thủ các tỉnh miền Đông quanh
Sài Gòn. Vẫn là một gánh nặng vô hạn cho ngân sách của Pháp.
Hơn nữa, ảnh hưởng của một nhóm ủng hộ
về mặt chính trị cho vấn đề thuộc địa ở pháp đã suy giảm. Nhóm
giáo sĩ vẫn tích cực vận động cho việc can thiệp hồi 1857-1858, giờ đây
không còn có thể đòi hỏi nhà vua cứu xét nhân danh quyền lợi của các
thừa sai nửa sau năm 1860. Việc Napoléon III chống lại chính sách của Đức
Giáo hoàng trong cuộc chiến tranh tại Ý năm 1859, đã dẫn đến những lời
chỉ trích công khai đầu tiên của hàng giáo phẩm công giáo Pháp đối với
chế độ Bonaparte do đó, Giáo hội đã hy sinh phần lớn các đòn bẩy chính trị của mình. Vì những khó khăn to lớn
hơn trong chính sách đối ngoại và tài chính của chế độ ngày càng tích
luỹ, nhà vua càng do dự khi xét đến vấn đề chiếm thêm đất mới, đặc
biệt là xu hướng liên tục bành trướng. Vào đầu thập niên 1860, sự tồn
tại của Nam Kỳ thuộc Pháp như là thuộc địa vẫn còn là điều không
may chắc chắn.
Tuy nhiên quyền lợi của thuộc địa này đã
được Prosper de Chasseloup-Laubat, Bộ trưởng Hải quân bảo
vệ mạnh mẽ và có kết quả trong một khoản thời gian dài khác thường
(từ ngày 24 tháng 11 năm 1860, đến ngày 20 tháng giêng năm 1867), trước mặt
Hội đồng Bộ trưởng. Được coi là người hết lòng biện hộ cho những
tiềm năng thương mại và chiến lược ở Nam Kỳ (Vk. 14), Chasse loup-Laubat
đã phải đương đầu với những vấn đề lớn trong việc tái tục sự
cam kết của Hoàng đế Pháp đối với Nam Kỳ.
Hiệp ước
bảo hộ với Cao Miên, 1863.
Sự khủng hoảng đầu tiên đối với
Chasseloup-Laubat diễn ra năm 1863, khi người kế vị phó đề đốc Bonard, đề
đốc de la Grandière (1863-1868) nắm lấy một cơ hội bất ngờ để bành trướng
khu vực ảnh hưởng của Pháp về hướng Bắc bằng cách thiết lập một
nền bảo hộ đối với Cao Miên. Không tham khảo Paris, La Grandière đã lập
tức đáp ứng với vua Norodom ở Cao Miên kêu gọi giúp đỡ
chống lại sự đe dọa chính trị của Thái Lan. Một hiệp ước bí mật một
phần qua sự trung gian của Đức Cha Miche đại diện Tông toà địa phận
Cao Miên, đã được ký kết vào ngày 11-8-1963. Hiệp ước này cam kết việc
Pháp ủng hộ vua Norodom để đổi lấy quyền kiểm soát hoàn toàn của
Pháp về các quan hệ đối ngoại của Cao Miên. Khi bản hiệp ước được
gởi về bộ ngoại giao để xin phê chuẩn, Bộ trưởng ngoại giao Pháp,
Drouyn de Lluys, đã gây sức ép đòi bác bỏ nó, dựa trên cơ sở là người
Anh sẽ rất bình tĩnh về việc Pháp ủng hộ Cao Miên. Tuy nhiên,
Chasseloup-Laubat đã xin được sự phê chuẩn miễn cưỡng của Napoléon III
đối với bản hiệp ước, bằng cách bênh vực tầm quan trọng của một
nền bảo hộ ở Cao Miên đối với khả năng thương mại thực tế cũng
như việc phòng thủ chiến lược cho Nam Kỳ. Ông Bộ trưởng Hải quân đã
dùng cơ hội ấy để vẽ nên một bức tranh tươi đẹp về triển vọng
tương lai của Nam Kỳ và trong đó những lý luận khác ca ngợi tầm quan trọng
của nó, ông đã nhấn mạnh khá nhiều về ý nghĩa chính trị đối với
tiềm năng truyền đạo cho dân chúng ở Nam Kỳ (Vk. 15).
Việc Chasseloup-Laubat biện hộ cho hiệp ước
ở Cao Miên tương đối không lâu. Cuối năm 1863, một thách thức quan trọng
và lâu dài hơn đối với chính sách phát triển thuộc địa nam kỳ của
Chasseloup-Laubat đã diễn ra, khi triều đình Việt Nam gởi một phái bộ ngoại
giao đến Paris với đề nghị bồi thường 85 triệu quan trong nhiều năm,
để đổi lấy việc Pháp trả lại ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ cho Việt
Nam. Vì ngay chính Napoléon III cũng thấy điều kiện tài chính ấy là đặc
biệt hấp dẫn, đề nghị ấy đã trở thành một mối nguy cho chính việc
duy trì vùng đất mới chiếm ấy. Một phần lúc bấy giờ vì cuộc phiêu
lưu ở Mêhicô đang gặp khó khăn về chi phí và một phần chính sách tiết
giảm chung về ngân sách đối với các hoạt động, triển vọng thu nhập
tức thời một khoản tiền từ vùng đất đắt giá chiếm được ở Châu
Á này là điều không thể làm ngơ. Ngày 5 tháng 11 năm 1863, đại tá
Aubaret được lệnh của Bộ ngoại giao cho phép thương lượng một hiệp
ước về việc trao trả đất tại Huế.
Thế là Chasseloup-Laubat bị lép vế trong các
cuộc thảo luận ấy tại triều đình Huế, chính sách xoa dịu của Tự Đức
có vẻ như sắp sửa được mọi người nhìn nhận là đúng đắn.
Trong khi các cuộc thương thuyết đang diễn
ra, vua Tự Đức tìm cách tăng cường tối đa cơ may đặt được sự đồng
ý của Pháp, bằng việc ban hành một điều chỉnh lớn lao trong chính sách
đối với các tín đồ Kitô giáo vào tháng bảy năm 1864 (Vk.16).
Chiếu dụ của vua lần này viết dưới hình
thức một bài giảng và không còn coi Kitô giáo như tà đạo và mang tính
chất khuynh đảo nữa. Nó thúc dục chính người Kitô hữu hãy bày tỏ
lòng trung thành với vương quyền.
Tuy nhiên chiếu chỉ hoà giải của Tự Đức
đã không ngăn được sự chống đối việc trao trả đất của các giám mục
thừa sai ở An Nam và đề đốc LaGrandière đã dùng những luận cứ của
các Giám mục này trong khi bác bỏ rất quyết liệt dự án trả đất ấy.
Khi bản dự thảo hiệp ước của Aubaret gửi đến Paris để cứu xét,
Chasseloup-Laubat đã rút những luận cứ từ công văn của vị Đề đốc này
để soạn ra một văn thư dài bác bỏ dự án ấy. Vị Bộ trưởng Hải quân
lại một lần nữa nhắc lại những tiềm năng của vùng thuộc địa ấy
và lý luận của ông phần lớn cho rằng việc Pháp bỏ rơi những người
cộng tác Việt Nam, nhất là các Kitô hữu chắc chắn sẽ làm cho họ bị
trả thù dã man (Vk.17).
Được sự ủng hộ của Victor Duruy, lúc ấy
là cố vấn có ảnh hưởng nhất đối với Napoléon III và là người trong
nội các rất hăng say bành trướng thuộc địa, Chasseloup-Laubat cuối cùng
cũng làm cho bản dự thảo hiệp ước trả đất của Aubaret bị bác bỏ
và đề nghị của Việt Nam lúc ấy bị chìm đi.
Pháp
chinh phục các tỉnh miền Tây Nam Kỳ, tháng 6 năm 1867.
Phản ứng của nhân dân Việt Nam đối với
sự thất bại của vua Tự Đức trong ván bài trả đất đã phần nào
khêu gợi hành động lấn chiếm của Pháp đối với phần còn lại ở đồng
bằng sông Cửu Long. Chiến lược thương thuyết của vua Tự Đức bị sụp
đổ đã làm suy yếu khả năng của triều đình Huế trong việc kiềm chế
một phong trào hoạt động du kích lớn mạnh nhằm vào vùng lãnh thổ Pháp
từ các căn cứ tại các tỉnh miền Tây Nam Kỳ. Các tỉnh An Giang, Vĩnh
Long và Hà Tiên vẫn còn thuộc quyền người Việt Nam, nhưng nằm giữa đất
bảo hộ Cao Miên của Pháp và vùng đã bị Pháp chiếm đóng chúng bị cắt
rời khỏi phần đất còn lại của Việt Nam sáp nhập vào vùng thuộc địa
của Pháp năm 1866-1867 đã đưa đến sự trả đũa ác liệt của Pháp. Đề
đốc La Grandière đã phát động một cuộc hành quân chiếm giữ nhanh
chóng và không đổ máu, vào tháng 6 năm 1867, và các tỉnh miền Tây đã chịu
khuất phục sự đô hộ của Pháp. Lúc bấy giờ, vì chính phủ đã chấp
nhận việc giữ lại các tỉnh miền Đông Nam Kỳ, nên Đề Đốc la Grandière
không gặp mấy khó khăn trong việc xin Paris chấp thuận việc chiếm đóng
các tỉnh miền Tây. Thế là Pháp kiểm soát toàn bộ Nam Kỳ.
Phản ứng
của dân chúng dưới sự lãnh đạo các sĩ phu đối với việc chiếm giữ
các tỉnh miền Tây của Pháp, 1867-1869.
Trên phương diện chính thức, hiệp ước
1862 lúc ấy chẳng còn hiệu lực gì. Những hành động xâm lấn ấy của
Pháp đã không làm cho người Việt Nam ở lại thù nghịch với Pháp. Mặc
dầu các tỉnh miền Tây bị mất có gây ra một làn sóng công phẫn của
những người yêu nước (vk.18) ở Bắc và Trung Kỳ, nhưng triều đình Việt
Nam vẫn tỏ ra hoà hoãn trong cách giao thiệp với Pháp.
Ban đầu Tự Đức chiều theo những công phẫn của dân chúng với Pháp, bằng
cách ban hành một c hiếu chỉ tổng động viên.
Nhưng hành động ấy chỉ là một cách làm dịu
bớt ý kiến của những người yêu nước và không có một biện pháp nào
tiếp sau đấy. Sự chia rẽ bi thảm giữa giới sĩ phu ưu tú, nhiệt thành
với chính sách tiếp tục kháng chiến và nhà vua Việt Nam nhất định theo
đuổi một cuộc dàn xếp để gỡ thể diện với Pháp, ngày càng lộ rõ
từ cuối thập niên 1860. Triều đình tự chế không muốn tấn công vào
lãnh thổ Pháp đang chiếm giữ, nhưng không thể kềm chế được sĩ phu các
nơi thôn dã bày tỏ lòng thù nghịch của họ. Thế là các thừa sai và
tân tòng đạo Kitô ở Bắc và Trung Kỳ nhận ra mình đang ở giữa trung tâm
điểm của cuộc khủng hoảng và họ ở rải rác trong đại bộ phận dân
chúng. Ở địa phận Nam đàng Ngoài, ba mươi cộng đoàn giáo dân đã được
báo cáo là bị huỷ diệt vào năm 1867-1868 bởi những nhóm
do sĩ phu lãnh đạo và ở Huế cuộc tàn sát tương tự cũng là điều người
ta đã đe doạ. Vào những năm 1869-1870, các thừa sai ở
Bắc Kỳ vẫn còn báo cáo về sự nhiễu hại mà các nhóm dân làng Việt
Nam do các sĩ phu lãnh đạo gây ra, một giai cấp mà nhà vua cần phải quan
tâm lưu ý hơn (Vk. 19)
Những
toan tính cuối cùng của Tự Đức nhằm khôi phục vương quyền ở Nam Kì.
Các cuộc thương thuyết năm 1868.
Thế nhưng Tự Đức vẫn không từ bỏ hy vọng về một hiệp ước
trao trả đất qua thương lượng. Vấn đề sống còn của một ông vua
không mấy an tâm về quyền kế vị ngai vàng là ít nhất phải đạt được
chủ quyền trên danh nghĩa đối với các tỉnh đã mất. Không bằng lòng với
các quan trong triều, các quan chức ở tỉnh và các sĩ phu vẫn gây sức ép
đòi trở lại chính sách thù nghịch, Tự Đức đề nghị với La Grandière
vào năm 1868 một hình thức bảo hộ, theo đó chủ quyền và quyền kiểm
soát hành chính ở cả 6 tỉnh sẽ được trao lại cho Việt Nam, để đón
lấy một món tiền thuế hằng năm trả cho Pháp bằng toàn bộ số tiền
thặng dư của thu nhập thường xuyên của Nam Kỳ. Một lần nữa Tự Đức
có vẻ như coi việc quan tâm đến quyền lợi các thừa sai là quan trọng.
Là nạn nhân của sự ác cảm nơi dân chúng, các thừa sai rõ ràng sẽ là
người được hưởng lợi do bản hiệp ước và những dàn xếp pháp lý
giữa hai chính phủ (vk.21). Theo bản phúc trình của viên thông ngôn trong
chính quyền Pháp Phủ Ba Tường, các đại diện của phía Việt Nam trong
các cuộc đàm phán năm 1868 tại Sài Gòn có vẻ như đã sẵn sàng chấp nhận
một điều khoản có phạm vi rộng lớn về quyền thờ phượng tôn giáo
do La Grandière soạn thảo. Điều khoản này quy định rõ ràng những bảo
đảm cho các giáo đoàn và còn cho phép các tín đồ Kitô giáo có đủ
năng lực được tham gia vào chính quyền Việt Nam ở cấp cao (vk.20). Tuy
nhiên, các phản đề nghị của Việt Nam về các vấn đề khác đã bị
Pháp bác bỏ, và cuộc thương lượng đã chìm xuống vào năm 1870, khi cuộc
chiến tranh Pháp - Phổ bắt đầu. Cuộc chiến này đã dân chủ hoá bộ máy hoạch định chính sách của Pháp và đã thay
đổi các định lý về tài chánh và ngoại giao trong chính sách của Pháp
ở phương Đông, khác hẳn với những gì đã được thừa nhận từ trước.
Do đó sự sụp đổ của đệ nhị đế quốc đã đánh dấu một sự dứt
đoạn lớn trong các mối quan hệ chính trị Pháp-Việt.
CÁC
VĂN KIỆN
14. Hầu
tước Chasseloup-Laubat, Bộ trưởng Hải quân và thuộc địa,
gởi một thông tín viên riêng. Paris ngày 14 tháng 2 năm 1862.
... Chúng tôi vừa đạt được một vài
thành công đáng kể ở Nam Kỳ. Tôi cảm thấy trách nhiệm của tôi ở
trong đó thật lớn lao. Tôi muốn tạo cho nước tôi một đế quốc thực
sự ở Viễn Đông. Tôi muốn nền văn minh Kitô giáo của chúng ta đặt
được một cơ sở to lớn trong cuộc chinh phục mới, để từ đó ảnh hưởng
của nó lan rộng ra khắp nơi. Nhiều người vẫn ngờ vực khả năng thực
hiện điều này, và một số khác thì ngại phí tổn. Vì thế tôi có một
vài trở ngại lớn phải vượt qua, những tôi có niềm tin tôi tiến hành
như thế chắc chắn phải thành công (J. Delaile, Le Matquis P. de
Chasseloup-Laubat, 1805-1873 (Paris, Challamel, 1873) trang 130).
15. Hầu
tước Chasseloup-Laubat, Bộ trưởng Hải quân và thuộc địa, gởi Drouyn de
Lluys, Bộ trưởng ngoại giao. Paris ngày 10 tháng 12 năm 1863.
Tôi biết rằng chính sách của Pháp có nhiều
điều bao quát đáng cho Ngài quan tâm trực tiếp hơn và đang chiếm hết phần
lớn thời gian của Ngài. Nhưng xin Ngài cho phép tôi nói để Ngài biết rằng
theo ý tôi, hoặc là chính phủ của Hoàng thượng phải
nghiên cứu thật cần trọng những gì mà Chúa quan phòng đã đưa đến cho
chúng ta ở Nam Kỳ, hoặc là chúng ta phải từ bỏ mọi thế tạo ra một
ảnh hưởng cho đất nước ở vùng Viễn Đông. Chúng ta đã tìm thấy một
địa thế tuyệt hảo. Chúng ta có trước mặt những dân tộc chấp nhận
Kitô giáo. Dưới chân chúng ta là những mảnh đất màu mỡ trên địa cầu.
Những dấu vết còn lại của một nền văn minh đã tiến bộ lạ thường,
cho phép chúng ta hy vọng về những thành quả thật phong phú mà nền văn
minh của ta có thể tạo ra được ở đấy. Tóm lại, nếu chúng ta biết
cách sử dụng vùng ấy, nếu chúng ta không e sợ tương
lai ảnh hưởng của Pháp một ngày nào đó nhất định sẽ từ vùng này toả ra khắp phương Đông.
Người Hoà Lan có Java, nhưng
họ đã không truyền đạo Kitô cho người Java và có lẽ họ sẽ gặp nhiều
nguy hiểm hơn là họ nghĩ. Ở Ấn Độ, người Anh hằng ngày phải chịu
đựng những cuộc nổi loạn mà những người Hồi giáo cuồng nhiệt có
thể gây ra và chỉ có bạo lực mới dẹp nổi. Ở Phi Luật Tân, người Tây
Ban Nha biết cách lôi cuốn dân chúng heo đạo nên đã cai trị mà không phải
lo sợ. Về phần chúng ta, chúng ta đang xử sự với những người dân mà
một số người trong họ đã đón nhận Kitô giáo, ngay từ trước khi chúng
ta bắt đầu cuộc chinh phục. Đó là một yếu tố quan trọng trong sự
thành công của chúng ta. Vì thế, chúng ta hãy tìm cách đặt nền tảng cho
một cơ sở có thể thành một trang sử tươi đẹp của một nền thịnh
trị…
(Văn khố
quốc gia Sở Hải Ngoại, Paris, Đông Dương (Anciens Fonds) hộp số 37, hồ
sơ B 30 (1).
16. Vua Tự
Đức. Chiếu chỉ nhà vua về các tín đồ Kitô giáo, tháng 7 năm 1864.
Ta lên kế vị các tiên vương và thành bậc
phụ mẫu của trăm vạn dân trong lúc còn trẻ và chưa xứng đáng. Vì thế,
Ta coi họ như con cái. Đôi lúc con cái tỏ ra ngoan ngoãn, mặc dầu khi
chúng hư, cha mẹ có bổn phận đánh phạt chúng. Nhưng sau khi đánh phạt,
cha mẹ vẫn thương yêu chúng như trước. Chúng bị đánh phạt để chúng
biết lỗi và biết sửa chữa lỗi lầm. Về phần mình con cái phải biết
yêu thương nhau, biết cách cư xử và tránh cãi vã kẻo cha mẹ buồn lòng.
Quan trọng hơn nữa là chúng không được giận hờn khi cha mẹ quở phạt.
Đó là cách cư xử đúng mà tất cả con dân phải theo. Bổn phận của
chính Ta là phải nói rõ ý Ta cho dân biết.
Mấy năm trước đây, người Pháp và Tây Ban
Nha đã bất ngờ đến đất nước ta. Nhân dân ta đã phải cầm vũ khí
và trải qua nhiều gian khổ để chiến đấu với họ. Các quan đã nói với
dân rằng: “Tín đồ Kitô giáo đã kêu gọi vào vì họ không được tự
do giữ đạo”. Các quan hệ kêu gọi dân còn nói rằng, nhiều vị lãnh đạo
tôn giáo này đã tiếp xúc với người phương Tây và hết lòng giúp đỡ
họ. Vì thế các quan đã tuyên bố : “Để tránh tất cả những bất hạnh,
phải phân tán và bỏ tù các tín đồ Kitô giáo” Không tham dự đầy đủ
trong các cuộc thảo luận mà ý kiến trái ngược nhau và không được thông
tri đầy đủ, nên Ta đã không nhận ra được sự thật. Không biết phải
theo đuổi đường hướng nào, nên Ta đã bó buộc phải theo lời khuyên của
các quan và đã chọn các biện pháp nghiêm khắc. Ta chỉ có một mục đích
trong lòng: Kiềm chế dân Ta cho có chừng mực và ngăn chặn những điều
ác mà số phận có thể đem lại. Ta hy vọng các tín đồ Kitô giáo sẽ
thay đổi lối xử sự, hoặc sự vô tội của họ sớm hay muộn sẽ được
mọi người thừa nhận, và lúc ấy khi được thông báo đầy đủ hơn. Ta
sẽ đền bồi cho những thiệt hại mà họ đã phải gánh chịu. Có bao giờ
Ta lại có thể bỏ được tình cha con và để cho dân ta phải hư mất? Không
bao giờ và sau đây là bằng chứng cho điều ấy.
Có một số quan đang kêu gọi tàn sát tất cả
các tín đồ Kitô và một số khác ngay từ đầu, đã lập tức đòi phân
tán và giam hãm họ trong các làng không theo Kitô giáo. Với tấm lòng của
một người cha, Ta không thể nhìn những biện pháp như thế diễn ra. Ta đã
trì hoãn việc thi hành chúng trong ba bốn năm. Cuối cùng, Ta đã chọn con
đường nhẹ nhàng nhất, phân tán họ ra. Các ngươi thấy Ta đã nhân từ
biết bao! Sự kiện tự nó nói lên tiếng nói của nó. Nhưng ai sẽ tin vào
điều ấy! Những kẻ thi hành lệnh Ta, đã làm quá trớn. Có một số các
quan ôn hoà, nhưng một số khác độc ác và đã hành hạ
dân Ta quá mức làm Ta đau lòng và trái với ý Ta. Khi hoà
bình được thiết lập, Ta đã vội vã cho hồi hương tất cả các tín đồ
Kitô giáo, để họ lại tiếp tục công việc của họ và tuân giữ những
đ iều răn dạy của Kitô giáo. Ta tuỳ hoàn cảnh mà
nhân từ hay nghiêm khắc. Ngạn ngữ có câu: “Vua có lỗi thần dân cũng
không được buồn lòng: Cha cư xử không tốt cũng không phải là duyên cớ
đáng để con bất hiếu”.
Điều ấy lại càng đúng khi người cha không
có ác ý.
Ta nghĩ đến nay dân Ta đã được hưởng thái
bình, mọi người đang về với công việc và nghề nghiệp ngày xưa, không
có phe nhóm gì nữa, ước vọng của chúng ta sẽ được thực hiện, và
nhân dân ta được hởng thành quả của hoà bình và thịnh
vượng. Nhưng dù tin hay không, thì phe nhóm vẫn còn nhiều.
Một phe trong số ấy hiện vẫn tin là họ
được ủng hộ, nên đã tỏ ra kiêu hãnh và đang tính chuyện phục thù.
Phe ấy đã tự chuốc lấy sự khinh rẻ của công chúng và điều này cho
thấy họ rất thiển cận. Nhóm khác lại hét phe ấy và tìm đủ cách để
nhiễu hại họ. Đó cũng là điều đáng trách. Vì như thế là mọi người
đều theo những khuynh hướng trái ngược nhau, điều làm cho lòng Ta đau xót.
Làm sao có thể giải thích được sự mù quáng ấy? Một số người nói:
“Chính người Kitô giáo đã kêu gọi người Phương Tây đến”. Ta không
biết điều khẳng định này có đúng hay không. Dù sao thì người Kitô
giáo cũng vẫn là thần dân của Ta. Họ phải theo đạo của đất nước,
nếu họ không theo thì làm sao khỏi lỗi được? Vì thế, không nên coi những
người trước đây có quyền hành, dù họ có làm quá đi chăng nữa, là những
mục tiêu để trả thù vì những lý do như sau:
Có duyên cớ để nghi ngờ các tín đồ Kitô
giáo, vì họ có những tập quán lạ thường khác với dân chúng trong nước.
Các thần dân khác của Ta bó buộc phải tham chiến và chịu mọi gánh nặng
của cuộc chiến trong bốn năm năm. Họ đã mất cha, mất con và mất cả
tài sản. Bị lôi kéo ra khỏi công việc của mình, họ đã trải qua đủ
thứ tai ương. Làm sao có thể bồi hoàn cho họ về những mất mát ấy? Chỉ
có các tín đồ Kitô giáo đã thoát được đau khổ.
Vì thế, các ngươi, tín đồ Kitô giáo, tình
thế của các ngươi chắc chắn là rất khó xử, nhưng các ngươi vẫn luôn
kiên gan theo đạo của mình trong lúc vẫn giữ đúng luật nước, về việc
này Ta chỉ còn biết mừng cho các ngươi. Ta sẽ luôn luôn ghi nhớ điều này.
Đó lại càng là lý do để Ta đối xử với người Kitô giáo và dân lương
(nguyên văn) như sau: sau khi tỏ lòng nhân từ cho các tín đồ Kitô giáo và
trả tự do cho họ. Các ngươi phải ra sức biết ơn Ta. Nếu các ngươi ngấm
ngầm bất cứ ý tưởng trả thù nào trong lòng, là các ngươi đã tỏ ra
không vâng lệnh vua, các ngươi sẽ là những kẻ khi quân vô lại, làm sao
các ngươi có thể tự nhận mình là người Kitô giáo? Rõ ràng là các ngươi
phải gạt bỏ lòng thù hận: các ngươi không được phép thù. Các ngươi
hãy cố gắng tự hoàn thiện, để lời cầu nguyện của các ngươi dễ
được Chúa nhận lời. Các ngươi chớ quan tâm đến vinh hay nhục, hay may
rủi, hoặc những thăng trầm trong cuộc sống.
Bổn phận của mọi người dưới ánh mặt
trời này là vâng lệnh vua. Kẻ hèn kém phải tuân thủ người tài giỏi,
nhỏ nhất phải theo ý lớn. Đó là điều lương tri ta phải biết và đó
là điều cho đến nay vẫn luôn luôn được thực hiện. Con người phải
chăm chú nhìn theo con đường mà tổ tiên đã theo: Hãy như con cáo, khi chết,
biết quay đầu về hướng mảnh đất của cha ông nó.
Về phần những kẻ âm mưu nổi loạn, họ
phải biết rằng không phải ai cũng có thể đạt được quyền bính. Trong
một trăm hoặc một ngàn người chỉ có một hay hai người thành công.
Không bao giờ lại có đủ vinh quang cho hết thảy mọi người. Đó là điều
bình thường của cuộc sống. Ta nói cho các ngươi biết những sự thật mà
bất cứ ai cũng hiểu được. Sao các ngươi không suy gẫm thay vì theo thói
kiêu căng? Các ngươi không những không được phép bày tỏ công khai mà
ngay cả chất chứa trong lòng những ý định ác độc cũng là điều xấu
xa. Nếu như các ngươi đè nén được lòng giận dữ và đừng để nó bộc
lộ, thì không ai lại tỏ ra nghi ngờ các ngươi. Nhưng nếu các ngươi lớn
tiếng xầm xì, các ngươi đã khêu gợi sự nhòm ngó. Các ngươi đã đau
khổ nhiều. Nếu các ngươi làu nhàu, sự đau khổ của các ngươi sẽ mất
hết giá trị.
Từ những điều Ta vừa nói, thật dễ dàng
nhận thấy rằng Ta không hề lên án Kitô giáo mà chỉ lên án lòng kiêu căng
và sự oán thù. Nếu chúng ta tránh đừng để cho lòng kiêu căng lôi cuốn,
chúng ta sẽ không làm cho kẻ khác phải tức giận. Nếu chúng ta không
khêu gợi sự tức giận nơi kẻ khác, chúng ta có thể sống trong ôn hoà với họ. Nếu chúng ta sống trong ôn oà
có thể hoàn toàn tự do theo đạo của chúng ta, vì tôn giáo không mâu thuẫn
với các nguyên tắc đạo lý. Lúc ấy còn có gì để phải sợ nữa? (Trích thư của Lm.F.Bernard gởi cho Giám mục
Sohier, Huế, ngày 17 tháng 9 năm 1864. In ở trong Biên niên sử về việc truyền
bá đức tin, tập XXXVII, 1865, trang 325-327).
17. Hầu
tước Chasseloup-Laubat, Bộ trưởng Hải quân và thuộc địa, gởi hoàng đế
Napoléon III Paris, ngày 4 tháng 11 năm 1864.
... Về phương diện tôn trọng đạo Kitô bản
hiệp ước mới (dự thảo của Aubaret) chẳng thêm điều gì mới vào những
điều khoản của hiệp ước 1862, cho phép người Việt Nam được đón nhận
đạo Kitô, mà một điều khoản mới đây những cạm bẫy có vẻ như đã
được Huế chêm vào, để thu hẹp phạm vi diễn dịch của
các điều khoản trước.
Một mặt hiệp ước ấy cho phép người Việt
Nam được đón nhận Kitô giáo, trong khi mặt khác nó trừng phạt người
Việt Nam vi phạm luật pháp của đất nước, mà trong số luật này lại
có điều khoản cấm họ trở thành tín đồ Kitô giáo: điều này đã là
cái cớ cho những sự bách hại bất chấp hiệp ước 1862…
Còn về phần những kẻ đã trung thành, chấp
nhận sự đô hộ của ta; những kẻ đã tố cáo, đã tấn công, và đã giết
chết bọn tổ chức nổi loạn và những kẻ đã coi thường lệnh của Huế,
vẫn trung thành với ta và ngày nay vẫn còn chứng tỏ sự Giáo gắn bó với
ta thì sao? Trả họ về cho Huế, có nghĩa là ta bỏ rơi họ, khiến họ bị
các quan trả thù và như thế các quan sẽ có ảnh hưởng hơn bao giờ hết.
Ông đề đốc đã viết ngày 30 tháng 5 như sau: “Ngài hãy tin lời tôi, sự
lừa dối và ác độc của các quan đối với tín đồ Kitô giáo cũng như
đối với những kẻ đã giúp ta, sẽ buộc chúng ta phải tái tục cuộc
chiến và đảm nhiệm một vai trò thích hợp cho Pháp ở Nam Kỳ…”
Chúng ta không thể dấu diếm sự thật là
chúng ta có trách nhiệm rất nặng nề khi bỏ rơi những người đã bị ngờ
vực vì chúng ta, một số đã là tín đồ Kitô giáo hoặc đang trở thành
tín đồ Kitô giáo và chứng tỏ thực sự có gắn bó với ta.
Sau rốt nếu một ngày nào đó, sau khi hiệp
ước này bị vi phạm và sau những hành động bất mãn mà cuộc chiếm đóng
của chúng ta phải hứng chịu, chúng ta sẽ phải tái tục cuộc chiến,
lúc ấy chúng ta còn hy vọng được sự ủng hộ nào nữa của những người
được quyền trách cứ chúng ta đã gây ra cho họ đến hai lần, lần đầu
do việc ta chinh phục, rồi sau đó do việc ta rút lui? (Trích sách của P.Vial Những năm tháng đầu
tiên ở Nam Kỳ, thuộc địa của Pháp. (Paris, Challamel aimé, trang 299).
18. Đức
cha Sohier, Giám mục Gadara, đại diện Tông toà địa phận
Bắc Đàng Trong, gởi một người vô danh. Huế ngày 18 tháng 12 năm 1867.
Chúng tôi vừa qua khỏi được giây phút ngặt nghèo mà tôi vẫn lo sợ
từ lâu, đó là cuộc đánh chiếm ba tỉnh nằm trong vùng thuộc địa của
Pháp. Ông Đề đốc đã chiếm ba tỉnh ấy mà không tốn một phát súng.
Ông Đề đốc đã chiếm ba tỉnh ấy mà không tốn một phát súng.
Khi tin ấy được đến kinh đô nó gây xúc động mạnh và sự căm
giận đáng kể. Nó xảy ra vào đúng lúc các sĩ tử khoảng 5000 người tụ
tập ở kinh đô để dự thi. Họ thốt ra những lời đe doạ đáng sợ nhất.
Có tin đồn rằng họ sắp sửa giết ngúng tôi và thiêu sống ngúng tôi,
và ngày hành động đã được ấn định. Họ nói thà chết còn hơn chấp
nhận nỗi nhục như thế, nhưng trước khi khởi sự lại cuộc chiến, cần
giết sạch các tín đồ Kitô giáo theo phe người Pháp, họ cũng nói phải
phân tán, giam hãm và tàn sát các tín đồ Kitô giáo một lần nữa. Các sĩ
tử đã phân phát thơ nặc danh, kết tội nhà vua và các quan hèn nhát đã
để cho đất nước bị chia cắt. Để nhượng bộ những người trên nước
này, một chiếu nhỉ được ban hành cho phép chiêu mộ một lực lượng phòng
vệ lớn từ tất cả các làng mạc và cho phép rèn đúc
vũ khí. Tín đồ Kitô giáo không được tham gia vào lực lượng phòng vệ
này và họ tin rằng các vũ khí này sẽ dùng để giết họ… Nhưng cảm
ơn chúa, cơn khủng hoảng của chúng tôi đã dịu đi. Dần dà sự tố cáo
này đã dịu đi và không một tai hoạ nào đã đến với chúng tôi... (Georges
Tauboulet, La geste Francaise en Indochine (Paris, Maison neuve 1955) tập II trang 516.
Trích từ bản chính trong văn khố toà giám mục Huế, m.Delvaux sao chép).
19. Đức
cha Theurel, Giám mục Acanthe, đại diện tông toà địa phận
đàng ngoài, gởi các bề trên hội thừa sai hải ngoại. Địa phận Tây đàng
ngoài, ngày 18 tháng 2 năm 1868.
Ta đã nói là các sĩ phu có rất ít thiện cảm với những gì liên hệ đến Pháp hoặc với tự do
tôn giáo. Mối ác cảm này chỉ mới gia tăng từ khi Pháp chiếm ba tỉnh miền
Nam Nam Kỳ. Lấy cờ chuẩn bị cho một cuộc kháng chiến trường kỳ - nhằm
ngăn chặn một cuộc xâm lấn có thể xảy ra ở Bắc Kỳ, họ đã thành lập
một đội dân quân do các quan hưu trí chỉ huy ở các tỉnh Nam Định, Ninh
Bình và các tỉnh khác.
Ở Nam Định, lực lượng dân quân gồm có bốn
trung đoàn do một quan văn già làm chủ soái. Vị quan này trước đây đã
bị thất sủng vì một vài lỗi nhỏ không rõ ràng lắm và lúc bấy giờ
đang có nhiều ảnh hưởng, vì học trò cũ của ông ta hầu như bao gồm tất
cả những người trong tỉnh đã thi đậu, hay đã từng dự thi và có cả
một vài viên quan đang tại chức nữa. Số dân quân này không hề được
chính phủ cho phép thành lập, mặc dù các quan có ra lệnh cho các lý trưởng
thu tiền gây quỹ. Một vài viên quan đã cho tôi biết dù đã có lệnh phải
giải tán dân quân từ kinh đô gửi đến nhưng lệnh ấy vẫn không được
tuân hành.
Đúng như sự chờ đợi của chúng tôi, các
sĩ phu đã cho các lực lượng này tổ chức cướp phá chúng tôi và Kitô hữu.
Họ định tấn công chúng tôi ở làng Kẻ Trinh trong lúc tôi ở Nam Định.
Kế hoạch hai lần bị huỷ bỏ vào lúc tấn công vì bọn cướp ấy sợ yếu
thế. Nhưng sau khi được tăng cường thêm một vài đại đội mới, họ
đã tấn công Kẻ Trinh, hai ngày sau tôi đi khỏi đó vào giữa đêm ngày 14
tháng 2. Trước hết họ cướp bóc khắp nơi sau đó họ đốt nhà thở, tu
viện và 30 nhà của người Kitô giáo. Làng bị cướp phá
ấy đã kiện và đòi bồi thường thiệt hại. Chính tôi đã viết ba lá
thư xin các quan cho phán quyết về việc ấy và cảnh cáo họ về những
tai hoạ lớn sẽ xảy đến nếu họ không dẹp cái nhóm ăn cướp ấy.
Nhưng các quan chỉ khoanh tay và trả lời họ đang chờ lệnh từ kinh đô,
những lệnh mà chẳng bao giờ tới cả. Trong lúc ấy, các thủ lãnh lại
đích thân xuất hiện và các sĩ phu ấy lại thích hoạt động ở miền quê
như những tên cướp. Cả chục ấp của người Kitô giáo đã bị cướp.
Để tránh cho bọn cướp khỏi đến, những người ngoại
giáo ở nhiều làng đã phá nhà của các tín đồ Kitô giáo và đuổi họ
đi.
Các quan bất lực, do nhu nhược hay do đồng
loã? Chúng ta không thể biết được cho chính xác, nhưng tôi nghĩ có vẻ
như là cả hai. Tuy nhiên, khi thấy tốc độ phát triển của sự việc, tổng
đốc Nam Định mới đây đã tập họp các sĩ phu lại và bảo họ phải
ngưng hành động, hoặc ít nhất phải tạm ngưng cho đến khi triều đình
Huế cho biết quan điểm về sự kiện ở Kẻ Trinh. Từ một tuần nay, cảnh
cướp bóc đã thưa dần. Trong lãnh thổ Nam Định hiện chỉ còn khoảng
30.000 người Kitô giáo trong các ấp đã bị tàn phá. Họ đang chờ đợi số
phận của những kẻ còn lại. Các sĩ phu đã công khai nói lên ý định của
họ : Tử hình người Tây Âu ! Tử hình các linh mục người Việt! Tàn
phá đạo Kitô…!
Chính phủ An Nam sẽ làm gì ? Chúng ta không
trông đợi họ đàn áp mạnh mẽ hoặc xử
sự công minh, vì họ phải cẩn thận với các phần tử mà giới lãnh
đạo thuộc tầng lớp người ta tuyển chọn các quan. Chúng ta sẽ vui vẻ
khi được hài lòng phần nào với những sự bồi hoàn nhỏ nhoi thôi. Về
sự can thiệp của chính phủ Pháp, đó là điều kiện nay chỉ gây thêm sự
thù nghịch và làm cho hoàn cảnh rắc rối của chúng ta còn trở nên tồi
tệ. ( Biên niên sử về truyền bá đức
tin, tập XL, 1868, trang 441-6).
20. Phúc
trình của phủ Ba Tương, quan phủ Sài Gòn về các cuộc thương lượng hiệp
ước giữa đề đốc La Grandìere, thống đốc Nam Kỳ và hiệp biên đại
học sĩ Trần Tiến Thành, Đại diện Huế. Phiên họp thứ hai ngày 29
tháng giêng năm 1868
…. Điều III (của bản tảo do Pháp đề nghị)
Trong bản chữ Hán, điều này nói:
Đạo Kitô được phép rao
giảng tự do, việc thờ phượng của người Kitô giáo sẽ không bị cấm
đoán. Người Kitô giáo được quyền xây cất nhà thờ ở bất cứ nơi nào;
họ sẽ được phép thi các kỳ thi tuyển dành cho các sĩ phu vào hàng ngũ
quan lại và sẽ không bị ngược đãi. Các quan theo đạo Kitô sẽ không bị
buộc làm bất cứ điều gì trái với giáo lý của đạo Kitô.
Vị hiệp biện đã phản đối nhiều điều
liên hệ đến các từ dùng trong bản thảo của An Nam như sau đây :
Từ “tuỳ” dùng trong
liên hệ với quyền của người Kitô giáo được phép xây nhà thờ có thể
đưa đến những diễn dịch có vẻ nguy hiểm theo ý ông Hiệp Biện. Chính
quyền An Nam muốn dành riêng một số đất, một số nơi và cấm bất cứ
ai xây dựng bất cứ thứ gì ở đó. Vì thế ông Hiệp Biện yêu cầu bỏ
từ “ tuỳ xứ’…Ông đề đốc đồng ý bỏ hai chữ ấy coi như việc
phiên dịch bị sai lệch.
Ông Hiệp Biện cho rằng điều
khoản trong bản chữ Hán nói về việc chấp nhận cho người Kitô giáo
được dự thi tuyển các sĩ phu và quan lại là chưa đủ rõ. Câu này theo
ông ta có thể đưa đến nhầm lẫn…Chính phủ An Nam muốn cho phép người
Kitô giáo được vào làm các công sở, nhưng điều ấy không có nghĩa là
họ được vô điều kiện. Họ phải tuân theo luật lệ hiện hành, họ
được quyền tham dự các kỳ thi như mọi người…Niềm tin Kitô giáo của
họ sẽ không trở ngại gì cho nghề nghiệp, nhưng họ sẽ không được nhận
vào các chức vụ trong công sở, chỉ vì lý do họ là người Kitô giáo, nếu
họ không có chức năng giữ những chức vụ ấy.
Bản thảo chữ Hán nói các quan theo đạo Kitô
sẽ không bị buộc làm những điều trái với giáo lý Kitô giáo. Ông Hiệp
Biện thấy câu này quá mơ hồ. Ông yêu cầu chúng ta nói cụ thể, nếu
chúng ta muốn nói “những điều trái với giáo lý Kitô giáo” là cách giữ
đạo của Phật giáo và Khổng giáo, thì phải nói rõ
điều ấy trong bản thảo ngữ Hán, Hoặc là chúng ta phải kể ra tất cả
những gì trái với Kitô giáo mà các tín đồ, ngay cả
khi họ làm quan, không được phép làm vì bất cứ lý do gì.
Ông đề đốc nói rằng mục đích của điều
khoản này chỉ nhằm tránh cho các quan người Kitô giáo khỏi bị bó buộc
tham dự vào các cuộc lễ ngoại giao, chẳng hạn như lối lễ lạy của đạo
Phật, chỉ vì trách nhiệm trong chức vụ của họ. Khoản
này cũng như khoản liên hệ tới việc nhận cho người Kitô giáo được dự
thi vào hàng ngũ quan lại, là do ý của ông đề đốc muốn thấy tự do tôn
giáo được thiết lập ở An Nam cũng như ở Pháp vậy. Hai điều khoản
trong bản dự thảo mà ông Hiệp Biện vừa chỉ trích, chỉ nhằm đảm bảo đạt được mục đích này, mà không có ý gì khác
và cũng không thể gây ra mọi sự diễn dịch sai lầm nào trong tương
lai... (Trích P.Vial, Les premìeres années de la
Cochinchine, trang 206-9).
21. Văn
thư của đề đốc La Grandière gởi đô đốc Rirault de Genouilly, bộ trưởng
Hải quân và thuộc địa. Tháng 4 năm 1870.
Từ những điều mà ngày nay người ta trông
thấy được ở ngay cổng thành Huế, người ta có thể hiểu được phần
nào thái độ của nhà vua và các quan đối với chúng ta, ấy là cô nhi viện
lớn do đức cha Sohier sáng lập năm 1867, chứa được 170 trẻ em, bây giờ
các Hoàng tử cũng được gửi vào đấy để được chăm sóc và dạy dỗ,
mỗi khi bị bệnh. Gặp lúc khó khăn, khi nhà chung thiếu tiền, vì việc
liên lạc với Hồng Kông không chắc chắn, bởi có nạn cướp, Nhà Chung
đã được phép vay 60.000 Francs từ quốc khố của nhà vua mà không phải
chịu lời.
Hành động này cho thấy chắc chắn đã có một
sự cải thiện thật và hầu như khó mà tin được, nhất là khi người ta
nhớ lại mới cách đây mấy năm, vua Tự Đức đã ban hành ba chiếu dụ :
treo giải thưởng về cái đầu của đức cha Sohier. Vì thái độ của triều
đình Huế đối với cúng ta đã thay đổi, chúng ta phải lợi dụng điều
này để mở rộng ảnh hưởng và quan hệ thương mại.
Nhằm mục đích này, chúng ta phải yêu cầu
ký một hiệp ước đồng ý mở cửa tất cả hải cảng của chúng ta đối
ứng với các hải cảng của vương quốc An Nam. (Kho lưu trữ văn khố hải ngoại. Aix. Đông
Dương G.G. 10-581.Trích trong Võ Đức Hạnh, La Place dù Catholicsme dans les
relations entre La France et le Việt Nam de 1851 và 1870. ( Leiden, E,J,Brill. 1969)
II, trang 248-49).
TÀI LIỆU ĐỌC THÊM CHO PHẦN II
(Cady,
Taboulet và Võ Đức Hạnh như phần trên)
- Henry Cordier, L’expédition de Chine 1857-1858
(Paris 1905)
- Trương Bửu Lâm, Patterns of Vietnamese response
to foreign intervention 1858-1900.
(Nhà xuất bản Đại học Yale, New Haven,
1967).
- A. Bandrit, Spain and the French invasion of
Indochina.
Tập san về chính trị và lịch sử của Úc,
XX, 3 tháng 12 năm 1974, trang 335-345.
- Thomas R. Stanley, The diplomacy of Imperialism:
France and Spain in Cochinchina, 1858-1863. Tập san lịch sử hiện đại, XII, 1940
trang 334-356.
- L. Pallu de la Barrière, Histoire de l’expédition
de la Cochinchine en 1861. (Paris, Hachette 1864).
- G. Taboulet, Les débuts de l’Amiral Bonard en
Cochinchine. Bản tin của Hội nghiên cứu Đông Dương, II 1942, trang 1-18.
- Le Marchand de Trigon, “La traité de 1862” Bản
tin của Hội những người bạn của phố Huế ngày xưa, 1918, trang 217-252.
- P. Cultru, Histoire de la Cochinchine francaise des
origines à 1883 (Paris, Challamel, 1910).
- P. Vial, Les premmières années de la Cochinchine.
(Siam, Cambodge, Annam). L’ouverture du Siam au
commerce et la convention de Cambodge (Paris 1891). Années de la Cochinchine.
(Siam, Cambodge, Annam). L’ouverture du Siam au
commerce et la convention de Cambodge (Paris 1891).
- Milton E. Osborne, The French presence in
Cochinchina and Cambodia. Rule and response (1859-1905) (Cornell 1969). Ngô Đình Diệm,
Nguyễn Đình Hoè và Trần Xuân Toàn, L’ambassade de Phan
Tan Gian (1863-1864), Bulletin des Amis du Vieux Hue, VI, (1919), VIII, 3-4 (1921).
- A. Delvaux, L’Ambassade de Phan Tan Gian en 1863 d’après
les documents francais, Bulletin des Amis du Vieux Hue, XIII, 1, (1926).
- P. Bondet, Chasseloup-Laubat et la politique
coloniale du second Empire. Le traité de 1864 entre l’Annam et la France, Butlletin de
la Société des études Indochinoise, n.s.XXII, 2, 1947, 17.
- A. Duchêne, Un ministre trop oublíe:
Chasseloup-Laubat (Paris 1932).
- K. Stanley Thomson, France in Cochinchina: The
question of retrocession, 1862-1865, Far Eastern Quarterly, VI, 4, tháng 8 năm 1947,
trang 364-378.
- Nguyễn Thế Anh, Traditionalisme et réformisme à la cour de Huế dans la seconde moitíe du XIX esiècle. in P. Brocheux (Ed.), Histoire de l’Asie du Sud-Est: Révoltes, Réformes, Révolutions. (Presses Universitaire de Lille, 198

© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: hopthu@giaodiem.net