08_gdmau.jpg (3664 bytes)
bar_design_sets_blast_clr.gif (2526 bytes)
whiteball.gif (923 bytes) Nghiên cứu & đối thoại tháng 11 quý bốn năm 2003 whiteball.gif (923 bytes)

canh chua Thay   NHỮNG CHUYẾN VỀ QUÊ

     Hà Dương Dực

Ngôi nhà mà cụ Trần Trọng Kim ( trong lời tựa quyển Nho Giáo ) từ những năm 30 (40?) đã than rằng nó không được chăm nom, nó đổ nát; và tiếp sau đó là 30 năm chiến tranh tàn phá và hơn 10 năm gặp khó khăn thì quý vị có thể hình dung được nó như thế nào vào các năm 75-85. Đất nước ta gặp khó khăn vì vừa dánh đuổi thực dân Pháp xong là bị lôi cuốn vào vòng chiến tranh lạnh giữa Nga-Mỹ-Tàu.  Vì vậy phải tới năm 1986 mới có hoàn cảnh để bắt đầu đổi mới và đã bắt đầu rất chậm chạp.   Dầu sao sau hơn 100 năm bị đô hộ, bị chiến tranh, bị phân cực nay VN đang ở trong hoàn cảnh để sửa chửa, để đổi mới, để xây dựng đẹp đẽ hơn.

Như vậy tôi về quê làm gì?
Để ôn lại ngày xưa với tình cảm thời niên thiếu?
Để nhìn thấy một đất nước tươi đẹp như mình mong muốn?
Hay tôi áo gấm về làng?

Tôi rất không muốn như vậy.  Tôi còn có thân nhân, bạn bè xưa, họ cũng như tôi là người dân bình thường, yêu bản thân, yêu gia đình, yêu làng mạc quê hương.  Họ và tôi bình đẳng trong tình thương và bình đẳng trong chức vụ công dân.

Tôi lại không phải là Thần Dân ( như trong bài thơ Nhìn Từ Xa…Tổ Quốc của Nguyễn Duy) :

Xứ sở bao dung
Sao thật lắm thần dân lìa xứ

Biển Thái Bình bồng bềnh thuyền định mệnh
Nhắm mắt đưa chân không hẹn ngày về.
 
Tôi là người Việt Nam và tôi về VN.

Khi tôi còn trẻ làng tôi có cây tre xanh bao bọc, và tôi mê tiếng hát “Làng tôi xanh bóng tre…” Làng tôi còn có ngôi Đình tổ nằm ngay bên bờ đê ( đình đã bị phá hủy trong thời tiêu thổ kháng chiến 1945-1946), xa xa qua một cánh đồng là sông Hát nơi hai Bà Trưng tuẫn tiết và xa hơn nữa là dãy núi Hòa Bình với các địa danh quen thuộc đối với lứa tuổi tôi; Sông Lô, Nghĩa Lộ…, xế bên tay phải là núi Tản Viên.  Làng tôi ở giữa một vùng đồng bằng, không có gì đặc biệt so với vùng chung quanh.  Nếu không có bài thơ nổi tiếng của Quang Dũng thì sẽ rất ít người biết đến tên làng Cấn Xá, và làng Bương, làng hàng xóm của tôi

Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn
Về núi Sài Sơn ngó lúa vàng

Núi Sài Sơn còn được gọi là núi Thày, vì ở đó có chùa Thày và hang Cắc Cớ, núi Thày nổi tiếng từ thời cụ Phan huy Ích, người văn học đầu tiên chiếm ngụ ở đây, ngày nay ngôi nhà thờ họ Phan ở Thày đã được liệt vào di tích lịch sử.  Sau đó là nhà văn học phản kháng Cao Bá Quát với câu đối:

Nhà trống ba gian, một thầy, một cô, một chó cái
Học trò dăm đứa, nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi

Người xưa ở núi Thày vì cảnh đẹp, Cao Bá Quát uất ức vì có Tài mà không có đất dùng.  Quang Dũng lên núi Thày nhìn ra cánh đồng bạt ngàn lúa vàng, ngâm lên câu thơ ca ngợi cảnh non sông gấm vóc.  Mỗi người mỗi thời đại đã nói lên tâm tư của mình.  Còn tôi khi về chùa Thày.  Tôi nghĩ gì?  Tôi nhìn mái chùa cong, nhìn tượng nhục thể của các vị Thiền Sư đắc đạo, thăm nhà thờ họ Phan, nhớ tới cụ Phan Huy Ích, Cụ Cao Bá Quát, các vị minh quân của các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê…. Nhớ tới ngày toàn dân kháng chiến hình như ông Hồ Chí Minh cũng đã về ở đây ít ngày, nhớ thơ Quang Dũng…đi tìm những dấu chấm (Những các dot).  Suy nghĩ về sự gắn liền các “dot” đó với nhau.  Câu nầy có nghĩa bóng là tôi chẳng nghĩ được gì cả.  Tại sao đất nước ta như vậy?

Cánh đồng Bương Cấn ngày nay không khác ngày xưa.  Làng mạc bao bọc cánh đồng vẫn như cũ, nghĩa là chưa có nhà trọc trời, chưa có siêu thị, Chợ Bương vẫn là chợ với những mái tranh nhỏ bé siêu vẹo, chung quanh đầy rác rưởi.  Có khác chăng là cảm nghĩ của tôi, thời trẻ tôi thường đi chợ Bương với mẹ tôi, mỗi lần được đi chợ là vui mừng thích thú vì ở đó đông người náo nhiệt và nhất là có hàng kẹo kéo nhân lạc ăn vừa ngọt vừa bùi.  Trở lại sau hơn 30 năm để thấy chỗ mình ưa thích ngày xưa không còn một tý nào hấp dẫn nữa.  Dĩ nhiên là như vậy thôi, nhưng tôi tự hỏi ở vùng đó không biết các em có còn ưa thích có còn vui mừng như tôi ngày xưa mỗi khi được đi chợ Bương.  Nếu còn có thì thật là đáng buồn, trẻ em ngày nay đáng, rất đáng được hơn tôi ngày xưa mới phải.

Năm 1993 tôi đưa bố tôi về làng thì hàng tre xanh chạy dọc bờ đê đã không còn nữa. 

Bố tôi lắc đầu buồn bã. 

Tôi lại nhìn thấy làng tôi nằm dọc bờ đê có vẻ tươi sáng hơn, thoải mái hơn, nhất là thay vì cây tre xanh thì bây giờ lại là cột điện.    Đứng trên bờ đê nhìn vô làng tôi càng vui mừng hơn, lớp lớp nhà ngói đỏ chát đã thay thế cho mái nhá nghèo nàn bằng rơm rạ rất ẩm thấp tối tăm.   Tôi thầm nghĩ điều mong ước của dân quê đã có phần thực hiện được.  Sau hơn ba tiếng đồng hồ ngồi nghe bố tôi dàm dạo với các cụ già trong làng rồi ra xe về Hà Nội tôi có cảm giác rõ rệt là ngôn ngữ các cụ, nhất là ngôn ngữ của người làng tôi là thứ gì xa lạ với tôi.  Ngôn ngữ của nhiều trăm năm phải nỗ lực phải hy sinh và phải mơ hồ để sinh tồn.  Ngôn ngữ như vừa kiêu hãnh, vừa đòi hỏi vô lý , vừa an phận thủ thường, vừa trông chờ cứu trợ.  Ai muốn hiểu sao cũng được.  Đó không phải là thứ ngôn ngữ hai với hai là bốn, thứ ngôn ngữ cần thiết cho khoa học và phát triển.

Mười năm sau tôi lại có dịp đứng trên bờ đê làng tôi và bờ đê vẫn như vậy không có gì thay đổi vẫn lồi lõm vẫn dơ bẩn và cột điện qua 10 năm nay trở nên nghèo nàn trơ trọi.  Mái nhà xưa đỏ chát nay đã phai màu, và ngôn ngữ tôi vẫn không hiểu nổi.  Tôi lớn lên ở làng cho tới năm 13 tuổi, sau đó vẫn thường về làng cho tới năm 1954, và đọc các truyện của nhóm Tự Lực Văn Đoàn cũng như của Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân… và các nhà văn hồi 30-50.   Như vậy thì con cái tôi làm sao hiểu nổi người làng tôi sau này?  Sẽ có ngày nó về làng tôi, nếu không vì lý do gì khác thì là hiếu kỳ, nó muốn biết Bố Mẹ nó sinh ra ở đâu lớn lên ở đâu? tại sao nó vẫn thỉnh thoảng nghe tôi nghêu ngao hát: “làng tôi xanh bóng tre….”

Một cái gì thiếu vắng, không phải lũy tre xanh mà thôi.  Nhiều não trạng cần thay đổi chăng?

Từ năm 1993 tới 2003 tôi may mắn đã có dịp về VN chừng bảy tám lần, và có nhiều dịp tiếp xúc với sinh viên và các giới trí thức ở VN.  Mọi người đều hiểu rõ các khó khăn của đất nước.  Đi từ một nước nông nghiệp bị đô hộ và bị tàn phá bởi hơn 30 năm chiến tranh sang một nước sống trong khung cảnh kinh tế thị trường và hội nhập với quốc tế dĩ nhiên không phải đơn giản.

Riêng cái nghèo từ xưa vốn đã là một cái tội, một cái khó, cộng thêm vào đó còn biết bao nhiêu thành kiến, định kiến, bao nhiêu là mặc cảm, tự ty có tự tôn cũng nhiều.  Công lao của rất nhiều người hình như không được hay chưa được đền bù xứng đáng. Một số ít tội nhân chiến tranh thì vô tình hay hữu ý được bỏ quên, trong khi đó có quá nhiều quân nhân miền Nam ở cấp thừa hành đã bị tù đầy rất nhiều năm.

Đã có nhiều người nói: phải sòng phẳng với quá khứ thì mới có thể mạnh tiến về tương lai.

Với vấn đề tham nhũng thì ý kiến nhiều người “Lương không đủ sống là mầm mống của tham ô và hối lộ”  Nhất định trả nhân viên một số lương không đủ sống có phải là một chính sách không?  Tôi rất không muốn nghĩ như vậy.

Trong nhiều ý kiến rất hay tôi may mắn được nghe có nhẽ ý kiến của hai giáo sư, GS Sử và GS Xã hội học sau đây là điển hình.

Với GS Sử học.

Thưa GS với tư cách là Sử gia xin GS cho biết cảm nghĩ của GS về tương lai của VN ?

Tôi bi quan.  Vì tình trạng tham nhũng đã gần như bất trị.   Và theo kinh nghiệm lịch sử của các nước Á Đông thì rất ít chế độ tự nó sửa được lầm lỗi lớn của mình.  Nói như vậy không có nghĩa là tôi bảo rằng VN không thể tự sửa đổi được.  Nhưng muốn tự sửa đổi thì ít nhất cũng phải rũ bỏ lớp vỏ lý thuyết cũ rích đã lạc hậu và đã tỏ ra bất lực ở Đông Âu, ở Nga, ở Trung Quốc…

Tôi cũng vẫn còn hy vọng trông mong ở lịch trình vô W.T.O.  Vì vô W.T.O thì luật pháp phải nghiêm minh, rõ ràng .  Với sức ép của cả trong lẫn ngoài thì hy vọng đất nước ta sẽ tiến triển tốt hơn và nhanh hơn trước nhiều.   Hơn 80 triệu dân ta đâu phải thiếu nhân tài. 

Với GS Xã Hội Học.

Thưa GS, GS nhìn thấy tương lai VN thế nào?

Tôi lạc quan.  Tôi thấy không có lực nào có thể đi ngược lại tiến trình đổi mới.  Và tiến trình đó tự nó sẽ càng ngày càng tốt đẹp hơn vì đó là trào lưu tất yếu của xã hội.  Khi cho phép mọi người làm giàu thì mọi người sẽ làm giàu.   Người ta sẽ tìm ra cách để mình giàu mà không hại, nhiều khi còn có lợi cho người khác.  Tiến trình tìm ra phương thức đó không phải dễ nhưng không phải là không thể tìm được.  Hơn nữa dân VN mình lâu nay vốn trọng văn học nên tôi tin rằng chúng ta sẽ không phải qua thời kỳ cạnh tranh rừng rú như tư bản Âu Mỹ các thế kỷ trước.  Bây giờ tôi xin hỏi lại GS:

- GS ở ngoại quốc về lần nầy có thấy gì lạ ở nơi chợ búa không ?

- Tôi thấy bàn thờ lư hương… được bày bán khá nhiều so với các lần trước tôi về.

- Đó GS thấy không, dân ta trăm nhà như một ai cũng cúng lễ Ông Bà.  Bây giờ nhân dân ta đã có của ăn của để, đã có chút thảnh thơi trong cuộc sống thì người ta lập tức lo lập bàn thờ cho trang trọng chứ không lùi xùi như ngày xa xưa.  Một khi bàn thờ và các đồ cúng tế được làm để tượng trưng cho lịch sử, cho văn hóa VN, thể hiện được cái sắc thái sinh hoạt rất nhân bản của VN thì khi đó là có Đại Đoàn Kết. (Theo nghĩa người VN thờ cúng Ông Bà, người VN tôn trọng lời dạy dỗ của Tổ Tiên: sống lương thiện, nhân nhượng, hòa thuận, luôn luôn cố gắng cầu tiến….  Bàn thờ sẽ là một trong các biểu tượng quan trọng của VN). 

Thiết kế bàn thờ và và các đồ phụ tùng cho được như thế là công việc của: thi sĩ, văn sĩ, sử gia, kiến trúc sư và nhà xã hội hoc…, tôi tin là trong nước sẽ làm được.  Nếu tôi không lầm thì người Việt mình ở các nước khác cũng có nhu cầu lập một bàn thờ Tổ Tiên có phong thái VN.

- Dạ đúng như vậy.

- Như thế là chúng ta nhất trí rồi đó phải không GS.?

Vui buồn lẫn lộn.

Vui vì thấy các nhà trí thức VN nhìn các vấn đề không khác mình bao nhiêu, cũng hướng về tương lai, rất nhiều vấn đề lại nhìn rõ, trong sáng hơn mình rất nhiều.

Buồn vì không ít trí thức trong nước chỉ mới dám công khai nhận là nhìn một “góc” mà thôi.  Đây là tôi muốn nói về các tập sách của báo Tia Sáng.  Báo Tia Sáng có rất nhiều bài bàn về mọi vấn đề của VN.

Báo Tia Sáng gom các bài đó lại và in, đến nay đã được 3 tập, và lấy nhan đề là   “ Một góc nhìn của trí thức”.
Sao lại quá, quá, quá nhũn nhặn như vậy?
Trí thức thấy hay thì khen, thấy dở thì chê. 
Trí thức nói với tất cả lương tâm trong sáng và sự can đảm cần thiết, trí thức nói và nhân dân phê phán.
Nếu trong nuớc còn rụt rè còn e ngại thì trí thức ở ngoại quốc đóng góp bằng cách nào, bàn luận đứng đắn với ai ?
Phải chăng tiến trình đi từ “Một góc” tới không còn một góc nó đòi hỏi thời gian ?
Thời gian là bao lâu?   Chúng ta đã tụt hậu khá xa rồi, xin “mau với chứ, vội vàng lên với chứ”

Theo kinh nghiêm ở trên khắp thế giới thì người ta lập ra các Think Tank để quy tụ một số người đại khái có chung một cái nhìn về một vấn đề, những vị đó viết bài biên minh cho quan điểm của mình, tranh luân với các vị trong các Think Tank khác.  Trên thế giới hiện nay có trên một triệu Think Tank, Think Tank bên tả, bên hữu, Think Tank chuyên bàn về vấn đề ăn uống, Think Tank chuyên bàn về văn chương cổ điển Anh.  Một nhóm quyền lợi đặc biệt nào đó, một nhóm theo đuổi một ý nghĩ đặc biệt nào đó,  cũng thường có Think Tank để bênh vực chủ trương của nhóm mình.   Think Tank cho đủ mọi vấn đề, chắc cũng nhiều bằng các Ao bao bọc làng xóm VN.

(Tôi tạm dịch chữ Think Tank là Ao Tư Duy)

Ao Tư Duy thường được tổ chức dưới hình thức Hội Bất Vụ Lợi, sinh hoạt độc lập, mặc dầu được sự tài trợ của Chính Quyền hay các nhà kỹ nghệ hảo tâm.  Ở Mỹ Đại học lớn thường có các Ao Tư Duy bên cạnh, hay các báo lớn cũng đều có Ao Tư Duy riêng của họ.  Các nhà học giả hay trí thức trước khi ra giữ các chức vụ cao trong chính quyền thường viết trong các Ao Tư Duy.

Việt Nam cũng cần có nhiều Ao Tư Duy để các vị học sĩ, và bất cứ ai quan tâm, bơi lội trong đó, lý luận trong đó.  Và Ao nọ biện luận với Ao kia cho sáng vấn đề.  Cho dân chúng có dịp đánh giá. Vàng phải được thử lửa.

Trong chuyến về VN hồi tháng 8 mới đây, thì ngoài vấn đề tham nhũng tôi thấy vấn đề vô W.T.O và vấn đề cá Basa là đang được bàn luận nhiều.

Việc vô W.T.O thì hình như đã được nhất trí rồi, chỉ còn bàn luận về thời điểm mà thôi.  Vô sớm thì luật pháp sớm được nghiêm minh, nhung lại sợ kỹ nghệ trong nước chư sửa soạn kịp để cạnh tranh với quốc tế.  Nhiều cuộc hội thảo đã diễn ra sôi nổi để bàn luận về mọi khía cạnh của vấn đề.

Vụ cá Basa thì hình như các nhà nuôi cá đã chấp nhận thua cuộc phen nầy.  Và thắc mắc là những keo sau, nhất là vấn đề Lobby.  Giới Kỹ nghệ VN đã chấp nhận là phải có vấn đề lobby, cũng như phải có trung gian bán hàng  (nhưng hình như chưa ý thức toàn diện về vấn đề trung gian).

Trong một vài bàn luận thì tôi thấy trong nước hình như chưa đặt ra hay chưa đặt đúng tầm mức của sự liên hệ giữa Ao Tư Duy và vấn đề lobby.   Nếu không có cơ sở lý thuyết làm nền tảng thì vấn đề lobby dễ dàng trở thành hối lộ.  Tiến trình tìm hiểu nầy hy vọng sẽ được tiến hành nhanh chóng.

Hội Thảo, dạy học, du lịch… trong tất cả mỗi lần về tôi đều không gặp bất cứ một khó khăn nào, và lần nào tôi cũng được thân nhân và bạn bè đón tiếp rất nồng hậu, đầy tình thân yêu.  Các vị giáo sư và sinh viên thì phải nói là rất ân cần thân thiết. 

Xin trân trọng cảm tạ.

Cám ơn cái cối cái chày,

Cám ơn cái ban-công của căn nhà Tây hai tầng trên đường Phan Đình Phùng Hà Nội.

Nhân diện đào hoa tương ánh hồng.

 

Mark_03.gif (833 bytes) Go to top page

half_under_water_sw.gif (3365 bytes)

Home  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: hopthu@giaodiem.net