
Tìm Hiểu
Kinh KORAN
Charlie
Nguyễn
Đối với đại khối các dân tộc Ả rập,
nguyên bản bằng ngôn ngữ Arabic của kinh Koran là một kiệt tác phẩm thi
văn. Kinh Koran không hẳn là một cuốn thơ trường thiên nhưng là một tác
phẩm văn xuôi có vần có điệu (poetic rhyme prose) rất thích hợp với khẩu
vị văn chương của những người du mục ở nơi hoang dã. Chính vì vậy
mà kinh Koran đã mau chóng được truyền bá qua truyền khẩu rộng khắp
bán đảo Ả rập (lớn gấp 8 lần Việt Nam).
Về phương diện tâm linh, kinh Koran
là sự nối kết những dòng tư tưởng về một tôn giáo độc thần khởi
đầu từ tổ phụ Abraham, qua Maisen (Moses) qua Jesus đến thiên sứ cuối
cùng là Muhammad. Từ 2000 năm trước Công nguyên (TCN), những người Ả rập
đã biết đến Thiên Chúa của Abraham mà họ gọi là Allah. Điều đó có
nghĩa là họ đã thờ Allah từ 27 thế kỷ trước khi có Muhammad và đạo Hồi.
Qua nhiều thế kỷ tiếp xúc với văn hóa Do thái, người Ả rập đã rất
quen thuộc với các nhân vật của Kinh thánh Cựu ước. Từ thế kỷ thứ
1 đến thế kỷ thứ 7, người Ả rập tiếp xúc với những người Kitô
giáo thuộc đế quốc Byzantine rộng lớn và từ những nước lân bang như
Syria, Ai cập và Ethiopia... Mặc dù rất ít người Ả rập lúc đó theo
Kitô giáo nhưng họ cũng không cảm thấy xa lạ với Jesus và Gioan Baotixita.
Đọc kinh Koran chúng ta sẽ thấy những
nhân vật quan trọng của hai đạo Do thái và Kitô được Muhammad thường
xuyên nhắc tới. Kinh Koran một tổng hợp kiến thức tôn giáo đã tiềm
tàng sẵn trong đại khối dân tộc Ả rập. Sự tổng hợp đó được gọi
là Islam, có nghĩa là sự tuân phục tuyệt đối vào Thiên Chúa. Người
Trung quốc phiên âm “Islam” thành “Hui” (Hồi) và gọi đạo này là “Hui-jao”,
tức Hồi giáo. Kinh Koran trở thành Thánh kinh (the Holy Book) hoặc sách Mặc
khải (Book of Revelation) của Hồi giáo.
Đáng lẽ ra đạo Do thái, đạo Kitô
và đạo Hồi đều cùng thờ chung một Chúa thì phải có chung một Kinh
thánh duy nhất mới phải. Trong thực tế, mỗi đạo đều có Thánh kinh
riêng và đạo nào cũng tự cho Thánh kinh của mình mới là chân lý tuyệt
đối. Cả ba đạo đều tự cho Thánh kinh của mình là những “Sách Mặc
khải” :
Trước khi có kinh Koran, người Ả
rập có mặc cảm là một chủng tộc thiếu văn hóa và họ tỏ ra trọng nể
người Do thái và Kitô. Cho nên, trong ngôn ngữ Ả rập có danh từ “Dhimmi”
để gọi chung cho Do thái và Kitô. Danh từ này có nghĩa là “những người
có sách Thánh kinh”.
Sự xuất hiện kinh Koran vào đầu
thế kỷ 7 đã đem lại cho dân tộc Ả rập một niềm tự hào vì từ nay
họ có Thánh kinh viết bằng tiếng Ả rập. Họ đón nhận đạo Hồi là
đạo của d6an tộc chứ không phải là đạo ngoại lai. Kinh Koran và đạo
hồi là hai yếu tố quan trọng đem lại sự hưng khởi tinh thần và là chất
keo văn hóa nối kết các bộ lạc Ả rập lại với nhau và biến đại khối
Ả rập thành một lực lượng chính trị và quân sự hùng mạnh trong nhiều
thế kỷ.
I.
Công việc biên soạn kinh Koran.
Khác với Cựu ước được viết
theo lối văn lịch sử kinh koran được viết theo lối văn kể chuyện thông
thường (Oral recitation). Tổng cộng có 114 chương (suras/chapters) gồm 6616 câu
thơ (verses).
Sự phân phối các câu thơ trong các
chương không đều nhau: chương dài nhất có 287 câu thơ, chương ngắn nhất
chỉ có 3 câu mà thôi. Mỗi câu thơ cũng dài ngắn bất thường: Câu thơ dài
nhất chiếm tới nủa trang sách, câu ngắn nhất chỉ có 2 chữ!. Phần lớn kinh Koran (85 chương) được
Muhammad viết tại Mecca, còn lại 29 chương viết tại Medina. Muhammad viết
Koran trên lá cọ khô và trên những tấm da súc vật phơi khô.
Sau khi Muhammad chết vào năm 632, phần
lớn các bản chép tay nói trên bị thất lạc hoặc phân tán rải rác nhiều
nơi. Mọi người cảm thấy nguy cơ có thể làm cho cuốn Thánh kinh của họ
bị tiêu vong nếu không gấp rút sưu tầm và thu hồi các nguyên bản của
Muhammad. Sau đó, cần phải có người tài giỏi biên tập tất cả các
nguyên bản thành một cuốn Thánh kinh duy nhất.
Để đáp ứng nhu cầu của các
tín đồ Hồi giáo, người có thẩm quyền đầu tiên đứng ra lo việc này
là Abu Bakr kế vị Muhammad (the first caliph) và cũng là vị vua Hồi giáo đầu
tiên thống nhất bán đảo Ả rập để biến nơi này thành điểm xuất phát
bành trướng Hồi giáo ra khắp thế giới. Abu Bakr giao cho một thanh niên 22
tuổi tên Zayd đi sưu tầm và gom góp các thủ bản của kinh Koran do Muhammad
viết tập trung tại Medina. Công việc
đang được tiến hành tốt đẹp thì Abu Bakr qua đời. Các tài liệu do
Zayd thu thập đều được chuyển giao cho vị vua Hồi giáo kế nhiệm là
Umar Khattab. Vị vua này là một nhà quân sự đại tài, chỉ trong 10 năm
(634-644) đã mở rộng lãnh thổ của Hồi giáo ra toàn vùng Trung Đông và Bắc
Phi. Vì quá mãi mê lo việc quân sự nên vị vua này đã bỏ quên công việc
biên tập kinh Koran. Hậu quả nghiêm trọng là ở những địa phương khác
nhau người ta truyền miệng những câu thơ của kinh Koran khác nhau và sự
tranh cãi về tính trung thực của kinh Koran càng ngày càng trở nên gay gắt
và hỗn loạn. Các cuộc tranh cãi này đã dẫn đến cuộc “thánh chiến”
giữa hai phe Hồi giáo tại Nehavand, gây cảnh thịt rơi máu đổ trong 7 năm
(650-657).
Vị vua kế nghiệp thứ ba (the third
caliph) là Uthman (644-657) chú tâm đến việc phục hồi kinh Koran. năm 652,
Uthman giao cho Zayd và ba người phụ tá nhiệm vụ biên tập các bản thảo
của Muhammad thu hồi được thành một cuốn sách duy nhất. Sau 5 năm, nhóm
biên tập của Zayd hoàn thành nhiệm vụ. Năm 657, tức 25 năm sau khi Muhammad
qua đời, vua Uthman công bố bản kinh Koran do Zayd biên t6ạp và gọi nó là
“MUSHAF” có nghĩa là “Kinh thánh chính thức của mọi người Hồi giáo”.
Ban biên tập của Zayd chép cuốn
Kinh thánh này thành 4 bản giống nhau để lưu trữ tại 4 thành phố: Medina
Basra và Kufa (Iraq) và tại Damacus (Syria). Sau đó, Uthman ra lệnh tiêu huỷ
toàn bộ các nản viết tay của Muhammad trên lá cọ và da thú vật. Công việc
này tương tự như hành động của hoàng dế La mã Consatantine ra lệnh
thiêu huỷ toàn bộ các sách thánh kinh và các di tích thật của Jesus sau
Công đồng Nicea năm 325.
Do sự thiêu huỷ các bản viết tay
của Muhammad theo lệnh của vua Uthman đã không được thi hành triệt để nên
ngày nay người ta đã thu thập được 5 bản chính viết trên da súc vật:
So sánh các bản chính nói trên với
kinh Koran co Uthman công bố năm 657 người ta đã phát giác có nhiều sự
khác biệt. Các học giả nghiên cứu về Hồi giáo xác nhận: Việc vua
Uthman ra lệnh tiêu huỷ các bản viết tay của Muhammad là một tổn thất hết
sức nặng nề cho Hồi giáo. Năm bản viết tay trên da súc vật mà ngành khảo
cổ đã thu thập được cũng đủ xác minh một sự thật đáng buồn: Zayd
và ban biên tập của ông ta có thể đã không thu thập đầy đủ các thủ
bản của Muhammad, khi chép lại có thể đã bỏ sót một số câu thơ của
kinh Koran và cuối cùng không có gì bảo đảm là Zayd và ban biên tập đã
không tự ý sửa đổi kinh Koran theo ý riêng của mình.
Tuy nhiên, hầu hết các tín đồ Hồi
giáo hiện nay đã không nêu lên những vấn đề nói trên. Họ vẫn tin rằng
bản kinh Koran bằng tiếng Arabic do vua Uthman công bố năm 657 là kinh Koran do
Thiên Chúa Allah mặc khải cho Muhammad.
II. Sơ
lược nội dung kinh Koran
Những chương đầu tiên của kinh
Koran nói về Thiên Chúa Allah với những đặc tính siêu việt của Ngài.
Vì đạo Hồi là đạo Thiên Chúa thứ ba, xuất hiện sau đạo Do thái và
đạo Kitô nên đạo Hồi đã in đậm những dấu ấn đức tin của hai đạo
Thiên Chúa đàn anh. [Tôi đã trình bày vấn đề này đầy đủ trong bài
“Ảnh hưởng thần học Do thái – Kitô trong đức tin Hồi giáo”. Xin đọc
“Thực Chất đạo Công giáo và các đạo Chúa”, Giao Điểm xuất bản Xuân
2003, trang 201-232]. Ngoài Thiên Chúa ra, kinh Koran dạy phải tin có các thiên
thần và ma quỉ (Satan), tin các sách Mặc khải của đạo Do thái và Kitô
cùng các vị thiên sứ, tin có ngày tận thế và ngày phán xét cuối cùng,
tin mọi kẻ chết đều được sống lại, tin có Thiên đàng, Hỏa ngục,
tin mọi việc do Thiên Chúa Allah tiền định nhưng mọi người có ý chí tự
do.
(Tất cả các điều này đã được
trình bày đầy đủ qua 32 trang sách dẫn chiếu, vậy tôi xin miễn nhắc lại
ở đây.)
Khác với Cựu ước và Tân ước
chỉ đề cập đến vấn đề thiêng liêng hoặc lịch sử, kinh Koran đồng
thời cũng là một bộ luật đầu tiên và cao nhất của Hồi giáo. Thí dụ:
Trước khi có kinh Koran, phụ nữ
Ả rập giầu có thường lấy nhiều chồng và đa số là những người đàn
ông trẻ khỏe. Kinh Koran khẳng định quyền ưu thắng của đàn ông (Koran
4:34) và chính thức bãi bỏ tục đa phu (polyandre). Bất cứ người đàn bà
nào có chồng bị cáo buộc về tội ngoại tình đều bị đem ra cho công
chúng ném đá đến chết (Koran 4:15).
Kinh Koran qui định án phạt hết sức
nặng nề chống lại bất cứ ai bị kết án: “chống Thiên Chúa Allah”
hoặc chống Thiên sứ Muhammad”. Người đó sẽ bị đóng đinh vào thập
giá hoặc bị chặt hết chân tay (Sura 5).
Tội trộm cũng có thể bị phạt rất
nặng. Dù đàn ông hay đàn bà tuỳ theo nặng nhẹ nếu bị kết án về tội
trộm sẽ bị chặt một tay hay hai tay (K. 5:3)
III.
Những điều nên biết về HADITH, SUNNA và SHARIA
Vì lý do kinh Koran không phải là
sách dễ đọc nên trong các xứ Hồi giáo, các tín đồ đọc kinh Koran đều
cần có người hướng dẫn. Những người hướng dẫn không phải là tu sĩ
nhưng là những người học thức chuyên nghiên cứu về kinh Koran. Những
bài giảng của họ được gọi là HADITH, có nghĩa là một bài phúc trình
(report). Qua nhiều thế kỷ, số bài phúc trình giảng giải về kinh Koran đạt
tới con số rất lớn. Các học sĩ Hồi giáo chọn lựa các bài hay tập
trung lại thành một cuốn sách gọi là SUNNA, có nghĩa l2 “Tuyển tập các
phúc trình” (Collection of reports). Từ đó, sách SUNNA trở thành một cuốn
sách bổ túc cho kinh Koran về mặt ín lý, giáo điều.
Các chính quyền của các nước Hồi
giáo chiếu theo tinh thần và luật pháp nêu trong kinh Koran và sách SUNNA để
làm ra bộ luật gọi là SHARIA. Danh từ này được dịch sang Anh ngữ là
“Islam Holy Law”, có nghĩa là “Thánh luật Hồi giáo”.
Tất cả các sách SUNNA và SHARIA đã
được hoàn thành vào cuối thế kỷ 9 và đã được viết thành nhiều bản
khác nhau tại nhiều nơi khác nhau. Do vậy, các sách này chứa đựng nhiều
điều mâu thuẫn, nhất là những giai thoại khác biệt nhau về cuộc đời
và lời nói của giáo chủ Muhammad. Đây
là một trong những nguyên nhân chính yếu gây ra tệ nạn phân hoá trong đạo
Hồi: Giáo phái Sunni chỉ công nhận những Hadiths của Bukkhari. Giáo phái
Shitite công nhận Hadiths của Kalayni và giáo phái Khariji chỉ công nhận của
Ibn Habid. Giáo phái này kết án giáo phái kia là xuyên tạc hoặc giả mạo
Thánh kinh Koran và gọi nhau là những kẻ tà đạo (mukhtalag)! Kết quả là
những cuộc thánh chiến đẫm máu giữa các giáo phái này trong nhiều thế
kỷ qua.
IV.
Các bản dịch kinh Koran
Do nhu cầu truyền bá đạo Hồi
trong 14 thế kỷ qua, đến nay kinh Koran đã được dịch ra rất nhiều thứ
tiếng trên thế giới. Riêng một mình nhà xuất bản Tahrike Tarsile Qur’an,
Inc. ở New york đả sư tập được trên 600 bản dịch khác nhau.
Lịch sử Hồi giáo ghi nhận bản dịch
kinh Koran đầu tiên trên thế giới là bản dịch từ tiếng Ả rập sang tiếng
La tinh do một người Ý tên là Peter Venerable thực hiện năm 1143. Điều đáng
chú ý là bản dịch viết tay của ông hiện vẫn được lưu grữ tại tu
viện Kluny (Ý). Đúng 300 năm sau, tức vào năm 1543, bản dịch viết tay duy
nhất này được đem in và xuất bản tại Rome.
Nhờ có bản dịch kinh Koran bằng
tiếng Latinh này Âu châu mới biết đến cuốn Kinh thánh của đạo Hồi.
Cho tới nay, có nhiều bản dịch
khác nhau bằng tiếng Anh. Mặc dù lối hành văn khác nhau, nhưng được xuất
bản nhiều triệu cuốn một lúc nên
giá bán rất rẻ. Phần lớn các bản kinh Koran được in ra dưới hình thức
sách bỏ túi có giá bán thông thường là 5 Mỹ kim. Với giá này ai cũng có
thể mua về đọc chơi hoặc để tham khảo. Số trang trung bình của sách
loại này là 500 trang, chữ in cỡ nhỏ.
V.
Nên đọc sách kinh Koran bằng Anh ngữ như thế nào?
Đối với những ai đã từng quen
đọc kinh Thánh Cựu ước và Tân ước bằng Anh ngữ thì khi chuyển sang đọc
kinh Koran qua bản dịch Anh ngữ sẽ cảm thấy không mấy khó khăn. Tuy nhiên,
trong nhiều bản dịch Anh ngữ lại có rất nhiều những danh từ chung và
danh từ riêng được phiên âm theo tiếng Ả rập. Nếu không tìm hiểu ý
nghĩa của những danh từ này trước khi đọc sách Koran chúng ta sẽ lâm
vào tình trạng lúng túng không thể hiểu được nội dung của sách và cũng
không biết các nhân vật được nói tới trong kinh Koran là ai. Lấy một
thí dụ điển hình: một nhân vật có tên Ả rập là ISA được nhắc tới
114 lần trong kinh Koran và nhân vật Myriam được nhắc tới trên 50 lần. Thực
ra họ chẳng phải là ai xa lạ: ISA chính là Jesus và Myriam chính là bà
Maria, mẹ của ông.
Để giải quyết khó khăn về các
từ ngữ phiên âm theo tiếng Arabic, tôi đề nghị quý vị hãy tìm các bảng
Glossary of Arabic Terms thường được in cuối các sách Anh ngữ nói về
Hồi giáo. Quí vị chọn lựa một số từ ngữ quí vị cho là quan trọng
để học thuộc lòng trước khi bắt đầu đọc kinh Koran hay các sách viết
về Hồi giáo.
Sau đây là bảng danh sách đối chiếu
các tên riêng của Kinh thánh Cựu ước và Tân ước được nhắc lại
trong kinh Koran theo phiên âm Arabic. Các tên riêng này được xếp theo nhóm
gia đình (không theo thứ tự Alphabet).
Ngoài ra, xin chú ý đến một số
chi tiết sau đây:
1. Một số đại danh từ trong các
sách Thánh kinh thường được viết theo cổ ngữ của tiếng Anh. Thí dụ:
2. Các quá khứ phần từ, thay vì
viết là ed, được viết thành th. Thí dụ:
3. Các kinh Koran Anh ngữ thường đánh
số các chương (Sura/chapter) bằng số La mã ở góc trái trên đầu trang sách.
Thí dụ: Sura XXXVII: chương 37; Sura CVII: chương 108; LXXIX: chương 79 v.v....
Khi tra cứu một câu trong kinh Koran,
thí dụ: “Muhammad is not the father of any of your men, lent he is the Apostle of
Allah and the last of the prophets. Koran 33:40”. Xin nhớ số ghi trước là số
chương (sura/chapter) số ghi sau là câu thơ (verse). Vậy trước hết xin hãy
tìm chương 33 sau đó tìm câu thơ số 40 trong chương này, quí vị sẽ gặp
đúng câu thơ được trích dẫn.
Khi đọc các sách về đạo Hồi chúng
ta thường gặp những câu trích dẫn từ kinh Koran, nếu có sẵn một cuốn
kinh Koran trong tay để kiểm chứng chứng tích chính xác của sự trích dẫn
với sự trung thực của người dịch, thiết tưởng cũng là một điều thích
thú.
Để kết thúc bài viết này, tôi
xin mượn lời giới thiệu của nhà xuất bản Tahrike Tarsile Qur’an Inc.
nói về kinh Koran: “Kinh Koran có khả năng đem lại cho những người ngoại
giáo vài điều bổ ích và mang lại tất cả mọi thứ cho các tín đồ Hồi
giáo.” (The Qur’an offers at least something to non-believers and everything to
believers.)
Charlie Nguyễn
– 2003.

© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: hopthu@giaodiem.net