
(Để rộng đường dư luận của
quý độc giả, chúng tôi đăng lại bài Tiếng Gió Vọng Trúc...,
theo lời yêu cầu
tiếng gió vọng trúc
( BambooSounds )
Ðọc và Giới thiệu Sounds of the Bamboo Forest: Buddhist Churches of America in the Vietnamese Tradition by Lê Hữu Ðỗ
(Pittsburg: Dorrance Publishing, 2002), 218 trang.
* * *
Bất cứ văn minh, văn hóa nào
cũng vậy, không có một thể trạng bình yên nào có thể duy trì được lâu
dài - vì yên bình làm cho con người ta ngủ quên.
Cuộc sống phải được đánh thức, hoặc từ trên cao, hoặc
là từ dưới thấp. Các phong trào
truyền giáo là những công việc đánh thức con người từ trên cao: cái
nguyên tắc ở một bực thang thượng cấp vươn xuống để đánh thức con
người đang ngủ quên ở nấc thang phía dưới. Ðó là năng thức tinh thần
mà ở trình độ của con người ngày nay biến thành tình cảm và ý thức
tôn giáo.
Khi đọc Hành Trình và Truyền Giáo của Alexandre De
Rhodes (Bản Việt ngữ Hồng Nhuệ. Tủ Sách Ðại Kết, 1994) về những bút
ký của ông khi đi vào Việt nam rao giảng Thiên Chúa giáo từ 1624 đến
1645, người đọc không thể nào không cảm nhận và chia sẻ được, từ
những giòng chữ ghi lại những suy thức và nhận xét của người truyền
đạo về một thể trạng văn hóa và đời sống tâm linh, mà dưới mắt
người truyền giáo, phải được thay đổi.
Thiên Chúa giáo, qua ngã Công Giáo La Mã, đã đi vào văn minh Việt
nam bằng sức mạnh của biểu tượng. Từ
Thánh giá, từ hình ảnh Chúa Jesus, tôn giáo Tây phương này đã du nhập
và đánh thức những tâm hồn thơ dại, chất phác bằng một hệ thống biểu
tượng, nặng về cảm thụ (sensuality) và mang tính chắc mãn nhân danh
thánh linh. Trời Phật được thay bằng
Ðức Chúa Trời, thần linh được thay bằng biểu tượng nhân cách lịch sử
của Chúa Jesus, niềm tin về huyền nhiệm qua tín ngưỡng được thay vào
tình cảm tôn giáo có tổ chức, có đẳng cấp, có thẩm quyền nhân danh
cõi trên. Thêm vào đó là một hệ thống
biểu tượng mới: ngôn ngữ. Tiếng
Việt chúng ta, qua năng thức tôn giáo mới, đã bước vào một khúc rẽ
khác.
De Rhodes có lần (1641 ở Quảng
Nam) nói với một phụ nữ Việt theo đạo thờ Ông Bà, "Tôi đến nước
này để đem liều thuốc có bảo đảm cho người còn sống, miễn là họ
muốn dùng, còn về các vong linh người đã chết trong sai lầm, thì tôi chẳng
chữa chạy được gì, mà chỉ còn khóc lóc thương người xấu số,"
và ông thề với Chúa Trời của ông rằng ông đã nói sự thật (tr. 67). Nhưng hãy lắng nghe nội dung của tôn
giáo mới mà De Rhodes rao giảng về linh hồn và tội lỗi rằng, "Nếu
ông cầm một viên ngọc rất trắng rất trong, bất ngờ hòn ngọc đó rơi
xuống bùn và lấm bẩn hết cả. Nếu
ông đem rửa nó đi thì viên ngọc sẽ được trắng trong lại như trước...
Hồn bị dơ bẩn ở đó, thế nhưng khi được rửa tội thì nó không còn
dơ bẩn nữa, nó trở nên trong sáng và đẹp đẽ như mặt trời" (tr.
99). De Rhodes có thể đang giảng Kinh Pháp Hoa của đạo Phật hay là Minh Tâm Bửu Giám của đạo Nho. Cái khác có chăng chỉ là cái hối thúc, cái khẩn thiết, chắc
nịch, món ăn instant noodles mà văn minh Tây
phương cống hiến và cám dỗ - rằng hãy tin và ngươi sẽ được cứu tức
thì. Dân tộc và văn hóa Việt Nam từ
những bước chân của Alexandre De Rhodes đã chuyển qua một quá trình kinh
nghiệm mới về biểu tượng và ngôn ngữ.
Rượu cũ của Tam giáo nay được đổ vào bình mới của Thiên
Chúa Giáo La Mã. Lịch sử mang một năng lực mâu thuẫn mới, không còn
đơn giản như ngày xưa. Một lịch sử
Việt nam đứng giữa hai văn minh Ðông và Tây - mà phía đằng Ðông như là
phía của đất vườn để cho hạt giống phía Tây gieo trồng.
* * *
Bốn trăm năm sau, 1975-2002, một
sự gieo mầm văn hóa và tôn giáo mới đang xẩy ra. Lần này thì cái bàn cờ đã được chuyển
hướng: từ Ðông sang Tây. Khi người
Việt bước chân ào ạt đến Mỹ, họ tình cờ đem theo mình một truyền
thống Phật giáo. Không như tín đồ của các tôn giáo khác, người Phật
giáo chung, và Phật tử Việt nam nói riêng, ít mang tinh thần truyền giáo
(proselytism). Cực chẳng đả thì họ
mới nói chuyện tôn giáo của mình cho người khác nghe, và chỉ nói đến
khi nào được yêu cầu, và chỉ khi nào cần thiết. Phật giáo quan niệm rằng đời sống tâm
linh là năng lực tỉnh thức của nội tâm - hơn là sự tham dự vào giáo
điều và biểu tượng. Dù là vắng
bóng của biểu tượng và tín điều, thế nhưng con người Hoa kỳ, nhất là
thành phần trí thức, trung lưu, da trắng, lại tìm đến với Phật giáo,
nhất là truyền thống Phật giáo Tây tạng, Nhật bản, và ở một mức độ
nhỏ hơn, Trung hoa và Việt nam.
Phật giáo đến với người Mỹ
bằng con đường nhẹ nhàng - như tiếng gió của rừng trúc đánh thức con
người về lại cái thiên tính yên tĩnh của cái đã có sẵn. Trạch
đất long xà địa khả cư. Dã tình
chung nhật lạc vô dư (Không Lộ). Nếu có một hàm nghĩa thì đó là
tính phá chấp: bỏ bớt gánh nặng của tình cảm dính chặt với biểu tượng,
bỏ bớt tính nghi thức, giảm cấu trúc tổ chức, ý thức được bản chất
giáo điều, và không mắc vào tính chắc mãn của niềm tin về cái đúng
mà chỉ có tôn giáo của mình có - transcending
beyond the religious fanatical certainty. Ðạo
Phật như tiếng gió khẻ thổi qua những chiếc lá trong rừng, không nói
gì cả, không chuyên chở ý niệm hay tư tưởng.
Người đi qua khu rừng, nghe tiếng gió khẻ rung cánh lá, đến
lúc nào đó, họ sẽ tự thức dậy với cõi tâm thức Như Là - mà chỉ những
ai có căn cơ, có duyên nghiệp, có ý thức, sẽ phải nhận thức ra cho
chính mình.
Người có đạo Phật - trong
tinh thần phá chấp - cũng không nói với kẻ khác rằng mình là người Phật
giáo. Nếu bản thân mình hay con cái
họ yêu người Công giáo và phải "rửa tội" để theo tôn giáo của
người mình yêu thì mới được đi đến hôn nhân, thì người đạo Phật
cũng rất là hoan hỷ để làm, hay khuyến khích con mình như vậy. Ôi mà Chúa Phật thì cũng mong cho hai con hạnh
phúc thôi! Các Ngài đâu có ra đời
để xây những bức tường cản ngăn tình yêu.
Mà theo tôn giáo mới thì cũng tốt lắm vì bây giờ con còn có
thêm các đấng linh thiêng mới phù hộ cho.
Các bậc cha mẹ của đạo Phật thấy rằng tôn giáo, Chúa, Phật
cũng chỉ là tên gọi và biểu tượng. Cái
quan trọng là con người và đời sống nội tâm cho riêng mình.
Với tinh thần phá chấp đó,
Phật giáo muốn cho các tín đồ của tôn giáo khác tin thêm vào đạo truyền
thống đang có của họ và không cần phải theo đạo Phật nào mới cả. Rất nhiều tín đồ Công giáo và Tin lành
của người Mỹ, sau khi đến với đạo Phật, đã củng cố và hoan hỷ hơn
nữa về tôn giáo của mình. Nếu bạn
sống cuộc đời của một tín đồ Công giáo đúng nghĩa thì bạn là một
Phật tử - dù bạn không biết ông Phật là ai, không đến chùa, không đọc
kinh sách, không thiền định. Không
thuyết phục nhưng họ sẽ lắng nghe; không lên giọng nhưng người ta sẽ
nể trọng. Con đường sống Ðạo là
con đường rất khiêm tốn, rất vị tha, rất hòa ái và - quan trọng nhất
- biết tôn trọng tha nhân.
Làm sao để kể lại một lịch
sử khai đạo của Phật giáo ở Hoa kỳ mà không phải làm một công tác truyền giáo?
Hãy thử đọc cuốn Sounds of the Bamboo Forest của Lê Hữu Ðỗ. Cuốn sách này tiếp nối rất đơn sơ cái
tinh thần sử ký của cuốn How the Swans Came
to the Lake - A Narrative History of Buddhism in
America của Rick Fields (Boston: Shambala Publications, 1981). Là một người lớn lên trong tinh thần
và tình cảm Phật giáo, Lê Hữu Ðỗ làm nên tuyển tập này, như là một
tài liệu về một lịch sử truyền giáo. Tác
giả không giới thiệu gì về bối cảnh văn hóa và đời sống tinh thần
của người dân bản xứ, không nói gì về cái tương đắc giữa Phật giáo
Việt nam với người Mỹ, cái khác biệt giữa Phật giáo Việt nam và các
nguồn Phật giáo Á Ðông khác. Lê Hữu
Ðỗ lặng lẽ và tự nhiên, thong thả bước vào chuyện kể như là làm một
buổi thuyết trình bằng hình ảnh (slide show). Ðây là bài của thầy Thích
Nhất Hạnh, đây là nghiên cứu của thầy Thích Mãn Giác, đây là hình ảnh
của thầy Thích Thiên Ân, đây là danh sách các cơ sở Phật giáo Việt
nam, và đây là các bức hình của các ngôi chùa đã được xây ở khắp nước
Mỹ. Ðúng là một tập tài liệu lịch
sử. Những gì có thể rất là quen
thuộc trong những cuốn sách này sẽ trở nên rất quý giá khi cái Ðang Là
đã trở thành Cổ Tích.
Ðọc Sounds of Bamboo Forest mới thấy được cái
tinh thần lớn lao và vai trò quan trọng của Hòa thượng Thích Thiên Ân
trong lịch sử khai mở Phật giáo Việt nam tại Hoa kỳ. Ông là một nhân
cách lịch sử của Phật giáo - và ở một mức độ nhẹ nhàng và khiêm tốn
hơn, Thích Thiên Ân là một Alexandre De Rhodes của người Việt trên đất Mỹ
ở thế kỷ hai mươi. Alexandre De
Rhodes là một vĩ nhân dân tộc - một thành viên của văn hóa và con người
Việt nam. Cũng như thế, Thích Thiên
Ân là một vĩ nhân của văn hóa Mỹ. Cả
hai điều này chúng ta phải công nhận trong tinh thần bao dung và phá chấp.
Cả hai là những nhân cách lịch sử khi đời sống tinh thần của một
văn minh khác đến gieo giống mới vào một văn minh khác. Ðối với De
Rhodes thì Việt ngữ mà chúng ta đang có, for
better or for worse, là một ân huệ. Tiếc
rằng, sau đó không lâu, thực dân Pháp đã đến với Việt Nam không đúng
cung cách của một văn minh cao cấp. Và quá trình phản ứng của dân tộc
ta cũng không đúng với nhu cầu của thời đại. Ðể rồi tất cả đều
đi vào những vũng lầy lớn của lịch sử.
Chính trị và quyền lực đã phản bội lý tưởng con người và
tôn giáo mà De Rhodes đã sống suốt cuộc đời. Ân huệ, nếu không biết
tiếp nhận sẽ trở nên những nguyền rủa, đọa đày. Còn đối với Thiên
Ân ở Hoa Kỳ thì dân Mỹ đang được thừa hưởng một gia sản tinh thần
từ các cộng đồng Phật giáo nhỏ, rải rác khắp nơi ở xứ Cờ Hoa -
nơi mà những ngày cuối tuần, các thành phần người Mỹ bản địa đến
để thiền định và bàn về Phật Pháp mà vẫn là những tín đồ của tôn
giáo cũ. Ðây là một gia tài
"ngôn ngữ" tôn giáo mới - không tín điều, không biểu tượng, không
truyền giảng. Người Mỹ chắc là sẽ
có đủ trí tuệ để mà nuôi nấng ân huệ ngôn ngữ mới của Ðạo tỉnh
thức này - cũng như dân tộc Việt Nam đã tiếp nhận ân huệ Việt ngữ từ
De Rhodes.
Ðọc tác phẩm này của Lê Hữu
Ðỗ, chúng ta sẽ thấy nét đơn giản và sự thiếu sót của Sounds of Bamboo Forest - nhưng đó cũng có thể
là cái ưu điểm của cuốn sách. Cái
khuyết điểm của sách vở thuờng thì có hai mặt: một đằng thì nghèo về
ý tứ, mặt kia thì quá nặng về tư tưởng.
Làm sao để có thể viết sách, làm tài liệu một cách nghiêm
chỉnh, đúng trình độ học thuật để cho kẻ đọc, kẻ tham khảo tiếp
nhận được một giá trị sự kiện, hay là tri thức và tinh thần? Sự thành công của Sounds là một tuyển tập thuần dữ kiện.
Ðây là một sách tham khảo - và chỉ có thế. Ðó chính là món quà mà Lê
Hữu Ðỗ cống hiến được với công trình biên khảo này. (9/27/2003)

© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: hopthu@giaodiem.net