08_gdmau.jpg (3664 bytes)
bar_design_sets_blast_clr.gif (2526 bytes)
whiteball.gif (923 bytes) Nghiên cứu & đối thoại tháng 11 quý bốn năm 2003 whiteball.gif (923 bytes)

   

Thương vong trong cuộc chiến Iraq

Nguyễn Văn

        Đối với người dân, nói đến chiến tranh là nói đến những cái chết và thương tích.  Nhưng giới chính trị gia thì thích nói đến chiến thắng, ít khi nào họ nói đến những cái chết.  Cuộc chiến Iraq lần thứ hai đã chấm dứt – ít ra là theo tuyên bố của Tổng thống George W. Bush – nhưng cho đến nay, ít ai biết con số thương vong trong quân đội Mĩ – Anh và nhất là trong thường dân Iraq là bao nhiêu.  Song, vài báo cáo gần đây cho chúng ta thấy quân lính và thường dân phải trả một “cái giá” rất đắt cho của cuộc chiến mà Mĩ và Anh gây ra.

        Tính đến nay (31/10/2003), số lượng lính Mĩ và Anh bị chết trong và sau cuộc chiến ở Iraq là 357 người.  Có người cho rằng con số đó quá nhỏ, nhưng nó vẫn thể hiện một sự thật: 357 mạng người đã tiêu phí và đem lại tan tóc cho hàng ngàn gia đình vì cái gọi là “Chiến dịch tự do”. 

        Trong khi con số tử vong được công khai báo cáo thì con số thương tích vẫn nằm trong vòng bí mật, hay ít ra là nó không công khai trên mặt báo.  Người ta biết chắc rằng con số này không nhỏ vì qua hệ thống bảo hiểm y tế và quân sự, con số này lên đến hàng chục ngàn người.  Quân lính bị thương trong cuộc chiến Iraq thường được điều trị sơ khởi ngay tại Iraq và sau đó chuyển đến Trung tâm y tế quân sự Landstuhl ở Đức (Landstuhl Regional Medical Center). Trung tâm này chăm sóc cho tất cả các bệnh nhân quân đội trong chiến dịch “Operation Iraqi Freedom” (cuộc chiến ở Iraq) và “Operation Enduring Freedom” (cuộc chiến ở Afghanistan).  Đây là trung tâm y tế quân sự lớn nhất ngoài nước Mĩ, với 322 lượng giường bệnh.  Kể từ ngày 16/9/2003, trung tâm Landstuhl đã điều trị khoảng 6,000 quân lính tham gia trong cuộc chiến ở Iraq. 

        Từ trung tâm Landstuhl, các quân lính bị thương được chuyển về trung tâm y tế Walter Reed Army Medical Center ở Washington, DC.  Và từ đây, họ được chuyển đến các bệnh viện hay trung tâm y tế trên khắp nước Mĩ.  Do đó, rất khó mà thu thập con số thương tích và hậu quả của vết thương sau khi các quân lính này được “xuất viện”.

         Theo tờ Washington Post (3/9/2003) con số lính Mĩ bị thương trong và nhất là sau khi chiến tranh chấm dứt càng ngày càng cao, cao đến nổi đêm nào cũng có máy bay vận tải C-17 (chuyên chở các quân lính bị thương) đáp xuống Căn cứ không quân Andrews (Andrew Air Force Base) ở ngoại ô Washington. Tính từ khi cuộc chiến bắt đầu, có hơn 6,000 quân lính bị thương đã được chuyển về Mĩ.  Đó chỉ là con số thương tích trong chiến tranh, chưa tính đến số người bị thương ngoài cuộc chiến và số bệnh tâm thần.

            Số phận những binh sĩ bị thương này ra sao?  Theo tờ Boston Globe (4/8/2003), khoảng 1 trong số 7 người bị thương trong cuộc chiến Iraq chết sau đó vài tháng.   (Trong Thế chiến thứ II, tỉ lệ tử vong sau khi bị thương là 25% đến 33%; trong chiến tranh Việt Nam và Hàn Quốc, tỉ lệ này là 24%).  Như vậy, con số lính Mĩ bị chết sau khi bị thương có thể lên đến 860 người. 

            Còn thương vong trong quân lính và thường dân Iraq thì sao?   Không ai biết chính xác có bao nhiêu quân lính Iraq bị chết, nhưng các quan sát viên chiến tranh ước tính rằng con số tử vong trong quân đội Iraq chỉ tính chung quanh thành phố Baghdad là khoảng 2,300 người. 

         Còn con số thường dân bị chết trong cuộc chiến?  Cũng không ai biết chính xác, vì chẳng ai thu thập thống kê.   Nhưng các nhà quan sát cho biết có ít nhất là 9,000 thường dân Iraq đã bỏ mạng vì cuộc chiến do Mĩ và Anh cầm đầu.  Cuộc chiến mà họ cho biết với vũ khí chính xác do laser dẫn đường sẽ tối thiểu hóa con số tử vong.  Và, trong khi các cuộc tấn công mang tính du kích càng dồn dập, con số tử vong và thương vong trong thường dân càng ngày càng cao hơn. 

        Người phát ngôn cho quân đội Mĩ, Trung úy Kate Noble, cho biết lính Mĩ đã được huấn luyện kĩ càng để tránh gây thương vong cho thường dân: “Chúng tôi hoạt động trong khuôn khổ luật pháp chiến tranh cho phép và chúng tôi không cố ý tấn công vào thường dân hay các cơ sở dân sự ... Song, tổn thất dân sự sẽ không thể tránh khỏi, nhất là trong các cuộc đụng độ có cường độ cao.”

         Liên quân Mĩ – Anh không giữ hay thu thập thống kê về những tổn thất dân sự.  Họ (Liên quân) cho biết thu thập những thông tin như thế khó khăn lắm và không cách gì cập nhật hóa được.  Những người phê bình cuộc chiến và đấu tranh cho nhân quyền thì tố cáo Liên quân Mĩ – Anh là cố tình xem nhẹ những tổn thất trong dân chúng Iraq.  Không thèm thu thập các thống kê về thương vong trong thường dân có nghĩa là các giới quân sự Mĩ – Anh chẳng thèm quan tâm đến các cuộc chiến tương lai, vì những con số đó có thể giúp cho họ cải tiến kế hoạch hành quân sao cho số thương vong trong dân chúng phải tối thiểu.

        Hamit Dardagan là một người chuyên nghiên cứu về thương vong trong cuộc chiến Iraq.  Trong trang nhà trên liên mạng có tên là “Iraq Body Count”, Dardagan và đồng nghiệp dùng các báo cáo của báo chí Tây phương về số lượng thường dân bỏ mạng trong cuộc chiến.  Nhóm này còn cẩn thận chỉ đếm những cái chết được ít nhất là hai báo đưa tin.   Kết quả?  Từ 7,352 đến 9,152 thường dân Iraq đã bỏ mạng vì cuộc chiến.

         Tại sao con số tử vong trong thường dân Iraq quá cao như thế trong khi cuộc chiến chỉ kéo vài có vài tuần?  Câu trả lời cũng không khó mấy: bởi vì lính Mĩ – Anh dùng các vũ khí mạnh, những vũ khí tàn sát hàng loạt để đè bẹp kẻ thù và do đó làm tổn hại nhiều đến thường dân sống trong những vùng bị ảnh hưởng.  Đâu phải lúc nào lính Mĩ – Anh cũng dùng bom do laser chỉ đường, họ còn dùng xe bọc sắt, xe tăng, súng máy, tên lửa, v.v... tức là những vũ khí không có độ chính xác cao để tấn công.  Thủ đoạn dùng hỏa lực lớn để đàn áp kẻ thù có hiệu quả cao trong chiến trường nhưng rất nguy hiểm cho thường dân, nhất là thường dân trong các thành phố có mật độ dân số cao.

         Ngoài ra, các cuộc tấn công mang tính du kích mà dân quân Iraq nhắm vào liên quân làm cho liên quân phản ứng thêm quyết liệt.  Điều này có nghĩa là họ sẽ dùng tất cả những vũ khí gì có được để trả thù, và nạn nhân thì vẫn là thường dân, thay vì du kích quân. 

            Trong suy nghĩ của những người ham thích chiến tranh, cứ việc bỏ bom, bắn giết, thay vì suy nghĩ một chính sách chiến lược lâu dài, là cách giải quyết tốt nhất cho một cuộc khủng hoảng.  Họ chẳng cần quan tâm đến mạng sống con người, nhất là con người sống trong nước được gọi là “thù địch”.   Ấy thế mà lãnh tụ các nước này không ngớt nói đến nhân quyền, họ nói mà không biết thẹn hay xấu hổ gì cả.  Đế quốc làm những gì mà nó muốn: vũ lực và giết người.

 

Mark_03.gif (833 bytes) Go to top page

half_under_water_sw.gif (3365 bytes)

Home  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: hopthu@giaodiem.net