
NHỮNG CHUYẾN VỀ QUÊ
Hà Dương Dực
Ngôi nhà mà
cụ Trần Trọng Kim ( trong lời tựa quyển Nho Giáo ) từ những năm
30 (40?) đã than rằng nó không được chăm nom, nó đổ nát; và tiếp sau đó
là 30 năm chiến tranh tàn phá và hơn 10 năm gặp khó khăn thì quý vị có
thể hình dung được nó như thế nào vào các năm 75-85. Đất nước ta gặp
khó khăn vì vừa dánh đuổi thực dân Pháp xong là bị lôi cuốn vào vòng
chiến tranh lạnh giữa Nga-Mỹ-Tàu. Vì
vậy phải tới năm 1986 mới có hoàn cảnh để bắt đầu đổi mới và đã
bắt đầu rất chậm chạp. Dầu
sao sau hơn 100 năm bị đô hộ, bị chiến tranh, bị phân cực nay VN đang
ở trong hoàn cảnh để sửa chửa, để đổi mới, để xây dựng đẹp đẽ
hơn.
Tôi rất không muốn như vậy. Tôi còn có thân nhân, bạn bè xưa, họ
cũng như tôi là người dân bình thường, yêu bản thân, yêu gia đình, yêu
làng mạc quê hương. Họ và tôi bình
đẳng trong tình thương và bình đẳng trong chức vụ công dân.
Tôi lại không phải là Thần Dân ( như trong
bài thơ Nhìn Từ Xa…Tổ Quốc của Nguyễn Duy) :
…
Khi tôi còn trẻ làng tôi có cây tre xanh bao bọc,
và tôi mê tiếng hát “Làng tôi xanh bóng tre…” Làng tôi còn có ngôi Đình
tổ nằm ngay bên bờ đê ( đình đã bị phá hủy trong thời tiêu thổ
kháng chiến 1945-1946), xa xa qua một cánh đồng là sông Hát nơi hai Bà Trưng
tuẫn tiết và xa hơn nữa là dãy núi Hòa Bình với các địa danh quen thuộc
đối với lứa tuổi tôi; Sông Lô, Nghĩa Lộ…, xế bên tay phải là núi Tản
Viên. Làng tôi ở giữa một vùng đồng
bằng, không có gì đặc biệt so với vùng chung quanh. Nếu không có bài thơ nổi tiếng của
Quang Dũng thì sẽ rất ít người biết đến tên làng Cấn Xá, và làng Bương,
làng hàng xóm của tôi
Núi Sài Sơn còn được gọi là núi Thày, vì
ở đó có chùa Thày và hang Cắc Cớ, núi Thày nổi tiếng từ thời cụ
Phan huy Ích, người văn học đầu tiên chiếm ngụ ở đây, ngày nay ngôi
nhà thờ họ Phan ở Thày đã được liệt vào di tích lịch sử. Sau đó là nhà văn học phản kháng Cao Bá
Quát với câu đối:
Người xưa ở núi Thày vì cảnh đẹp, Cao Bá
Quát uất ức vì có Tài mà không có đất dùng.
Quang Dũng lên núi Thày nhìn ra cánh đồng bạt ngàn lúa vàng, ngâm
lên câu thơ ca ngợi cảnh non sông gấm vóc.
Mỗi người mỗi thời đại đã nói lên tâm tư của mình. Còn tôi khi về chùa Thày. Tôi nghĩ gì?
Tôi nhìn mái chùa cong, nhìn tượng nhục thể của các vị Thiền Sư
đắc đạo, thăm nhà thờ họ Phan, nhớ tới cụ Phan Huy Ích, Cụ Cao Bá
Quát, các vị minh quân của các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê…. Nhớ
tới ngày toàn dân kháng chiến hình như ông Hồ Chí Minh cũng đã về ở
đây ít ngày, nhớ thơ Quang Dũng…đi tìm những dấu chấm (Những các
dot). Suy nghĩ về sự gắn liền các
“dot” đó với nhau. Câu nầy có nghĩa
bóng là tôi chẳng nghĩ được gì cả. Tại
sao đất nước ta như vậy?
Cánh đồng Bương Cấn ngày nay không khác
ngày xưa. Làng mạc bao bọc cánh đồng
vẫn như cũ, nghĩa là chưa có nhà trọc trời, chưa có siêu thị, Chợ Bương
vẫn là chợ với những mái tranh nhỏ bé siêu vẹo, chung quanh đầy rác rưởi. Có khác chăng là cảm nghĩ của tôi, thời
trẻ tôi thường đi chợ Bương với mẹ tôi, mỗi lần được đi chợ là
vui mừng thích thú vì ở đó đông người náo nhiệt và nhất là có hàng
kẹo kéo nhân lạc ăn vừa ngọt vừa bùi.
Trở lại sau hơn 30 năm để thấy chỗ mình ưa thích ngày xưa không
còn một tý nào hấp dẫn nữa. Dĩ
nhiên là như vậy thôi, nhưng tôi tự hỏi ở vùng đó không biết các em
có còn ưa thích có còn vui mừng như tôi ngày xưa mỗi khi được đi chợ
Bương. Nếu còn có thì thật là đáng
buồn, trẻ em ngày nay đáng, rất đáng được hơn tôi ngày xưa mới phải.
Năm 1993 tôi đưa bố tôi về làng thì hàng
tre xanh chạy dọc bờ đê đã không còn nữa.
Bố tôi lắc đầu buồn bã.
Tôi lại nhìn thấy làng tôi nằm dọc bờ đê
có vẻ tươi sáng hơn, thoải mái hơn, nhất là thay vì cây tre xanh thì bây
giờ lại là cột điện. Đứng
trên bờ đê nhìn vô làng tôi càng vui mừng hơn, lớp lớp nhà ngói đỏ
chát đã thay thế cho mái nhá nghèo nàn bằng rơm rạ rất ẩm thấp tối
tăm. Tôi thầm nghĩ điều mong ước
của dân quê đã có phần thực hiện được.
Sau hơn ba tiếng đồng hồ ngồi nghe bố tôi dàm dạo với các cụ
già trong làng rồi ra xe về Hà Nội tôi có cảm giác rõ rệt là ngôn ngữ
các cụ, nhất là ngôn ngữ của người làng tôi là thứ gì xa lạ với
tôi. Ngôn ngữ của nhiều trăm năm phải
nỗ lực phải hy sinh và phải mơ hồ để sinh tồn. Ngôn ngữ như vừa kiêu hãnh, vừa đòi hỏi
vô lý , vừa an phận thủ thường, vừa trông chờ cứu trợ. Ai muốn hiểu sao cũng được. Đó không phải là thứ ngôn ngữ hai với
hai là bốn, thứ ngôn ngữ cần thiết cho khoa học và phát triển.
Mười năm sau tôi lại có dịp đứng trên bờ
đê làng tôi và bờ đê vẫn như vậy không có gì thay đổi vẫn lồi lõm
vẫn dơ bẩn và cột điện qua 10 năm nay trở nên nghèo nàn trơ trọi. Mái nhà xưa đỏ chát nay đã phai màu, và
ngôn ngữ tôi vẫn không hiểu nổi. Tôi
lớn lên ở làng cho tới năm 13 tuổi, sau đó vẫn thường về làng cho tới
năm 1954, và đọc các truyện của nhóm Tự Lực Văn Đoàn cũng như của
Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân… và các nhà văn hồi 30-50. Như vậy thì con cái tôi làm sao hiểu nổi
người làng tôi sau này? Sẽ có ngày
nó về làng tôi, nếu không vì lý do gì khác thì là hiếu kỳ, nó muốn biết
Bố Mẹ nó sinh ra ở đâu lớn lên ở đâu? tại sao nó vẫn thỉnh thoảng
nghe tôi nghêu ngao hát: “làng tôi xanh bóng tre….”
Một cái gì thiếu vắng, không phải lũy tre
xanh mà thôi. Nhiều não trạng cần
thay đổi chăng?
Từ năm 1993 tới 2003 tôi may mắn đã có dịp
về VN chừng bảy tám lần, và có nhiều dịp tiếp xúc với sinh viên và
các giới trí thức ở VN. Mọi người
đều hiểu rõ các khó khăn của đất nước.
Đi từ một nước nông nghiệp bị đô hộ và bị tàn phá bởi hơn
30 năm chiến tranh sang một nước sống trong khung cảnh kinh tế thị trường
và hội nhập với quốc tế dĩ nhiên không phải đơn giản.
Riêng cái nghèo từ xưa vốn đã là một cái
tội, một cái khó, cộng thêm vào đó còn biết bao nhiêu thành kiến, định
kiến, bao nhiêu là mặc cảm, tự ty có tự tôn cũng nhiều. Công lao của rất nhiều người hình như
không được hay chưa được đền bù xứng đáng. Một số ít tội nhân
chiến tranh thì vô tình hay hữu ý được bỏ quên, trong khi đó có quá nhiều
quân nhân miền Nam ở cấp thừa hành đã bị tù đầy rất nhiều năm.
Đã có nhiều người nói: phải sòng phẳng với
quá khứ thì mới có thể mạnh tiến về tương lai.
Với vấn đề tham nhũng thì ý kiến nhiều
người “Lương không đủ sống là mầm mống của tham ô và hối lộ” Nhất định trả nhân viên một số lương
không đủ sống có phải là một chính sách không? Tôi rất không muốn nghĩ như vậy.
Trong nhiều ý kiến rất hay tôi may mắn được
nghe có nhẽ ý kiến của hai giáo sư, GS Sử và GS Xã hội học sau đây là
điển hình.
Với GS Sử học.
Thưa GS với tư cách là Sử gia xin GS cho biết
cảm nghĩ của GS về tương lai của VN ?
Tôi bi quan. Vì
tình trạng tham nhũng đã gần như bất trị.
Và theo kinh nghiệm lịch sử của các nước Á Đông thì rất
ít chế độ tự nó sửa được lầm lỗi lớn của mình. Nói như vậy không có nghĩa là tôi bảo rằng
VN không thể tự sửa đổi được. Nhưng
muốn tự sửa đổi thì ít nhất cũng phải rũ bỏ lớp vỏ lý thuyết cũ
rích đã lạc hậu và đã tỏ ra bất lực ở Đông Âu, ở Nga, ở Trung Quốc…
Tôi cũng vẫn còn hy vọng trông mong ở lịch
trình vô W.T.O. Vì vô W.T.O thì luật
pháp phải nghiêm minh, rõ ràng . Với
sức ép của cả trong lẫn ngoài thì hy vọng đất nước ta sẽ tiến triển
tốt hơn và nhanh hơn trước nhiều. Hơn
80 triệu dân ta đâu phải thiếu nhân tài.
Với GS Xã Hội Học.
Thưa GS, GS nhìn thấy tương lai VN thế nào?
Tôi lạc quan.
Tôi thấy không có lực nào có thể đi ngược lại tiến trình đổi
mới. Và tiến trình đó tự nó sẽ
càng ngày càng tốt đẹp hơn vì đó là trào lưu tất yếu của xã hội. Khi cho phép mọi người làm giàu thì mọi
người sẽ làm giàu. Người ta sẽ tìm
ra cách để mình giàu mà không hại, nhiều khi còn có lợi cho người khác. Tiến trình tìm ra phương thức đó không
phải dễ nhưng không phải là không thể tìm được. Hơn nữa dân VN mình lâu nay vốn trọng văn
học nên tôi tin rằng chúng ta sẽ không phải qua thời kỳ cạnh tranh rừng
rú như tư bản Âu Mỹ các thế kỷ trước.
Bây giờ tôi xin hỏi lại GS:
- GS ở ngoại quốc về lần nầy có thấy
gì lạ ở nơi chợ búa không ?
- Tôi thấy bàn thờ lư hương… được bày
bán khá nhiều so với các lần trước tôi về.
- Đó GS thấy không, dân ta trăm nhà như một
ai cũng cúng lễ Ông Bà. Bây giờ
nhân dân ta đã có của ăn của để, đã có chút thảnh thơi trong cuộc sống
thì người ta lập tức lo lập bàn thờ cho trang trọng chứ không lùi xùi
như ngày xa xưa. Một khi bàn thờ và
các đồ cúng tế được làm để tượng trưng cho lịch sử, cho văn hóa
VN, thể hiện được cái sắc thái sinh hoạt rất nhân bản của VN thì khi
đó là có Đại Đoàn Kết. (Theo nghĩa người VN thờ cúng Ông Bà, người
VN tôn trọng lời dạy dỗ của Tổ Tiên: sống lương thiện, nhân nhượng,
hòa thuận, luôn luôn cố gắng cầu tiến….
Bàn thờ sẽ là một trong các biểu tượng quan trọng của VN).
Thiết kế bàn thờ và và các đồ phụ tùng
cho được như thế là công việc của: thi sĩ, văn sĩ, sử gia, kiến trúc
sư và nhà xã hội hoc…, tôi tin là trong nước sẽ làm được. Nếu tôi không lầm thì người Việt mình
ở các nước khác cũng có nhu cầu lập một bàn thờ Tổ Tiên có phong
thái VN.
- Dạ đúng như vậy.
- Như thế là chúng ta nhất trí rồi đó phải
không GS.?
Vui buồn lẫn lộn.
Vui vì thấy các nhà trí thức VN nhìn các vấn
đề không khác mình bao nhiêu, cũng hướng về tương lai, rất nhiều vấn
đề lại nhìn rõ, trong sáng hơn mình rất nhiều.
Buồn vì không ít trí thức trong nước chỉ
mới dám công khai nhận là nhìn một “góc” mà thôi. Đây là tôi muốn nói về các tập sách của
báo Tia Sáng. Báo Tia Sáng có rất nhiều
bài bàn về mọi vấn đề của VN.
Theo kinh nghiêm ở trên khắp thế giới thì
người ta lập ra các Think Tank để quy tụ một số người đại khái có
chung một cái nhìn về một vấn đề, những vị đó viết bài biên minh
cho quan điểm của mình, tranh luân với các vị trong các Think Tank khác. Trên thế giới hiện nay có trên một triệu
Think Tank, Think Tank bên tả, bên hữu, Think Tank chuyên bàn về vấn đề ăn
uống, Think Tank chuyên bàn về văn chương cổ điển Anh. Một nhóm quyền lợi đặc biệt nào đó,
một nhóm theo đuổi một ý nghĩ đặc biệt nào đó, cũng thường có Think Tank để bênh vực
chủ trương của nhóm mình. Think Tank
cho đủ mọi vấn đề, chắc cũng nhiều bằng các Ao bao bọc làng xóm VN.
(Tôi tạm dịch chữ Think Tank là Ao Tư Duy)
Ao Tư Duy thường được tổ chức dưới hình
thức Hội Bất Vụ Lợi, sinh hoạt độc lập, mặc dầu được sự tài trợ
của Chính Quyền hay các nhà kỹ nghệ hảo tâm.
Ở Mỹ Đại học lớn thường có các Ao Tư Duy bên cạnh, hay các
báo lớn cũng đều có Ao Tư Duy riêng của họ.
Các nhà học giả hay trí thức trước khi ra giữ các chức vụ cao
trong chính quyền thường viết trong các Ao Tư Duy.
Việt Nam cũng cần có nhiều Ao Tư Duy để các
vị học sĩ, và bất cứ ai quan tâm, bơi lội trong đó, lý luận trong đó. Và Ao nọ biện luận với Ao kia cho sáng vấn
đề. Cho dân chúng có dịp đánh giá.
Vàng phải được thử lửa.
Trong chuyến về VN hồi tháng 8 mới đây,
thì ngoài vấn đề tham nhũng tôi thấy vấn đề vô W.T.O và vấn đề cá
Basa là đang được bàn luận nhiều.
Việc vô W.T.O thì hình như đã được nhất
trí rồi, chỉ còn bàn luận về thời điểm mà thôi. Vô sớm thì luật pháp sớm được nghiêm
minh, nhung lại sợ kỹ nghệ trong nước chư sửa soạn kịp để cạnh
tranh với quốc tế. Nhiều cuộc hội
thảo đã diễn ra sôi nổi để bàn luận về mọi khía cạnh của vấn đề.
Vụ cá Basa thì hình như các nhà nuôi cá đã
chấp nhận thua cuộc phen nầy. Và thắc
mắc là những keo sau, nhất là vấn đề Lobby.
Giới Kỹ nghệ VN đã chấp nhận là phải có vấn đề lobby, cũng
như phải có trung gian bán hàng (nhưng
hình như chưa ý thức toàn diện về vấn đề trung gian).
Trong một vài bàn luận thì tôi thấy trong nước
hình như chưa đặt ra hay chưa đặt đúng tầm mức của sự liên hệ giữa
Ao Tư Duy và vấn đề lobby. Nếu
không có cơ sở lý thuyết làm nền tảng thì vấn đề lobby dễ dàng trở
thành hối lộ. Tiến trình tìm hiểu
nầy hy vọng sẽ được tiến hành nhanh chóng.
Hội Thảo, dạy học, du lịch… trong tất cả mỗi lần
về tôi đều không gặp bất cứ một khó khăn nào, và lần nào tôi cũng
được thân nhân và bạn bè đón tiếp rất
nồng hậu, đầy tình thân yêu. Các vị
giáo sư và sinh viên thì phải nói là rất ân cần thân thiết.
Xin trân trọng cảm tạ.
Cám ơn cái cối cái chày,
Cám ơn cái ban-công của căn nhà Tây hai tầng
trên đường Phan Đình Phùng Hà Nội.
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng.

© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: hopthu@giaodiem.net