08_gdmau.jpg (3664 bytes)
bar_design_sets_blast_clr.gif (2526 bytes)
whiteball.gif (923 bytes) Nghiên cứu & đối thoại tháng 11 quý bốn năm 2003 whiteball.gif (923 bytes)

Tìm Hiểu Kinh KORAN

Charlie Nguyễn

Kinh Koran the ky 15 Đối với đại khối các dân tộc Ả rập, nguyên bản bằng ngôn ngữ Arabic của kinh Koran là một kiệt tác phẩm thi văn. Kinh Koran không hẳn là một cuốn thơ trường thiên nhưng là một tác phẩm văn xuôi có vần có điệu (poetic rhyme prose) rất thích hợp với khẩu vị văn chương của những người du mục ở nơi hoang dã. Chính vì vậy mà kinh Koran đã mau chóng được truyền bá qua truyền khẩu rộng khắp bán đảo Ả rập (lớn gấp 8 lần Việt Nam).

Về phương diện tâm linh, kinh Koran là sự nối kết những dòng tư tưởng về một tôn giáo độc thần khởi đầu từ tổ phụ Abraham, qua Maisen (Moses) qua Jesus đến thiên sứ cuối cùng là Muhammad. Từ 2000 năm trước Công nguyên (TCN), những người Ả rập đã biết đến Thiên Chúa của Abraham mà họ gọi là Allah. Điều đó có nghĩa là họ đã thờ Allah từ 27 thế kỷ trước khi có Muhammad và đạo Hồi. Qua nhiều thế kỷ tiếp xúc với văn hóa Do thái, người Ả rập đã rất quen thuộc với các nhân vật của Kinh thánh Cựu ước. Từ thế kỷ thứ 1 đến thế kỷ thứ 7, người Ả rập tiếp xúc với những người Kitô giáo thuộc đế quốc Byzantine rộng lớn và từ những nước lân bang như Syria, Ai cập và Ethiopia... Mặc dù rất ít người Ả rập lúc đó theo Kitô giáo nhưng họ cũng không cảm thấy xa lạ với Jesus và Gioan Baotixita.

Đọc kinh Koran chúng ta sẽ thấy những nhân vật quan trọng của hai đạo Do thái và Kitô được Muhammad thường xuyên nhắc tới. Kinh Koran một tổng hợp kiến thức tôn giáo đã tiềm tàng sẵn trong đại khối dân tộc Ả rập. Sự tổng hợp đó được gọi là Islam, có nghĩa là sự tuân phục tuyệt đối vào Thiên Chúa. Người Trung quốc phiên âm “Islam” thành “Hui” (Hồi) và gọi đạo này là “Hui-jao”, tức Hồi giáo. Kinh Koran trở thành Thánh kinh (the Holy Book) hoặc sách Mặc khải (Book of Revelation) của Hồi giáo.

Đáng lẽ ra đạo Do thái, đạo Kitô và đạo Hồi đều cùng thờ chung một Chúa thì phải có chung một Kinh thánh duy nhất mới phải. Trong thực tế, mỗi đạo đều có Thánh kinh riêng và đạo nào cũng tự cho Thánh kinh của mình mới là chân lý tuyệt đối. Cả ba đạo đều tự cho Thánh kinh của mình là những “Sách Mặc khải” :

- Kinh Torah (Cựu ước) được Thiên Chúa mặc khải cho thánh Maisen khoảng năm 1250 TCN trên núi Sinai.
- Các sách Tân ước / Phúc âm là các sách Thiên Chúa mặc khải cho thánh Phao lồ và bốn vị thánh sự: Mattew, mark, Luke và John trong thế kỷ thứ 1.
- Kinh Koran là sách Thiên Chúa mặc khải cho tiên tri Muhammad qua trung gian của thiên thần Gabriel trong 22 năm liên tục (610-632).

Trước khi có kinh Koran, người Ả rập có mặc cảm là một chủng tộc thiếu văn hóa và họ tỏ ra trọng nể người Do thái và Kitô. Cho nên, trong ngôn ngữ Ả rập có danh từ “Dhimmi” để gọi chung cho Do thái và Kitô. Danh từ này có nghĩa là “những người có sách Thánh kinh”.

Sự xuất hiện kinh Koran vào đầu thế kỷ 7 đã đem lại cho dân tộc Ả rập một niềm tự hào vì từ nay họ có Thánh kinh viết bằng tiếng Ả rập. Họ đón nhận đạo Hồi là đạo của d6an tộc chứ không phải là đạo ngoại lai. Kinh Koran và đạo hồi là hai yếu tố quan trọng đem lại sự hưng khởi tinh thần và là chất keo văn hóa nối kết các bộ lạc Ả rập lại với nhau và biến đại khối Ả rập thành một lực lượng chính trị và quân sự hùng mạnh trong nhiều thế kỷ.

I. Công việc biên soạn kinh Koran.

Khác với Cựu ước được viết theo lối văn lịch sử kinh koran được viết theo lối văn kể chuyện thông thường (Oral recitation). Tổng cộng có 114 chương (suras/chapters) gồm 6616 câu thơ (verses).

Sự phân phối các câu thơ trong các chương không đều nhau: chương dài nhất có 287 câu thơ, chương ngắn nhất chỉ có 3 câu mà thôi. Mỗi câu thơ cũng dài ngắn bất thường: Câu thơ dài nhất chiếm tới nủa trang sách, câu ngắn nhất chỉ có 2 chữ!.  Phần lớn kinh Koran (85 chương) được Muhammad viết tại Mecca, còn lại 29 chương viết tại Medina. Muhammad viết Koran trên lá cọ khô và trên những tấm da súc vật phơi khô.

Sau khi Muhammad chết vào năm 632, phần lớn các bản chép tay nói trên bị thất lạc hoặc phân tán rải rác nhiều nơi. Mọi người cảm thấy nguy cơ có thể làm cho cuốn Thánh kinh của họ bị tiêu vong nếu không gấp rút sưu tầm và thu hồi các nguyên bản của Muhammad. Sau đó, cần phải có người tài giỏi biên tập tất cả các nguyên bản thành một cuốn Thánh kinh duy nhất.

Để đáp ứng nhu cầu của các tín đồ Hồi giáo, người có thẩm quyền đầu tiên đứng ra lo việc này là Abu Bakr kế vị Muhammad (the first caliph) và cũng là vị vua Hồi giáo đầu tiên thống nhất bán đảo Ả rập để biến nơi này thành điểm xuất phát bành trướng Hồi giáo ra khắp thế giới. Abu Bakr giao cho một thanh niên 22 tuổi tên Zayd đi sưu tầm và gom góp các thủ bản của kinh Koran do Muhammad viết tập trung tại Medina.  Công việc đang được tiến hành tốt đẹp thì Abu Bakr qua đời. Các tài liệu do Zayd thu thập đều được chuyển giao cho vị vua Hồi giáo kế nhiệm là Umar Khattab. Vị vua này là một nhà quân sự đại tài, chỉ trong 10 năm (634-644) đã mở rộng lãnh thổ của Hồi giáo ra toàn vùng Trung Đông và Bắc Phi. Vì quá mãi mê lo việc quân sự nên vị vua này đã bỏ quên công việc biên tập kinh Koran. Hậu quả nghiêm trọng là ở những địa phương khác nhau người ta truyền miệng những câu thơ của kinh Koran khác nhau và sự tranh cãi về tính trung thực của kinh Koran càng ngày càng trở nên gay gắt và hỗn loạn. Các cuộc tranh cãi này đã dẫn đến cuộc “thánh chiến” giữa hai phe Hồi giáo tại Nehavand, gây cảnh thịt rơi máu đổ trong 7 năm (650-657).

Vị vua kế nghiệp thứ ba (the third caliph) là Uthman (644-657) chú tâm đến việc phục hồi kinh Koran. năm 652, Uthman giao cho Zayd và ba người phụ tá nhiệm vụ biên tập các bản thảo của Muhammad thu hồi được thành một cuốn sách duy nhất. Sau 5 năm, nhóm biên tập của Zayd hoàn thành nhiệm vụ. Năm 657, tức 25 năm sau khi Muhammad qua đời, vua Uthman công bố bản kinh Koran do Zayd biên t6ạp và gọi nó là “MUSHAF” có nghĩa là “Kinh thánh chính thức của mọi người Hồi giáo”.

Ban biên tập của Zayd chép cuốn Kinh thánh này thành 4 bản giống nhau để lưu trữ tại 4 thành phố: Medina Basra và Kufa (Iraq) và tại Damacus (Syria). Sau đó, Uthman ra lệnh tiêu huỷ toàn bộ các nản viết tay của Muhammad trên lá cọ và da thú vật. Công việc này tương tự như hành động của hoàng dế La mã Consatantine ra lệnh thiêu huỷ toàn bộ các sách thánh kinh và các di tích thật của Jesus sau Công đồng Nicea năm 325.

Do sự thiêu huỷ các bản viết tay của Muhammad theo lệnh của vua Uthman đã không được thi hành triệt để nên ngày nay người ta đã thu thập được 5 bản chính viết trên da súc vật:

- 2 bản hiện lưu trữ tại thư viện Taskhent ở Uzebekistan.
- 1 bản lưu trữ tại thư viện Tpokabi Thổ nhĩ kỳ.
- 1 bản tại bảo tàng viện London
- 1 bản mới tìm thấy tại Yemen năm 1979.

So sánh các bản chính nói trên với kinh Koran co Uthman công bố năm 657 người ta đã phát giác có nhiều sự khác biệt. Các học giả nghiên cứu về Hồi giáo xác nhận: Việc vua Uthman ra lệnh tiêu huỷ các bản viết tay của Muhammad là một tổn thất hết sức nặng nề cho Hồi giáo. Năm bản viết tay trên da súc vật mà ngành khảo cổ đã thu thập được cũng đủ xác minh một sự thật đáng buồn: Zayd và ban biên tập của ông ta có thể đã không thu thập đầy đủ các thủ bản của Muhammad, khi chép lại có thể đã bỏ sót một số câu thơ của kinh Koran và cuối cùng không có gì bảo đảm là Zayd và ban biên tập đã không tự ý sửa đổi kinh Koran theo ý riêng của mình.

Tuy nhiên, hầu hết các tín đồ Hồi giáo hiện nay đã không nêu lên những vấn đề nói trên. Họ vẫn tin rằng bản kinh Koran bằng tiếng Arabic do vua Uthman công bố năm 657 là kinh Koran do Thiên Chúa Allah mặc khải cho Muhammad.

II. Sơ lược nội dung kinh Koran

Những chương đầu tiên của kinh Koran nói về Thiên Chúa Allah với những đặc tính siêu việt của Ngài. Vì đạo Hồi là đạo Thiên Chúa thứ ba, xuất hiện sau đạo Do thái và đạo Kitô nên đạo Hồi đã in đậm những dấu ấn đức tin của hai đạo Thiên Chúa đàn anh. [Tôi đã trình bày vấn đề này đầy đủ trong bài “Ảnh hưởng thần học Do thái – Kitô trong đức tin Hồi giáo”. Xin đọc “Thực Chất đạo Công giáo và các đạo Chúa”, Giao Điểm xuất bản Xuân 2003, trang 201-232]. Ngoài Thiên Chúa ra, kinh Koran dạy phải tin có các thiên thần và ma quỉ (Satan), tin các sách Mặc khải của đạo Do thái và Kitô cùng các vị thiên sứ, tin có ngày tận thế và ngày phán xét cuối cùng, tin mọi kẻ chết đều được sống lại, tin có Thiên đàng, Hỏa ngục, tin mọi việc do Thiên Chúa Allah tiền định nhưng mọi người có ý chí tự do.

(Tất cả các điều này đã được trình bày đầy đủ qua 32 trang sách dẫn chiếu, vậy tôi xin miễn nhắc lại ở đây.)

Khác với Cựu ước và Tân ước chỉ đề cập đến vấn đề thiêng liêng hoặc lịch sử, kinh Koran đồng thời cũng là một bộ luật đầu tiên và cao nhất của Hồi giáo. Thí dụ:

- cấm cho vay nặng lãi (Koran 2:275)
- cấm ăn thịt heo, thịt đã cúng các thần khác, cấm ăn máu (tiết canh, huyết Koran 5:3)
- cấm cờ bạc (Koran 5:90)
- cấm săn bắn trong thời gian hành hương Mecca (Koran 5:93)
- phải ăn chay trong tháng Ramadan (Koran 2:182)
- phải rửa chân tay sạch sẽ trước khi cầu nguyện (K. 5:6)
- cấm giao hợp với đàn bà có tháng (K. 2:221)

Trước khi có kinh Koran, phụ nữ Ả rập giầu có thường lấy nhiều chồng và đa số là những người đàn ông trẻ khỏe. Kinh Koran khẳng định quyền ưu thắng của đàn ông (Koran 4:34) và chính thức bãi bỏ tục đa phu (polyandre). Bất cứ người đàn bà nào có chồng bị cáo buộc về tội ngoại tình đều bị đem ra cho công chúng ném đá đến chết (Koran 4:15).

Kinh Koran qui định án phạt hết sức nặng nề chống lại bất cứ ai bị kết án: “chống Thiên Chúa Allah” hoặc chống Thiên sứ Muhammad”. Người đó sẽ bị đóng đinh vào thập giá hoặc bị chặt hết chân tay (Sura 5).

Tội trộm cũng có thể bị phạt rất nặng. Dù đàn ông hay đàn bà tuỳ theo nặng nhẹ nếu bị kết án về tội trộm sẽ bị chặt một tay hay hai tay (K. 5:3)

III. Những điều nên biết về HADITH, SUNNA và SHARIA

Vì lý do kinh Koran không phải là sách dễ đọc nên trong các xứ Hồi giáo, các tín đồ đọc kinh Koran đều cần có người hướng dẫn. Những người hướng dẫn không phải là tu sĩ nhưng là những người học thức chuyên nghiên cứu về kinh Koran. Những bài giảng của họ được gọi là HADITH, có nghĩa là một bài phúc trình (report). Qua nhiều thế kỷ, số bài phúc trình giảng giải về kinh Koran đạt tới con số rất lớn. Các học sĩ Hồi giáo chọn lựa các bài hay tập trung lại thành một cuốn sách gọi là SUNNA, có nghĩa l2 “Tuyển tập các phúc trình” (Collection of reports). Từ đó, sách SUNNA trở thành một cuốn sách bổ túc cho kinh Koran về mặt ín lý, giáo điều.

Các chính quyền của các nước Hồi giáo chiếu theo tinh thần và luật pháp nêu trong kinh Koran và sách SUNNA để làm ra bộ luật gọi là SHARIA. Danh từ này được dịch sang Anh ngữ là “Islam Holy Law”, có nghĩa là “Thánh luật Hồi giáo”.

Tất cả các sách SUNNA và SHARIA đã được hoàn thành vào cuối thế kỷ 9 và đã được viết thành nhiều bản khác nhau tại nhiều nơi khác nhau. Do vậy, các sách này chứa đựng nhiều điều mâu thuẫn, nhất là những giai thoại khác biệt nhau về cuộc đời và lời nói của giáo chủ  Muhammad. Đây là một trong những nguyên nhân chính yếu gây ra tệ nạn phân hoá trong đạo Hồi: Giáo phái Sunni chỉ công nhận những Hadiths của Bukkhari. Giáo phái Shitite công nhận Hadiths của Kalayni và giáo phái Khariji chỉ công nhận của Ibn Habid. Giáo phái này kết án giáo phái kia là xuyên tạc hoặc giả mạo Thánh kinh Koran và gọi nhau là những kẻ tà đạo (mukhtalag)! Kết quả là những cuộc thánh chiến đẫm máu giữa các giáo phái này trong nhiều thế kỷ qua.

IV. Các bản dịch kinh Koran

Do nhu cầu truyền bá đạo Hồi trong 14 thế kỷ qua, đến nay kinh Koran đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới. Riêng một mình nhà xuất bản Tahrike Tarsile Qur’an, Inc. ở New york đả sư tập được trên 600 bản dịch khác nhau.

Lịch sử Hồi giáo ghi nhận bản dịch kinh Koran đầu tiên trên thế giới là bản dịch từ tiếng Ả rập sang tiếng La tinh do một người Ý tên là Peter Venerable thực hiện năm 1143. Điều đáng chú ý là bản dịch viết tay của ông hiện vẫn được lưu grữ tại tu viện Kluny (Ý). Đúng 300 năm sau, tức vào năm 1543, bản dịch viết tay duy nhất này được đem in và xuất bản tại Rome.

Nhờ có bản dịch kinh Koran bằng tiếng Latinh này Âu châu mới biết đến cuốn Kinh thánh của đạo Hồi.

- Năm 1616, tại Nuremburg xuất hiện kinh Koran bằng tiếng Hòa Lan dịch từ bản La tinh.
- Năm 1647, kinh Koran bằng tiếng Pháp được xuất bản tại paris cũng dịch từ bản La tinh.
- Năm 1776, tại Peterburg cuốn kinh Koran bằng Nga ngữ được xuất bản, dịch từ tiếng Pháp.
- Đầu thế kỷ 18, một người Anh tên là A. Ross dịch kinh Koran từ tiếng Pháp sang tiếng Anh và xuất bản lần đầu tại Mỹ năm 1737.

Cho tới nay, có nhiều bản dịch khác nhau bằng tiếng Anh. Mặc dù lối hành văn khác nhau, nhưng được xuất bản  nhiều triệu cuốn một lúc nên giá bán rất rẻ. Phần lớn các bản kinh Koran được in ra dưới hình thức sách bỏ túi có giá bán thông thường là 5 Mỹ kim. Với giá này ai cũng có thể mua về đọc chơi hoặc để tham khảo. Số trang trung bình của sách loại này là 500 trang, chữ in cỡ nhỏ.

V. Nên đọc sách kinh Koran bằng Anh ngữ như thế nào?

Đối với những ai đã từng quen đọc kinh Thánh Cựu ước và Tân ước bằng Anh ngữ thì khi chuyển sang đọc kinh Koran qua bản dịch Anh ngữ sẽ cảm thấy không mấy khó khăn. Tuy nhiên, trong nhiều bản dịch Anh ngữ lại có rất nhiều những danh từ chung và danh từ riêng được phiên âm theo tiếng Ả rập. Nếu không tìm hiểu ý nghĩa của những danh từ này trước khi đọc sách Koran chúng ta sẽ lâm vào tình trạng lúng túng không thể hiểu được nội dung của sách và cũng không biết các nhân vật được nói tới trong kinh Koran là ai. Lấy một thí dụ điển hình: một nhân vật có tên Ả rập là ISA được nhắc tới 114 lần trong kinh Koran và nhân vật Myriam được nhắc tới trên 50 lần. Thực ra họ chẳng phải là ai xa lạ: ISA chính là Jesus và Myriam chính là bà Maria, mẹ của ông.

Để giải quyết khó khăn về các từ ngữ phiên âm theo tiếng Arabic, tôi đề nghị quý vị hãy tìm các bảng Glossary of Arabic Terms thường được in cuối các sách Anh ngữ nói về Hồi giáo. Quí vị chọn lựa một số từ ngữ quí vị cho là quan trọng để học thuộc lòng trước khi bắt đầu đọc kinh Koran hay các sách viết về Hồi giáo.

Sau đây là bảng danh sách đối chiếu các tên riêng của Kinh thánh Cựu ước và Tân ước được nhắc lại trong kinh Koran theo phiên âm Arabic. Các tên riêng này được xếp theo nhóm gia đình (không theo thứ tự Alphabet).

Nhóm           Phiên âm         Phiên âm            Phiên âm Việt ngữ
                     Arabic              Anh ngữ            
Thiên Chúa   Allah               Jehovah/ God     Thiên Chúa
                                             Elohim                
Tổ tông
loài người      Adam              Adam                   ông A dong
                       Hawaa           Eve                       bà E và
Gia đình
Abraham        Azar                Terah                    cha của Abraham
                       Ibrahim           Abraham              ông Áp-ra-ham
                       Sara                 Sarah                    vợ chính của Áp-ra-ham
                       Ishaaq             Isaac                      con trai của Áp-ra-ham và Sarah
                                                                           (tổ tiên Do thái)
                       Agar                Hajar                      vợ bé, đầy tớ của Áp-ra-ham
                       Ismahil           Ismael                    con của Áp-ra-ham và Agar. (Ismael
                                                                            là vai anh của Isaac). Tổ tiên của giống
                                                                            dân Ả rập
Gia đình
Jesus               Isa                    Jesus                     Chúa Giê-su
                       Myriam             Mary                    Bà Maria
                       Yusuf                Joseph                  Thánh Giuse
                       Zakarya             Zakariah              Thánh Gioan-a-kim, cha của G. Baotixita
                       Yahya                John Baptist       Thánh G. Baotixita (cậu họ Giêsu)
Các tiên tri
Do thái/ thiên
sứ đạo Hồi      Al-Yasa             Elisha                    Tiên tri Ê-li-sa
                        Dawood           David                    Vua thánh David
                        Dhulkiit             Ezekiel   
                        Haroon              Aaron                    Anh của Maisen
                        Musa                 Moses                   Thánh Maisen
                        Idriis                 Enoch
                        Ilyaas                 Elias
                        Luut                   Lot                        ông Lot (gọi Áp-ra-ham là bác ruột)
                        Nuh                    Noah                     ông Nôe
                       Sulayman         Solomon                vua Solomon (con David)
                        Yaquub             Jacob                     cha của 12 con trai (tổ tiên 12 bộ
                                                                                 lạc Do thái)
                        Yunus              Jonah
                        Ayyoub           Job
Thánh kinh      Tawrah             Torah/Old Tes.         Kinh thánh Do thái (Cựu ước
                                                                                  của đạo Kitô)
                        Tawrat               (như trên)
                        Injil                    Gospel/New Test.    Phúc âm (Tân ước)
                        Qur’an               Koran                        Thánh kinh Hồi giáo
Thiên thần/
ma quỉ             Jibril/
                        Jibreel                Gabriel                        Thiên thần truyền tin
                        Meekaeel          Michael                       Tổng lãnh thiên thần Mi-ca
                        Buraq                 Buraq                           con ngựa đầu người có cánh
                                                                                      đưa Muhammad về trời tại
                                                                                      Jerusalem
                         Shaitan/
                         Iblis                    Satan                           quỉ Satăng

Ngoài ra, xin chú ý đến một số chi tiết sau đây:

1. Một số đại danh từ trong các sách Thánh kinh thường được viết theo cổ ngữ của tiếng Anh. Thí dụ:

You được viết thành Thou
Your được viết thành Thy..

2. Các quá khứ phần từ, thay vì viết là ed, được viết thành th. Thí dụ:

He opened ==> he openeth
He called    ==> he calleth
You will     ==> Thou shalt
You have    ==> Thou hast

3. Các kinh Koran Anh ngữ thường đánh số các chương (Sura/chapter) bằng số La mã ở góc trái trên đầu trang sách. Thí dụ: Sura XXXVII: chương 37; Sura CVII: chương 108; LXXIX: chương 79 v.v....

Khi tra cứu một câu trong kinh Koran, thí dụ: “Muhammad is not the father of any of your men, lent he is the Apostle of Allah and the last of the prophets. Koran 33:40”. Xin nhớ số ghi trước là số chương (sura/chapter) số ghi sau là câu thơ (verse). Vậy trước hết xin hãy tìm chương 33 sau đó tìm câu thơ số 40 trong chương này, quí vị sẽ gặp đúng câu thơ được trích dẫn.

Khi đọc các sách về đạo Hồi chúng ta thường gặp những câu trích dẫn từ kinh Koran, nếu có sẵn một cuốn kinh Koran trong tay để kiểm chứng chứng tích chính xác của sự trích dẫn với sự trung thực của người dịch, thiết tưởng cũng là một điều thích thú.

Để kết thúc bài viết này, tôi xin mượn lời giới thiệu của nhà xuất bản Tahrike Tarsile Qur’an Inc. nói về kinh Koran: “Kinh Koran có khả năng đem lại cho những người ngoại giáo vài điều bổ ích và mang lại tất cả mọi thứ cho các tín đồ Hồi giáo.” (The Qur’an offers at least something to non-believers and everything to believers.)

Charlie Nguyễn – 2003.                                                                    

 

 

half_under_water_sw.gif (3365 bytes)

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: hopthu@giaodiem.net