
Nguyễn Văn
Đối với người dân, nói đến
chiến tranh là nói đến những cái chết và thương tích. Nhưng giới chính trị gia thì thích nói đến
chiến thắng, ít khi nào họ nói đến những cái chết. Cuộc chiến Iraq lần thứ hai đã chấm dứt
– ít ra là theo tuyên bố của Tổng thống George W. Bush – nhưng cho đến
nay, ít ai biết con số thương vong trong quân đội Mĩ – Anh và nhất là
trong thường dân Iraq là bao nhiêu. Song,
vài báo cáo gần đây cho chúng ta thấy quân lính và thường dân phải trả
một “cái giá” rất đắt cho của cuộc chiến mà Mĩ và Anh gây ra.
Tính đến nay (31/10/2003), số lượng
lính Mĩ và Anh bị chết trong và sau cuộc chiến ở Iraq là 357 người. Có người cho rằng con số đó quá nhỏ,
nhưng nó vẫn thể hiện một sự thật: 357 mạng người đã tiêu phí và
đem lại tan tóc cho hàng ngàn gia đình vì cái gọi là “Chiến dịch tự
do”.
Trong khi con số tử vong được công
khai báo cáo thì con số thương tích vẫn nằm trong vòng bí mật, hay ít ra
là nó không công khai trên mặt báo. Người
ta biết chắc rằng con số này không nhỏ vì qua hệ thống bảo hiểm y tế
và quân sự, con số này lên đến hàng chục ngàn người. Quân lính bị thương trong cuộc chiến
Iraq thường được điều trị sơ khởi ngay tại Iraq và sau đó chuyển đến
Trung tâm y tế quân sự Landstuhl ở Đức (Landstuhl Regional Medical Center).
Trung tâm này chăm sóc cho tất cả các bệnh nhân quân đội trong chiến dịch
“Operation Iraqi Freedom” (cuộc chiến ở Iraq) và “Operation Enduring Freedom”
(cuộc chiến ở Afghanistan). Đây là
trung tâm y tế quân sự lớn nhất ngoài nước Mĩ, với 322 lượng giường
bệnh. Kể từ ngày 16/9/2003, trung tâm
Landstuhl đã điều trị khoảng 6,000 quân lính tham gia trong cuộc chiến ở
Iraq.
Từ trung tâm Landstuhl, các quân
lính bị thương được chuyển về trung tâm y tế Walter Reed Army Medical
Center ở Washington, DC. Và từ đây, họ
được chuyển đến các bệnh viện hay trung tâm y tế trên khắp nước
Mĩ. Do đó, rất khó mà thu thập con số
thương tích và hậu quả của vết thương sau khi các quân lính này được
“xuất viện”.
Theo tờ Washington Post (3/9/2003)
con số lính Mĩ bị thương trong và nhất là sau khi chiến tranh chấm dứt
càng ngày càng cao, cao đến nổi đêm nào cũng có máy bay vận tải C-17
(chuyên chở các quân lính bị thương) đáp xuống Căn cứ không quân
Andrews (Andrew Air Force Base) ở ngoại ô Washington. Tính từ khi cuộc chiến bắt
đầu, có hơn 6,000 quân lính bị thương đã được chuyển về Mĩ. Đó chỉ là con số thương tích trong chiến
tranh, chưa tính đến số người bị thương ngoài cuộc chiến và số bệnh
tâm thần.
Số phận những
binh sĩ bị thương này ra sao? Theo tờ
Boston Globe (4/8/2003), khoảng 1 trong số 7 người bị thương
trong cuộc chiến Iraq chết sau đó vài tháng.
(Trong Thế chiến thứ II, tỉ lệ tử vong sau khi bị thương là
25% đến 33%; trong chiến tranh Việt Nam và Hàn Quốc, tỉ lệ này là 24%). Như vậy, con số lính Mĩ bị chết sau khi
bị thương có thể lên đến 860 người.
Còn thương
vong trong quân lính và thường dân Iraq thì sao?
Không ai biết chính xác có bao nhiêu quân lính Iraq bị chết, nhưng
các quan sát viên chiến tranh ước tính rằng con số tử vong trong quân đội
Iraq chỉ tính chung quanh thành phố Baghdad là khoảng 2,300 người.
Còn con số thường dân bị
chết trong cuộc chiến? Cũng không ai
biết chính xác, vì chẳng ai thu thập thống kê.
Nhưng các nhà quan sát cho biết có ít nhất là 9,000 thường dân
Iraq đã bỏ mạng vì cuộc chiến do Mĩ và Anh cầm đầu. Cuộc chiến mà họ cho biết với vũ khí
chính xác do laser dẫn đường sẽ tối thiểu hóa con số tử vong. Và, trong khi các cuộc tấn công mang tính
du kích càng dồn dập, con số tử vong và thương vong trong thường dân
càng ngày càng cao hơn.
Người phát ngôn cho quân đội
Mĩ, Trung úy Kate Noble, cho biết lính Mĩ đã được huấn luyện kĩ càng để
tránh gây thương vong cho thường dân: “Chúng tôi hoạt động trong khuôn
khổ luật pháp chiến tranh cho phép và chúng tôi không cố ý tấn công vào
thường dân hay các cơ sở dân sự ... Song, tổn thất dân sự sẽ không thể
tránh khỏi, nhất là trong các cuộc đụng độ có cường độ cao.”
Liên quân Mĩ – Anh không giữ
hay thu thập thống kê về những tổn thất dân sự. Họ (Liên quân) cho biết thu thập những
thông tin như thế khó khăn lắm và không cách gì cập nhật hóa được. Những người phê bình cuộc chiến và đấu
tranh cho nhân quyền thì tố cáo Liên quân Mĩ – Anh là cố tình xem nhẹ những
tổn thất trong dân chúng Iraq. Không
thèm thu thập các thống kê về thương vong trong thường dân có nghĩa là
các giới quân sự Mĩ – Anh chẳng thèm quan tâm đến các cuộc chiến tương
lai, vì những con số đó có thể giúp cho họ cải tiến kế hoạch hành
quân sao cho số thương vong trong dân chúng phải tối thiểu.
Hamit Dardagan là một người chuyên
nghiên cứu về thương vong trong cuộc chiến Iraq. Trong trang nhà trên liên mạng có tên là
“Iraq Body Count”, Dardagan và đồng nghiệp dùng các báo cáo của báo chí
Tây phương về số lượng thường dân bỏ mạng trong cuộc chiến. Nhóm này còn cẩn thận chỉ đếm những
cái chết được ít nhất là hai báo đưa tin.
Kết quả? Từ 7,352 đến
9,152 thường dân Iraq đã bỏ mạng vì cuộc chiến.
Tại sao con số tử vong trong
thường dân Iraq quá cao như thế trong khi cuộc chiến chỉ kéo vài có vài
tuần? Câu trả lời cũng không khó mấy:
bởi vì lính Mĩ – Anh dùng các vũ khí mạnh, những vũ khí tàn sát hàng
loạt để đè bẹp kẻ thù và do đó làm tổn hại nhiều đến thường dân
sống trong những vùng bị ảnh hưởng. Đâu
phải lúc nào lính Mĩ – Anh cũng dùng bom do laser chỉ đường, họ còn
dùng xe bọc sắt, xe tăng, súng máy, tên lửa, v.v... tức là những vũ khí
không có độ chính xác cao để tấn công. Thủ
đoạn dùng hỏa lực lớn để đàn áp kẻ thù có hiệu quả cao trong chiến
trường nhưng rất nguy hiểm cho thường dân, nhất là thường dân trong
các thành phố có mật độ dân số cao.
Ngoài ra, các cuộc tấn công
mang tính du kích mà dân quân Iraq nhắm vào liên quân làm cho liên quân phản
ứng thêm quyết liệt. Điều này có
nghĩa là họ sẽ dùng tất cả những vũ khí gì có được để trả thù,
và nạn nhân thì vẫn là thường dân, thay vì du kích quân.
Trong suy nghĩ
của những người ham thích chiến tranh, cứ việc bỏ bom, bắn giết, thay
vì suy nghĩ một chính sách chiến lược lâu dài, là cách giải quyết tốt
nhất cho một cuộc khủng hoảng. Họ
chẳng cần quan tâm đến mạng sống con người, nhất là con người sống
trong nước được gọi là “thù địch”.
Ấy thế mà lãnh tụ các nước này không ngớt nói đến nhân
quyền, họ nói mà không biết thẹn hay xấu hổ gì cả. Đế quốc làm những gì mà nó muốn: vũ
lực và giết người.

© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: hopthu@giaodiem.net