08_gdmau.jpg (3664 bytes)
bar_design_sets_blast_clr.gif (2526 bytes)
whiteball.gif (923 bytes) Nghiên cứu & đối thoại tháng 11 quý bốn năm 2003 whiteball.gif (923 bytes)

(Để rộng đường dư luận của quý độc giả, chúng tôi đăng lại bài Tiếng Gió Vọng Trúc..., theo lời yêu cầu của tác giả Nguyễn Hữu Liêm. Giao Điểm)

tiếng gió vọng trúc   ( BambooSounds )

 Nguyễn Hữu Liêm

Ðọc và Giới thiệu Sounds of the Bamboo Forest:  Buddhist Churches of America in the Vietnamese Tradition by Lê Hữu Ðỗ (Pittsburg: Dorrance Publishing, 2002), 218 trang.

                                                                                                                 * * *

Có khi trèo đỉnh cô phong ấy 
Một tiếng hô vang lạnh thấu trời.
(Không Lộ, Lê Hữu Ðỗ dịch)

Bất cứ văn minh, văn hóa nào cũng vậy, không có một thể trạng bình yên nào có thể duy trì được lâu dài - vì yên bình làm cho con người ta ngủ quên.   Cuộc sống phải được đánh thức, hoặc từ trên cao, hoặc là từ dưới thấp.  Các phong trào truyền giáo là những công việc đánh thức con người từ trên cao: cái nguyên tắc ở một bực thang thượng cấp vươn xuống để đánh thức con người đang ngủ quên ở nấc thang phía dưới. Ðó là năng thức tinh thần mà ở trình độ của con người ngày nay biến thành tình cảm và ý thức tôn giáo.

Khi đọc Hành Trình và Truyền Giáo của Alexandre De Rhodes (Bản Việt ngữ Hồng Nhuệ. Tủ Sách Ðại Kết, 1994) về những bút ký của ông khi đi vào Việt nam rao giảng Thiên Chúa giáo từ 1624 đến 1645, người đọc không thể nào không cảm nhận và chia sẻ được, từ những giòng chữ ghi lại những suy thức và nhận xét của người truyền đạo về một thể trạng văn hóa và đời sống tâm linh, mà dưới mắt người truyền giáo, phải được thay đổi.   Thiên Chúa giáo, qua ngã Công Giáo La Mã, đã đi vào văn minh Việt nam bằng sức mạnh của biểu tượng.  Từ Thánh giá, từ hình ảnh Chúa Jesus, tôn giáo Tây phương này đã du nhập và đánh thức những tâm hồn thơ dại, chất phác bằng một hệ thống biểu tượng, nặng về cảm thụ (sensuality) và mang tính chắc mãn nhân danh thánh linh.  Trời Phật được thay bằng Ðức Chúa Trời, thần linh được thay bằng biểu tượng nhân cách lịch sử của Chúa Jesus, niềm tin về huyền nhiệm qua tín ngưỡng được thay vào tình cảm tôn giáo có tổ chức, có đẳng cấp, có thẩm quyền nhân danh cõi trên.  Thêm vào đó là một hệ thống biểu tượng mới: ngôn ngữ.  Tiếng Việt chúng ta, qua năng thức tôn giáo mới, đã bước vào một khúc rẽ khác.

De Rhodes có lần (1641 ở Quảng Nam) nói với một phụ nữ Việt theo đạo thờ Ông Bà, "Tôi đến nước này để đem liều thuốc có bảo đảm cho người còn sống, miễn là họ muốn dùng, còn về các vong linh người đã chết trong sai lầm, thì tôi chẳng chữa chạy được gì, mà chỉ còn khóc lóc thương người xấu số," và ông thề với Chúa Trời của ông rằng ông đã nói sự thật (tr. 67).  Nhưng hãy lắng nghe nội dung của tôn giáo mới mà De Rhodes rao giảng về linh hồn và tội lỗi rằng, "Nếu ông cầm một viên ngọc rất trắng rất trong, bất ngờ hòn ngọc đó rơi xuống bùn và lấm bẩn hết cả.  Nếu ông đem rửa nó đi thì viên ngọc sẽ được trắng trong lại như trước... Hồn bị dơ bẩn ở đó, thế nhưng khi được rửa tội thì nó không còn dơ bẩn nữa, nó trở nên trong sáng và đẹp đẽ như mặt trời" (tr. 99).  De Rhodes có thể đang giảng Kinh Pháp Hoa của đạo Phật hay là Minh Tâm Bửu Giám của đạo Nho.  Cái khác có chăng chỉ  là cái hối thúc, cái khẩn thiết, chắc nịch, món ăn instant noodles mà văn minh Tây phương cống hiến và cám dỗ - rằng hãy tin và ngươi sẽ được cứu tức thì.  Dân tộc và văn hóa Việt Nam từ những bước chân của Alexandre De Rhodes đã chuyển qua một quá trình kinh nghiệm mới về biểu tượng và ngôn ngữ.   Rượu cũ của Tam giáo nay được đổ vào bình mới của Thiên Chúa Giáo La Mã. Lịch sử mang một năng lực mâu thuẫn mới, không còn đơn giản như ngày xưa.  Một lịch sử Việt nam đứng giữa hai văn minh Ðông và Tây - mà phía đằng Ðông như là phía của đất vườn để cho hạt giống phía Tây gieo trồng. 

                                                                                                     * * *

Bốn trăm năm sau, 1975-2002, một sự gieo mầm văn hóa và tôn giáo mới đang xẩy ra.  Lần này thì cái bàn cờ đã được chuyển hướng: từ Ðông sang Tây.  Khi người Việt bước chân ào ạt đến Mỹ, họ tình cờ đem theo mình một truyền thống Phật giáo. Không như tín đồ của các tôn giáo khác, người Phật giáo chung, và Phật tử Việt nam nói riêng, ít mang tinh thần truyền giáo (proselytism).  Cực chẳng đả thì họ mới nói chuyện tôn giáo của mình cho người khác nghe, và chỉ nói đến khi nào được yêu cầu, và chỉ khi nào cần thiết.  Phật giáo quan niệm rằng đời sống tâm linh là năng lực tỉnh thức của nội tâm - hơn là sự tham dự vào giáo điều và biểu tượng.  Dù là vắng bóng của biểu tượng và tín điều, thế nhưng con người Hoa kỳ, nhất là thành phần trí thức, trung lưu, da trắng, lại tìm đến với Phật giáo, nhất là truyền thống Phật giáo Tây tạng, Nhật bản, và ở một mức độ nhỏ hơn, Trung hoa và Việt nam.

Phật giáo đến với người Mỹ bằng con đường nhẹ nhàng - như tiếng gió của rừng trúc đánh thức con người về lại cái thiên tính yên tĩnh của cái đã có sẵn.  Trạch đất long xà địa khả cư.  Dã tình chung nhật lạc vô dư (Không Lộ). Nếu có một hàm nghĩa thì đó là tính phá chấp: bỏ bớt gánh nặng của tình cảm dính chặt với biểu tượng, bỏ bớt tính nghi thức, giảm cấu trúc tổ chức, ý thức được bản chất giáo điều, và không mắc vào tính chắc mãn của niềm tin về cái đúng mà chỉ có tôn giáo của mình có - transcending beyond the religious fanatical certainty. Ðạo Phật như tiếng gió khẻ thổi qua những chiếc lá trong rừng, không nói gì cả, không chuyên chở ý niệm hay tư tưởng.   Người đi qua khu rừng, nghe tiếng gió khẻ rung cánh lá, đến lúc nào đó, họ sẽ tự thức dậy với cõi tâm thức Như Là - mà chỉ những ai có căn cơ, có duyên nghiệp, có ý thức, sẽ phải nhận thức ra cho chính mình.

Người có đạo Phật - trong tinh thần phá chấp - cũng không nói với kẻ khác rằng mình là người Phật giáo.  Nếu bản thân mình hay con cái họ yêu người Công giáo và phải "rửa tội" để theo tôn giáo của người mình yêu thì mới được đi đến hôn nhân, thì người đạo Phật cũng rất là hoan hỷ để làm, hay khuyến khích con mình như vậy.  Ôi mà Chúa Phật thì cũng mong cho hai con hạnh phúc thôi!  Các Ngài đâu có ra đời để xây những bức tường cản ngăn tình yêu.   Mà theo tôn giáo mới thì cũng tốt lắm vì bây giờ con còn có thêm các đấng linh thiêng mới phù hộ cho.   Các bậc cha mẹ của đạo Phật thấy rằng tôn giáo, Chúa, Phật cũng chỉ là tên gọi và biểu tượng.  Cái quan trọng là con người và đời sống nội tâm cho riêng mình.

Với tinh thần phá chấp đó, Phật giáo muốn cho các tín đồ của tôn giáo khác tin thêm vào đạo truyền thống đang có của họ và không cần phải theo đạo Phật nào mới cả.  Rất nhiều tín đồ Công giáo và Tin lành của người Mỹ, sau khi đến với đạo Phật, đã củng cố và hoan hỷ hơn nữa về tôn giáo của mình.  Nếu bạn sống cuộc đời của một tín đồ Công giáo đúng nghĩa thì bạn là một Phật tử - dù bạn không biết ông Phật là ai, không đến chùa, không đọc kinh sách, không thiền định.  Không thuyết phục nhưng họ sẽ lắng nghe; không lên giọng nhưng người ta sẽ nể trọng.  Con đường sống Ðạo là con đường rất khiêm tốn, rất vị tha, rất hòa ái và - quan trọng nhất - biết tôn trọng tha nhân.

Làm sao để kể lại một lịch sử khai đạo của Phật giáo ở Hoa kỳ mà không phải làm một  công tác truyền giáo? 

Hãy thử đọc cuốn Sounds of the Bamboo Forest của Lê Hữu Ðỗ.  Cuốn sách này tiếp nối rất đơn sơ cái tinh thần sử ký của cuốn How the Swans Came to the Lake - A Narrative History of Buddhism in America của Rick Fields (Boston: Shambala Publications, 1981).   Là một người lớn lên trong tinh thần và tình cảm Phật giáo, Lê Hữu Ðỗ làm nên tuyển tập này, như là một tài liệu về một lịch sử truyền giáo.  Tác giả không giới thiệu gì về bối cảnh văn hóa và đời sống tinh thần của người dân bản xứ, không nói gì về cái tương đắc giữa Phật giáo Việt nam với người Mỹ, cái khác biệt giữa Phật giáo Việt nam và các nguồn Phật giáo Á Ðông khác.  Lê Hữu Ðỗ lặng lẽ và tự nhiên, thong thả bước vào chuyện kể như là làm một buổi thuyết trình bằng hình ảnh (slide show). Ðây là bài của thầy Thích Nhất Hạnh, đây là nghiên cứu của thầy Thích Mãn Giác, đây là hình ảnh của thầy Thích Thiên Ân, đây là danh sách các cơ sở Phật giáo Việt nam, và đây là các bức hình của các ngôi chùa đã được xây ở khắp nước Mỹ.  Ðúng là một tập tài liệu lịch sử.  Những gì có thể rất là quen thuộc trong những cuốn sách này sẽ trở nên rất quý giá khi cái Ðang Là đã trở thành Cổ Tích. 

Ðọc Sounds of Bamboo Forest mới thấy được cái tinh thần lớn lao và vai trò quan trọng của Hòa thượng Thích Thiên Ân trong lịch sử khai mở Phật giáo Việt nam tại Hoa kỳ. Ông là một nhân cách lịch sử của Phật giáo - và ở một mức độ nhẹ nhàng và khiêm tốn hơn, Thích Thiên Ân là một Alexandre De Rhodes của người Việt trên đất Mỹ ở thế kỷ hai mươi.  Alexandre De Rhodes là một vĩ nhân dân tộc - một thành viên của văn hóa và con người Việt nam.  Cũng như thế, Thích Thiên Ân là một vĩ nhân của văn hóa Mỹ.  Cả hai điều này chúng ta phải công nhận trong tinh thần bao dung và phá chấp. Cả hai là những nhân cách lịch sử khi đời sống tinh thần của một văn minh khác đến gieo giống mới vào một văn minh khác. Ðối với De Rhodes thì Việt ngữ mà chúng ta đang có, for better or for worse, là một ân huệ.  Tiếc rằng, sau đó không lâu, thực dân Pháp đã đến với Việt Nam không đúng cung cách của một văn minh cao cấp. Và quá trình phản ứng của dân tộc ta cũng không đúng với nhu cầu của thời đại. Ðể rồi tất cả đều đi vào những vũng lầy lớn của lịch sử.   Chính trị và quyền lực đã phản bội lý tưởng con người và tôn giáo mà De Rhodes đã sống suốt cuộc đời. Ân huệ, nếu không biết tiếp nhận sẽ trở nên những nguyền rủa, đọa đày. Còn đối với Thiên Ân ở Hoa Kỳ thì dân Mỹ đang được thừa hưởng một gia sản tinh thần từ các cộng đồng Phật giáo nhỏ, rải rác khắp nơi ở xứ Cờ Hoa - nơi mà những ngày cuối tuần, các thành phần người Mỹ bản địa đến để thiền định và bàn về Phật Pháp mà vẫn là những tín đồ của tôn giáo cũ.  Ðây là một gia tài "ngôn ngữ" tôn giáo mới - không tín điều, không biểu tượng, không truyền giảng.  Người Mỹ chắc là sẽ có đủ trí tuệ để mà nuôi nấng ân huệ ngôn ngữ mới của Ðạo tỉnh thức này - cũng như dân tộc Việt Nam đã tiếp nhận ân huệ Việt ngữ từ De Rhodes.

Ðọc tác phẩm này của Lê Hữu Ðỗ, chúng ta sẽ thấy nét đơn giản và sự thiếu sót của Sounds of Bamboo Forest - nhưng đó cũng có thể là cái ưu điểm của cuốn sách.  Cái khuyết điểm của sách vở thuờng thì có hai mặt: một đằng thì nghèo về ý tứ, mặt kia thì quá nặng về tư tưởng.   Làm sao để có thể viết sách, làm tài liệu một cách nghiêm chỉnh, đúng trình độ học thuật để cho kẻ đọc, kẻ tham khảo tiếp nhận được một giá trị sự kiện, hay là tri thức và tinh thần?  Sự thành công của Sounds là một tuyển tập thuần dữ kiện. Ðây là một sách tham khảo - và chỉ có thế. Ðó chính là món quà mà Lê Hữu Ðỗ cống hiến được với công trình biên khảo này. (9/27/2003)

  

Mark_03.gif (833 bytes) Go to top page

half_under_water_sw.gif (3365 bytes)

Home  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: hopthu@giaodiem.net